Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Tè - huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La. - Pdf 29

1

I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM Vè TH CHM Tờn ti:
Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
tại xã Mờng Tè - huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Phỏt trin nụng thụn
Lp : K42 - PTNT
Khoa : KT&PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn: ThS. Lnh Ngc Tỳ

Sinh viên thực tập Vì Thị Châm
3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra 21
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Mường Tè năm 2013 25
Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả đạt được của ngành trồng trọt 31
Bảng 4.3: Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các điểm
nghiên cứu năm 2013 36
Bảng 4.4: Đóng góp của phụ nữ trong sản xuất lâm nghiệp 39
Bảng 4.5: Đóng góp của phụ nữ trong hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch
vụ 40
Bảng 4.6: Người đưa ra quyết định trong các khâu trồng trọt, chăn nuôi, kinh
doanh- dịch vụ 42
Bảng 4.7: Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình ở các nhóm hộ điều tra 45
Bảng 4.8: Quyền kiểm soát kinh tế và tài sản của phụ nữ ở các hộ điều tra 48
Bảng 4.9: Thời gian làm nội trợ và nghỉ ngơi của phụ nữ 52
Bảng 4.10: Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công
cuộc phát triển 57

Trung cấp - Cao đẳng - Đại học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân

6

MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1

1.2. Mục đích nghiên cứu 2

1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4. Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở khoa học 4

2.1.1. Giới tính và giới 4

2.1.3. Khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 6

2.2. Cơ sở thực tiễn 7


3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 21

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 22

7

4.1.1. Điều kiện tự nhiên 22

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26

4.1.3. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn xã Mường Tè 32

4.1.4. Tình hình chung ở các nhóm hộ điều tra 33

4.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ ở các nhóm hộ điều tra năm
2013 35

4.2.1. Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông lâm nghiệp, và dịch vụ 35

4.2.2. Vai trò chăm sóc và tái sản xuất sức lao động của phụ nữ trên địa bàn
nghiên cứu 44

4.2.3. Vai trò của phụ nữ trong quan tiếp cận các thông tin, khoa học kỹ thuật
tiến bộ và kiểm soát nguồn lực 46

4.3. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát

5.1. Kết luận 63

5.2. Khuyến nghị 64

5.2.1. Đối với Nhà nước 64

8

5.2.2. Đối với các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương 64

5.2.3. Đối với người nông dân 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những lao động
trong xã hội bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho
xã hội, làm phong phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của
mình trong các lĩnh vực trong đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt
động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi
sống gia đình. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo
nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc
nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ.
Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng
đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ.

yêu cầu ngày càng cao về kiến thức, trình độ, năng lực đối với mỗi người dân
nói chung và phụ nữ nói riêng.

Xã Mường Tè là một xã thuộc huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La với hầu hết
là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây đời sống của
người dân trong xã được cải thiện vì vậy vấn đề giới cũng được quan tâm
hơn. Người phụ nữ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hộ gia đình,
họ được quyền tham gia quyết định các công việc lớn và được chia sẻ các
công việc gia đình nhiều hơn. Qua tìm hiểu các lĩnh vực liên quan đến phụ nữ
nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ: Vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay như thế nào? vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ra sao? giải pháp nào tháo gỡ
những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ. Xuất phát từ
thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ tại xã Mường Tè huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La”, với mong
muốn có cái nhìn tổng thể về tầm quan trọng của phụ nữ trong việc phát triển
kinh tế hộ gia đình, từ đó có các giải pháp để phụ nữ ngày càng có cơ hội hội
nhập vào cộng đồng và có tiếng nói trong gia đình cũng như ngoài xã hội,
nâng cao trình độ hiểu biết và khả năng tiếp cận của phụ nữ.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được thực trạng về vai trò của người phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương trong thời gian qua. Từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia
đình ở xã trong thời gian tới.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn xã.
3

- Nghiên cứu được vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ ở
địa phương.

khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa
khác và có thể thay đổi theo thời gian [1],[5].
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò,
trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến
vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam
và nữ trong bối cảnh cụ thể [1],[5].
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội
của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay
đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. Giới là sản
phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo
công bằng trong xã hội.
2.1.2.2. Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: Được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình
thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội [4],[5].
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi
giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh
học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và
tương lai như: Nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm
công việc nội trợ, vai trò này hầu như của người phụ nữ [1],[4].
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện
các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng [4],[5].
5

2.1.2.3. Nhu cầu giới và bình đẳng giới
Hiện nay nhu cầu của giới rất đa dạng và phong phú tùy thuộc vào điều
kiện tự nhiên từng vùng miền, từng cộng đồng cũng như điều kiện kinh tế, xã
hội, văn hóa, chính trị tại địa phương [1],[4].
* Nhu cầu giới thực tế

người phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) được coi là người đầu tiên đặt
vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ. Điểm hạn chế của cách
tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được
đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù [13],[15].
2.1.3. Khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
2.1.3.1. Khái niệm hộ
Có rất nhiều quan niệm khác nhau định nghĩa thế nào là hộ:
- “Hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, gồm những
người cùng chung huyết tộc và những người làm công” [3].
- “Hộ là một nhóm người chung một huyết tộc, hay không cùng chung
huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một
ngân quỹ” [3].
- “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động
thông qua việc tổ chức thu nhập chung” [3].
- “Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bào tồn chính bản thân họ và cộng đồng”.
2.1.3.2. Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa
rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và những hoạt động phi nông nghiệp ở
nông thôn. Sự phân định hoạt động liên quan và không liên quan đến nông
nghiệp trong các hoạt động phi nông nghiệp là khó do vậy nảy sinh khái niệm
“hộ nông dân” [3],[15].
Hộ nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các
nguồn lực của hộ nông dân là đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao
động…, được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung
sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và
mọi quyết định đều dựa trên ý kiếm chung của các thành viên và người lớn
trong gia đình.
Đặc điểm hộ nông dân: Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là
một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và

tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình. Cùng với chồng, người vợ cũng trở
thành người tạo ra nguồn thu nhập chính. Ở nông thôn, khi mà người chồng đi
làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao động
chính, họ là chủ thế chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn, ở thành
phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ. Và khi là người
làm trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng
8

nghiệp nam. Hiện nay, thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người
đóng vai trò quan trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ [10].
2.2.1.2. Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình
Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăm sóc các thành
viên trong gia đình. Nhiều quan niệm cho rằng đây là những việc vặt và
không quan trọng. Đây cũng chính là lí do mà vai trò và địa vị của người phụ
nữ bị hạ thấp, là cơ sở căn bản tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ. Trong nền
văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của đại gia đình, tính gia trưởng của
đàn ông được đề cao. Người phụ nữ trong các đại gia đình chỉ là những nhân
vật phụ thuộc và vai trò của họ hết sức mờ nhạt. Gánh nặng công việc nội trợ
vẫn đè lên vai người phụ nữ và hầu như chưa có sự chia sẻ của người chồng,
người nam giới [7],[10].
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ
nông thôn phải làm việc 8 - 16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và
chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ
trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày. Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có
những dịch vụ và trang thiết bị gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho
công việc gia đình gấp 1,5lần so với nam giới [11].
Trong việc nuôi dạy con cái, phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn. Phần lớn các
công việc cho ăn, chăm sóc, dạy học thường do người mẹ đảm nhận, nhất là
thời kỳ em bé còn nhỏ. Sức khỏe và trình độ cũng như kiến thức của người
mẹ giúp cho việc nuôi dạy con cái tốt hơn. Phụ nữ cũng được giao trách

- Tiếp cận vốn:
Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tín dụng vì
có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống và phi chính thống. Là người tham
gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cũng tham gia vào các
quyết định phát triển của gia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong
việc sử dụng vốn và tiết kiệm. Thông qua sự ủy thác của Ngân hàng chính sách
xã hội, hội phụ nữ các địa phương đã thực hiện việc cho vay vốn tới các hội viên
kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi [13,[14].
- Tiếp cận với KHKT:
Sự tiếp cận KHKT thông qua hệ thống khuyến nông nhà nước và
khuyến nông tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đối với phụ nữ nông
thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn. Ngoài công việc sản xuất kinh
doanh, phụ nữ còn phải làm công việc gia đình và tham gia vào các hoạt động
khác. Quỹ thời gian không cho phép họ tham gia vào các khóa tập huấn dài
ngày hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đi lại.
10

Thường thì những ý kiến họ nhận được từ các khóa tập huấn có thể
áp dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh
doanh hay nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến khóa tập huấn thường
không chú ý nghe hay tham gia bởi họ nghĩ là họ biết hết. Sau đó, họ lại
không truyền đạt những gì họ học được cho vợ, con. Những người phụ nữ
có trình độ học vấn cao, có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật
tốt hơn. Tuy nhiên, trình độ của phụ nữ nông thôn thấp khiến việc tiếp cận
KHKT của họ bị hạn chế.
- Tiếp cận thông tin:
Vì quá bận bịu với công việc nên việc tiếp cận với các nguồn thông tin
của phụ nữ nông thôn còn khó khăn, chủ yếu thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng, họi họp, ở chợ, những dịp gặp nhau hoặc vào thời gian cùng
làm chung. Điều kiện kinh tế của gia đình và trình độ học vấn của phụ nữ

dụng chỉ tiêu thu nhập của phụ nữ so với nam giới. Phần trăm thu nhập do
phụ nữ tạo ra càng lớn thì vai trò của họ càng được khẳng định trong gia đình
họ. Họ không chỉ chăm sóc con cái, chăm lo nhà cửa mà còn mang lại thu
nhập cho gia đình. Ngày nay người phụ nữ có quyền tham gia vào các quyết
định của gia đình, các công việc kinh doanh buôn bán. Mặt khác, phần trăm
phụ nữ tham gia các hoạt động sản xuất và gia đình thể hiện vai trò của họ
trong việc nâng cao mức sống gia đình và của toàn xã hội.
2.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ nông thôn
2.2.3.1. Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở nông thôn
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á nên còn lưu giữ rất
nhiều những phong tục tập quán kể cả những phong tục cổ hủ lạc hậu, ở nông
thôn, nơi mà sự tiếp cận của cơ chế thị trường rất chậm, văn minh thường đến
sau cùng, nên những tư tưởng “trọng nam khinh nữ” có cơ hội cản trở phụ nữ
nông thôn tham gia vào các hoạt động xã hội, người dân không dám mạnh
bạo làm ăn, hạn chế tính năng động sáng tạo và đương nhiên cản trở vai trò
của người phụ nữ. Đặc biệt, đối với các dân tộc thiểu số, nơi mà quan niệm về
giới và vai trò của giới vẫn có xu hướng đề cao vai trò của nam giới hơn. Họ
cho rằng chỉ nam giới mới có khả năng đảm đương được các công việc được
xem là quan trọng của gia đình, cộng đồng và xã hội [6].
Ngoài gánh nặng công việc gia đình người phụ nữ còn bị cộng đồng đối
xử bất bình đẳng, họ rất ít khi có cơ hội tham gia các hoạt động, hưởng thụ
văn hóa tinh thần và tiếp cận các dịch vụ thông tin. Công việc chính của
12

người phụ nữ được thừa nhận là chăm sóc con cái, nội trợ, luôn lệ thuộc vào
chồng và con trai. Còn các hoạt động học tập, thi cử và quản lí đất nước là do
nam giới chi phối. Kết quả là người phụ nữ không biết đến hoặc không thể
thực hiện được quyền của họ đã được pháp luật công nhận [12].
2.2.3.2. Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của người phụ nữ

con cái và trách nhiệm chăm lo việc nhà. Do vậy, mà phụ nữ ít có điều kiện
tiếp xúc với các nguồn sách báo, thông tin. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến
khả năng nhận thức và hiểu biết xã hội. Ở nhiều vùng xa xôi hẻo lánh, người
dân ít có cơ hội tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin
khác. Do vậy, mà cơ hội để phụ nữ giao tiếp rộng, tham gia hội họp để bắt
thông tin cũng rất hiếm.
2.2.3.5. Yếu tố chủ quan
Một yếu tố không thể không nhắc đến ảnh hưởng đến vai trò của phụ
nữ đó là nguyên nhân chủ quan do chính họ gây ra. Chính họ cũng cho rằng
những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…, là công việc của người
phụ nữ, như vậy vô hình chung họ công nhận cái định kiến của xã hội, tự trói
buộc mình để rồi công việc gia đình đè lên đôi vai của họ, họ không còn thời
gian cho việc tham gia các hoạt động xã hội. Họ tự đánh mất vai trò và vị trí
của mình trong gia đình và xã hội [13].
Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự
phát triển của nhân loại. Song có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của
họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động kjoong tốt
khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của
sự nghèo đói và bất bình đẳng. Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối
với phụ nữ trên toàn thế giới. Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động
xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại.
2.2.4. Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với phát triển
của phụ nữ
Chăm lo quyền lợi của phụ nữ và đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ
nữ là quan điểm xuyên suốt lịch sử 80 năm hoạt động của Đảng và 65 năm
hoạt động của Nhà nước và suốt cả cuộc đời của Bác Hồ. Luận cương chính
trị năm 1930 của Đảng khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ và sự nghiệp
giải phóng phụ nữ là một trong 10 nhiệm vụ quan trọng của Đảng”. Năm
1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời, tại điều 9 của hiến pháp nêu rõ: “Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi

3. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật, chính sách, chương trình, dự án về
bình đẳng giới và các giải pháp phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới nhằm tạo
điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ.
a) Rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, xây dựng chính
sách khuyến khích phát triển gia đình điển hình gương mẫu theo tiêu chí gia
đình văn hóa.
15

b) Xây dựng hệ thống các mục tiêu quốc gia, chỉ tiêu về bình đẳng giới,
công cụ theo dõi, đánh giá vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật.
4. Nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thông
qua tăng cường sự tham gia lãnh đạo và quản lí của phụ nữ, thực hiện nguyên
tắc bình đẳng giữa nam và nữ, lồng ghép cơ chế, chính sách cụ thể về độ tuổi
trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức nữ.
a) Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo, y tế, pháp luật cho
phụ nữ và trẻ em gái.
b) Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ nữ.
c) Xây dựng và thực hiện chính sách đặc thù đối với lao động nữ
làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đạo và là người
dân tộc thiểu số.
d) Xây dựng cơ chế đảm bảo thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của phụ
nữ vào các quá trình ra quyết định và tăng tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp.
5. Quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung
ương và địa phương trong việc bảo đảm cho nữ cán bộ, công chức tham gia
quản lý Nhà nước.
a) Nghiên cứu đánh giá việc thực hiện Nghị định số 19/2003/NĐ-CP
ngày 07/03/2003 của Chính phủ quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính

nghèo trên thế giới và 10% ghế quốc hội [15].
Châu Á được xác định là trung tâm kinh tế lớn trong tương lai, nhưng
vẫn còn nhiều nước trong tình trạng bị nghèo đói đe dọa, ở Bangladesh có
80% phụ nữ bị mù chữ, ở một số nước Đông Nam Á như Indonesia,
Philippin, Thái Lan mỗi năm có tới trên 600.000 người đi lao động nước
ngoài, 1,46triệu lao động đi di cư thì 70% là giúp việc gia đình. Đội lốt các
trung tâm giới thiệu việc làm cho phụ nữ ra nước ngoài làm việc có nhiều kẻ
lợi dụng lừa lấy tiền hoặc buôn bán phụ nữ. Do không có việc làm nhiều trẻ
em gái và phụ nữ có thể do chủ quan hoặc khách quan đưa đẩy trở thành gái
mại dâm, họ là nguyên nhân để các dịch bệnh lan rộng đồng thời cũng là nạn
nhân của sự nghèo đói, thiếu hiểu biết, thiếu việc làm, tiếp cận các nguồn lực
bị hạn chế, quyền hạn không bình đẳng, địa vị kinh tế xã hội thấp hơn so với
nam giới. Do đó, đã làm hạn chế khả năng tác động đến các quyết định trong
cộng đồng cũng như ở cấp quốc gia. Phụ nữ rất ít khi có mặt trong quốc hội
và hội đồng nhân dân địa phương và hầu như chưa có sự tiến bộ gì đáng kể
trong lĩnh vực này [15].
17

Một vấn đề nóng bỏng trong xã hội hiện nay là nạn bạo lực gia đình ở
Châu Mỹ La Tinh, nạn nhân của bạo lực gia đình và tình dục đối với phụ nữ
chiếm nhiều hơn bạo lực chính trị. Tại Mỹ cứ 15 giây lại có một phụ nữ bị
đánh đập, ở Ai Cập phụ nữ bị thương tích được đưa đến các cơ quan cơ sở
chữa trị chấn thương chủ yếu nguyên nhân do chồng hành hung. Tại
Bangwladesh, số phụ nữ bị chồng giết chiếm một nửa số vụ giết người trong
cả nước. Thực tế cho thấy chúng ta phải nỗ lực hành động mạnh hơn nữa “Vì
sự tiến bộ của phụ nữ” trên phạm vi toàn cầu vì hòa bình ổn định và phát triển
của nhân loại [10].
2.2.6. Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia
đình và trong hoạt động xã hội
Trong lịch sử dân tộc người phụ nữ Việt Nam luôn là một lực lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status