Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã ngọc động huyện quảng uyên tỉnh cao bằng - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ THỊ YẾN

Tên đề tài:

“VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ NGỌC ĐỘNG HUYỆN QUẢNG UYÊN
TỈNH CAO BẰNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa
: Kinh tế & Phát triển nông thôn
Khóa học
: 2010 - 2014

Thái Nguyên – 2014


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp Đại học em đã
nhận được sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong
và ngoài trường. Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo của các thầy,
cô giáo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn Ủy
ban nhân dân xã Ngọc Động - huyện Quảng Uyên - tỉnh Cao Bằng đã giúp đỡ
em hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.

các nhóm hộ điều tra ở xã năm 2013 .............................................. 44
Bảng 4.13: Sự tham gia của phụ nữ trong các tổ chức chính quyền và đoàn thể . 47
Bảng 4.14: Thực trạng phụ nữ trong các nhóm hộ tham gia các cuộc hội họp ở
địa phương ...................................................................................... 47
Bảng 4.15: Trình độ văn hóa của phụ nữ so với nam giới .............................. 50
Bảng 4.16: Mức độ tiếp cận thông tin của phụ nữ .......................................... 51


DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ĐVT

: Đơn vị tính

KHHGĐ

: Kế hoạch hóa gia đình

KHKT

: Khoa học kỹ thuật

TC-CĐ-ĐH : Trung cấp - Cao đẳng - Đại học
THPT

: Trung học phổ thông

THCS

: Trung học cơ sở

2.1.4. Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế ..................................... 5
2.1.5. Một số lý luận chung về giới và giới tính ............................................... 6
2.1.6. Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội............................................ 8
2.1.7. Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình ....................................................................................................... 11
2.1.8. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ gia đình ........................................................................................... 12
2.1.9. Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển
của phụ nữ ....................................................................................................... 14
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ......................................................................... 16
2.2.1. Tình hình thay đổi của phụ nữ trên thế giới .......................................... 16
2.2.2. Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình và
trong hoạt động xã hội..................................................................................... 17
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 19


3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 19
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 19
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 19
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 19
3.3.2. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu ...................................................... 20
3.3.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ................................................ 21
3.3.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu .......................................................... 21
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 23
4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ................................................................... 23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 23
4.1.2. Một số đặc điểm chung về kinh tế xã hội và nhân văn của

sống con người. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng
tạo nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc
nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ.
Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng
đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ.
Đảng và nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã
hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Ở khu vực nông thôn, cùng với việc
tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình, mỗi phụ nữ còn
tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế
xã hội. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người
thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình chăm lo gia đình, góp phần
xây dựng một gia đình hạnh phúc. Đa số phụ nữ thời nay đã biết tiếp cận cơ
chế mới, biết ứng dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ mới trong sản xuất nông
nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn. Trong những năm gần đây một số phụ nữ
nông thôn đã trở thành nhà doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất ở nông hộ,
họ là những người đi đầu trong phong trào nữ nông dân trong việc CNH-HĐH
nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi
nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí vai trò của họ trong các
quan hệ xã hội và trong gia đình.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phụ nữ Việt Nam đã
chứng tỏ sức mạnh và khả năng của giới mình không chỉ thay nam giới trong
sản xuất và quản lý đất nước, giữ những vị trí lãnh đạo quan trọng mà còn


2

trực tiếp tham gia vào lực lượng vũ trang bảo vệ tổ quốc góp phần quan trọng
không thể thiếu được trong công cuộc giành và bảo vệ đất nước.
Song trong giai đoạn hiện nay phụ nữ đang đứng trước không ít khó

3

1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về vấn đề giới và vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế hộ gia đình nói riêng.
- Đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình ở địa phương.
- Tìm hiểu được những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ và khả
năng đóng góp của phụ nữ tại xã trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong
thời gian tới.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong thời gian tới.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Giúp cho sinh viên bổ xung kiến thức thực tế, nâng cao năng lực, rèn
luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học.
+ Đề tài cũng được coi là 1 tài liệu tham khảo cho nhà trường, khoa,
các sinh viên khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Những nghiên cứu và kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho các tổ
chức của nhà nước, các tổ chức xã hội và người dân tham khảo trong việc phát
triển kinh tế hộ gia đình nói riêng cũng như phát triển kinh tế xã hội nói chung.
+ Thấy được tầm quan trọng của phụ nữ và những mặt hạn chế của phụ
nữ khi tham gia vào xã hội để có giải pháp khắc phục.


4

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

5

+ Chức năng tiêu dùng chức năng này liên quan chặt chẽ với chức năng
kinh tế, làm tiền đề cơ sở cho nhau.
+ Chức năng tái sinh nguồn nhân lực
+ Chức năng giáo dục đào tạo
2.1.3. Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân
Khái niệm: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp
theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông
nghiệp ở nông thôn. Sự phân định hoạt động liên quan và không liên quan đến
nông nghiệp trong các hoạt động phi nông nghiệp là khó do vậy nảy sinh khái
niệm “ hộ nông dân ”.
Theo Ellis-1988 thì hộ nông dân là các hộ, thu hoạch các phương tiện
sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại,
năm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng
bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn
chỉnh không cao.
Như vậy, hộ nông dân khác với các hộ khác và khác với doanh nghiệp
nông nghiệp ở quy mô sản xuất, nguồn lao động và mục tiêu sản xuất
* Đặc điểm của hộ nông dân
- Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng.
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn. Trình độ này quyết
định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trưòng.
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia hoạt động
phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau (Trần Lệ Bích Hồng, 2013)[4].
2.1.4. Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đôi khi được coi như nhau nhưng thực
chất chúng có những nét khác nhau và có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn
phát triển kinh tế phải có sự tăng trưởng kinh tế, nhưng không phải sự tăng

thiên chức của họ trong gia đình và trong cộng đồng. Do đó họ có tầm quan
trọng khác nhau và họ đảm nhận những khả năng xã hội cũng khác nhau.
Vai trò của giới khác với vai trò sinh học của nữ giới và nam giới. Vai
trò của giới được hình thành mang tính xã hội. Kết quả là nữ giới và nam giới
không có cùng nguồn lực, không có cùng một nhu cầu và mối quan tâm giống
nhau. Do đó họ cũng khác nhau trong quyền đưa ra quyết định. Để có thể đảm
bảo phát triển công bằng và có hiệu quả của các chính sách và kế hoạch phát
triển cần phải tìm hiểu sự khác nhau giữa nam và nữ. Giới trở thành một phần
trong phân tích về sự khác biệt xã hội. Đây là cơ sở nghiên cứu sự cân bằng
về giới và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội.


7

Nam giới được coi là phái mạnh, được coi là trụ cột của sức lực, khả
năng bảo vệ và che chở. Họ có cuộc sống tình cảm cứng rắn hơn, mạnh mẽ
hơn và năng động hơn trong công việc. Chức năng của họ là người sản xuất
đồng thời là người quản lí, ít nhất là người quản lí gia đình, đặc trưng về giới
cho phép họ có khả năng dồn tâm lực, trí lực cho mọi công việc và mọi thời
gian như nhau.
Nữ giới được coi là phái yếu, phái đẹp. Họ không mạnh mẽ bằng nam
giới cả về tình cảm và sức khoẻ cũng như sự mạnh bạo trong công việc nhưng
họ lại là thành viên quan trọng nhất tạo nên sự êm ấm hoà thuận trong gia
đình. Họ là người thiên sống về tình cảm, uỷ mị, sống sâu sắc, nhạy cảm và
nhẹ dạ cả tin. Do vậy phụ nữ chiếm tỉ lệ cao trong số người ra khỏi biên chế
vì sức khoẻ, thiếu năng lực. Tất cả gánh nặng sinh con, nuôi con, công việc
gia đình thường không được coi là hoạt động mang thu nhập và không được
trả công nhưng trên thực tế chúng lại chiếm nhiều thời gian và có tính lặp đi
lặp lại, là nguyên nhân cơ bản loại trừ người phụ nữ ra khỏi nền sản xuất hiện
đại (Bùi Thị Minh Hà, 2007)[3].

gia đình
Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ thể
quan trọng trong đời sống các gia đình. Theo số liệu thống kê của Bộ lao
động, Thương binh và Xã hội thì hiện nay phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số
cả nước và hơn 49% lực lượng lao động. So với thế giới, Việt Nam có tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế cao 83% trên tổng số nữ trong độ tuổi lao
( />Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ góp phần
tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình. Cùng với chồng, người vợ cũng trở
thành người tạo ra nguồn thu nhập chính. ở nông thôn khi mà người chồng đi
làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao động
chính, họ là chủ thể chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn. ở thành
phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ. Và khi là người
làm trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng
nghiệp nam. Hiện nay thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người
đóng vai trò quan trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ.
2.1.6.2. Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình
Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăm sóc các thành
viên trong gia đình. Nhiều quan niệm cho rằng đây là những việc vặt và
không quan trọng. Đây cũng chính là lí do mà vai trò và địa vị của người phụ
nữ bị hạ thấp, là cơ sở căn bản tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ. Trong nền
văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của đại gia đình, tính gia trưởng của


9

đàn ông được đề cao. Người phụ nữ trong các đại gia đình chỉ là những nhân
vật phụ thuộc và vai trò của họ hết sức mờ nhạt. Gánh nặng công việc nội trợ
vẫn đè lên vai người phụ nữ và hầu như chưa có sự chia sẻ của người chồng,
người nam giới.
Theo kết quả nghiên cứu của (Lê Thị Nhâm Tuyết năm, 2008)[7], phụ nữ


nữ trong mọi trường hợp đều không được nhận đất bồi thường. Những phụ nữ
goá chồng thì được quyền sử dụng đất nhưng lại gặp khó khăn trong việc
chứng nhận quyền sử dụng đất của mình. Khi trong gia đình có một người con
trai trưởng thành thì thường lấy tên người con trai đó ghi vào giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Khi không có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì người phụ nữ rất khó có thể thế chấp để vay vốn vì ở nông thôn tài sản
thế chấp để vay vốn phổ biến nhất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Báo
cáo Trung tâm Thái Nguyên, 2008)[8].
Việc sửa đổi mẩu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó ghi tên
cả vợ và chồng hiện nay là một việc làm tích cực tạo thuận lợi cho phụ nữ
trong việc tiếp cận vốn tín dụng.
-Tiếp cận vốn
Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tín dụng
vì có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống và phi chính thống. Là người
tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cũng tham gia
vào các quyết định phát triển của gia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan
trọng trong việc sử dụng vốn và tiết kiệm. Thông qua sự uỷ thác của Ngân
hàng chính sách xã hội, Hội phụ nữ các địa phương đã thực hiện việc cho vay
vốn tới các hội viên kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi.
-Tiếp cận với KHKT
Sự tiếp cận KHKT thông qua hệ thống khuyến nông nhà nước và
khuyến nông tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đối với phụ nữ nông
thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn. Ngoài công việc sản xuất kinh
doanh, phụ nữ còn phải làm công việc gia đình và tham gia vào các hoạt động
khác. Quỹ thời gian không cho phép họ tham gia các khoá tập huấn dài ngày
hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đi lại.
Thường thì những kiến thức họ nhận được từ các khoá tập huấn có thể áp
dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay
nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến các khoá tập huấn thường không chú ý

kiến của phụ nữ ít quan trọng hơn nam giới (Khoa học về phụ nữ, 2001)[10].
2.1.7. Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh
tế hộ gia đình
Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh: mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
càng nhiều thì vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình và cả sự phát
triển kinh tế xã hội càng cao.
Dựa vào thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới: nếu chỉ dựa vào
mức độ tham gia của phụ nữ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng
chưa đủ để đánh giá vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình bởi tính


12

chất công việc khác nhau tạo ra mức thu nhập khác nhau. Do đó mà ta chỉ sử
dụng chỉ tiêu thu nhập của phụ nữ so với nam giới. Phần trăm thu nhập do
phụ nữ tạo ra càng lớn thì vai trò của họ càng được khẳng định trong gia đình
họ. Họ không chỉ chăm sóc con cái, chăm lo nhà cửa mà còn mang lại thu
nhập cho gia đình. Ngày nay người phụ nữ có quyền tham gia vào các quyết
định của gia đình, các công việc kinh doanh buôn bán. Mặt khác phần trăm
phụ nữ tham gia các hoạt động sản xuất và gia đình thể hiện vai trò của họ
trong việc nâng cao mức sống gia đình và của toàn xã hội.
2.1.8. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình
2.1.8.1. Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở nông thôn
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam á nên còn lưu giữ rất
nhiều những phong tục tập quán kể cả những phong tục cổ hủ lạc hậu. ở
nông thôn, nơi mà sự tiếp cận của cơ chế thị trường rất chậm, văn minh
thường đến sau cùng, nên những tư tưởng “trọng nam khinh nữ” có cơ hội
cản trở phụ nữ nông thôn tham gia vào các hoạt động xã hội, người dân

2.1.8.3. Yếu tố vốn đầu tư
Trong phát triển kinh tế, yếu tố vốn là rất quan trọng nhưng trong phát
triển kinh tế hộ gia đình thì hầu hết là gặp khó khăn về vốn. Phụ nữ ít có cơ
hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống do trình độ học vấn thấp,
các hàng rào về xã hội và văn hoá, bản chất công việc kinh doanh và những
yêu cầu thế chấp ví dụ như việc ghi tên trên giấy chứng nhận sở hữu đất mà
người phụ nữ không thể ghi tên mình vào. Hơn nữa thị trường ở nước ta nhất
là thị trường vốn ở các vùng xa xôi hẻo lánh hoạt động rất kém, cơ chế vay
vốn gặp nhiều khó khăn. Một điều là vay nợ ở khu vực nông thôn chủ yếu
được thực hiện thông qua khu vực phi chính thống với lãi suất rất cao. Do đó
mà phụ nữ nông thôn đặc biệt là phụ nữ nghèo không có điều kiện mở rộng
sản xuất phát triển kinh tế.
2.1.8.4. Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ
Phụ nữ phải đối mặt với nhiều ràng buộc về thời gian lớn hơn nam giới.
Họ có thể dành ít thời gian hơn cho công việc đồng ruộng nhưng lại phải làm
việc nhà nhiều hơn do sự phân công lao động mang tính chất giới về việc
chăm sóc con cái và trách nhiệm chăm lo việc nhà. Do vậy mà phụ nữ ít có
điều kiện tiếp xúc với các nguồn sách báo, thông tin. Điều này đã ảnh hưởng
rất lớn đến khả năng nhận thức và hiểu biết xã hội. ở nhiều vùng xa xôi hẻo
lánh, người dân ít có cơ hội tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải
thông tin khác. Do vậy mà cơ hội để phụ nữ giao tiếp rộng, tham gia hội họp
để nắm bắt thông tin cũng rất hiếm.


14

2.1.8.5. Yếu tố chủ quan
Một yếu tố không thể không nhắc đến ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ
đó là nguyên nhân chủ quan do chính họ gây ra. Chính họ cũng cho rằng
những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái… là công việc của người

15

Đặc biệt trong chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
đến năm 2020 với các nhiệm vụ, giải pháp được nêu rõ, đó là:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp chính quyền và các tổ chức
trong hệ thống chính trị về bình đẳng giới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với công tác bình đẳng giới và sự phối hợp liên ngành thúc đẩy sự
tiến bộ của phụ nữ.
2. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác phụ nữ và bình đẳng giới;
nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác phụ nữ và bình đẳng giới.
3. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật, chính sách, chương trình, dự án về
bình đẳng giới và các giải pháp phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới nhằm tạo
điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ.
a) Rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan trong các lĩnh vực của đời sống xã hội xây dựng chính
sách khuyến khích phát triển gia đình điển hình gương mẫu theo tiêu chí gia
đình văn hoá.
b) Xây dựng hệ thống các mục tiêu quốc gia, chỉ tiêu về bình đẳng giới,
công cụ theo dõi, đánh giá vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật.
4. Nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thông
qua tăng cường sự tham gia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ, thực hiện nguyên
tắc bình đẳng giữa nam và nữ, lồng ghép cơ chế, chính sách cụ thể về độ tuổi
trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức nữ.
a) Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo, y tế, pháp luật cho
phụ nữ và trẻ em gái.
b) Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ nữ.
c) Xây dựng và thực hiện chính sách đặc thù đối với lao động nữ làm
việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và là người dân tộc
thiểu số.

đã được cải thiện đáng kể trong những năm trở lại đây. Do có sự đầu tư mạnh
hơn vào phụ nữ và các bé gái, cải thiện mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế chăm
sóc sức khoẻ, phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động và do đó đã
thu hẹp lại khoảng cách về giới trong vấn đề việc làm và khoảng cách giới
trong tiền lương cũng được thu hẹp lại. Trình độ học vấn của phụ nữ cũng đã
có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ đi học của bé gái đã được tăng lên nhiều. Điều
đó đã thu hẹp khoảng cách về giới trong giáo dục. Tuy đã có tiến bộ rõ rệt
như vậy nhưng sự bất bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói
vẫn tồn tại đáng kể trong các nước đang phát triển. Theo đánh giá của Liên
hiệp quốc phụ nữ làm 70% công việc nhưng chỉ hưởng 30% thu nhập của thế


17

giới (40% công việc của họ không được trả lương), sở hữu 1% tài sản của thế
giới, chiếm 70% người nghèo trên thế giới và 10% ghế quốc hội.
Châu Á được xác định là trung tâm kinh tế lớn trong tương lai, nhưng
vẫn còn nhiều nước trong tình trạng bị nghèo đói đe dọa. ở Băngladesh 80%
phụ nữ bị mù chữ, ở một số nước Đông Nam á như Indonesia, Philippin,
Thái Lan mỗi năm có tới trên 600.000 người đi lao động nước ngoài, 1,46
triệu lao động đi di cư thì 70% là giúp việc gia đình. Đội lốt các trung tâm
giới thiệu việc làm cho phụ nữ ra nước ngoài làm việc có nhiều kẻ lợi dụng
lừa lấy tiền hoặc buôn bán phụ nữ. Do không có việc làm nhiều trẻ em gái
và phụ nữ có thể do chủ quan hoặc khách quan đưa đẩy trở thành gái mại
dâm, họ là nguyên nhân để các dịch bệnh lan rộng đồng thời cũng là nạn
nhân của sự nghèo đói, thiếu hiểu biết, thiếu việc làm, tiếp cận các nguồn
lực bị hạn chế, quyền hạn không bình đẳng, địa vị kinh tế xã hội thấp hơn so
với nam giới, Do đó đã làm hạn chế khả năng tác động đến các quyết định
trong cộng đồng cũng như ở cấp quốc gia. Phụ nữ rất ít có mặt trong quốc
hội và hội đồng nhân dân địa phương và hầu như chưa có sự tiến bộ gì đáng

của đất nước, bảo tồn và phát triển nòi giống. Để đảm đương trọng trách này
người phụ nữ đã phải chịu bao nỗi cực nhọc nhưng họ cũng tìm thấy nguồn
vui của mình. Mặt khác họ cũng là người giữ gìn truyền thống, những giá trị
tốt đẹp của thế hệ này qua thế hệ khác, gia đình Việt Nam hiện nay còn lưu
giữ những phẩm chất tốt đẹp như tình nghĩa vợ chồng, lòng hiếu thảo của con
đối với cha mẹ, lòng kính trọng biết ơn người già, sự giúp đỡ lẫn nhau trong
họ hàng làng xóm.
Trong sản xuất, người phụ nữ cũng là người tạo ra phần lớn lương thực
cho gia đình. Mọi việc đồng áng gần như dồn hết lên đôi vai gầy của người
phụ nữ, nhất là ngày nay tình trạng nam giới đi kiếm việc làm xa nhà càng
nhiều. Các công việc như cày bừa ngày xưa dành cho nam giới khỏe mạnh thì
bây giờ phụ nữ đảm nhận không còn là chuyện lạ. Bên cạnh việc trồng trọt họ
còn làm thuê nhiều công việc phụ để tăng thu nhập cho gia đình như thêu,
mây tre đan, dịch vụ thương mại. Người phụ nữ Việt Nam góp phần xây dựng
nền văn minh dân tộc bằng lao động sáng tạo và trí tuệ thông minh, bằng tình
thương và đạo đức trong sáng của họ. Tuy nhiên đến nay vị trí, vai trò của chị
em trong gia đình và trong xã hội chưa tương xứng với công lao mà họ bỏ ra.
Do vậy cần phải bù đắp xứng đáng cho người phụ nữ và giúp đỡ để họ được
khẳng định mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội (www.ubphunu ncfaw.gov.vn)[16].


19

Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình
+ Sự tham gia vào các công việc gia đình, xã hội của phụ nữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status