Nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hưng Đạo- TP Cao Bằng- Tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG QUỲNH HOA
Tên đề tài: T
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ HƯNG ĐẠO - TP CAO BẰNG-
TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : 42 - PTNT
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Đinh Ngọc Lan

Hoàng Quỳnh Hoa LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của cô giáo PGS.TS.Đinh Ngọc Lan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và
ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 6 năm 2014
Sinh viên Hoàng Quỳnh Hoa

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1:Tình hình phân bổ và sử dụng đất của xã Hưng Đạo năm 2013 29
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2013 32

1 ĐVT Đơn vị tính
2 TDTT Thể dục thể thao
3 KHKT Khoa học kỹ thuật
4 UBND Uỷ ban nhân dân
5 THCS Trung học cơ sở
6 TH Tiểu học
7 THPT Trung học phổ thông
8 KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
9 TT Thông tin
10 GĐVH Gia đình văn hóa
11 BHYT Bảo hiểm y tế
12 HĐND Hội đồng nhân dân
13 NTM Nông thôn mới
14 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
15 KTXH Kinh tế xã hội
16 SL Số lượng
17 CC Cơ cấu
18 TP Thành phố
19 DTTS Dân tộc thiểu số
20 NĐ-CP Nghị định - chính phủ
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2

2.1.4.2 Về sức khỏe, thể chất 13
2.1.4.3 Sức khoẻ về tinh thần 14
2.1.4.4 Về chuyên môn kỹ thuật 15
2.1.4.5 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định 15
2.1.4.6 Về vấn đề tiếp cận đất đai 16
2.1.4.7 Về vấn đề ra quyết định 17
2.1.4.8 Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng 17
2.1.5. Các chủ trương chính sách của đảng 17
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
2.2.1 Tình hình thay đổi của phụ nữ trên thế giới 20
2.2.2 Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình và
hoạt động xã hội 21
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 23
3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 23
3.3.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Hưng Đạo 23
3.3.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình 23
3.3.4 Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếuđẩy mạnh vai trò của
phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình. 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 23
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 24 3.4.2.1 Số liệu thứ cấp 24
3.4.2.2 Số liệu sơ cấp 24

4.2.3 Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy vai trò của
phụ nữ 58
4.2.3.1 Mặt thành tựu 58
4.2.3.2 Mặt hạn chế 59
4.2.4.1 Quan niệm bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại 59
4.2.4.2 Bản thân người phụ nữ 60
4.2.4.3 Sự quan tâm của chính quyền đoàn thể 61
4.3 Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh vai trò
của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế hộ tại địa bàn nghiên cứu 61
4.3.1 Phương hướng 61
4.3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hưng Đạo 62
4.3.2.1 Tích cực tổ chức tuyên truyền, giáo dục kiến thức về giới cho người
dân qua các lớp học, đồng thời triển khai trên các phương tiện thông tin đại
chúng, nhằm thay đổi và nâng cao nhận thức của họ về vấn đề này 63
4.3.2.2 Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ 63
4.3.2.3 Xây dựng môi trường thuận lợi khuyến khích, động viên để phụ nữ tự
tin hơn tham gia vào các công việc gia đình cũng như ngoài xã hội 64
4.3.2.4 Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cho phụ nữ 64
4.3.2.5 Làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe và đời
sống cho phụ nữ 64
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Kiến nghị 67
5.2.1 Đối với nhà nước 67
5.2.2 Đối với chính, quyền đoàn thể địa phương 67
5.2.3 Đối với người nông dân 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
trong xã hội, tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia và phát huy vai trò của
mình trên các lĩnh vực nhất là ở khu vực nông thôn. Cùng với việc tham gia
tích cực vào phát triển kinh tế gia đình mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt
2
động kinh tế xã hội góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội ổn
định góp phần vào thay đổi diện mạo của nông thôn Việt Nam.
Hưng Đạo là một xã thuộc Thành Phố Cao Bằng với hơn 50% dân số là
phụ nữ.Lực lượng này đã và đang đóng góp to lớn vào việc phát triển kinh tế
xã hội của toàn xã. Tuy nhiên sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận
phù hợp với vai trò và vị trí của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội
và trong gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường người phụ nữ luôn
phải “nặng gánh hai vai”, vừa làm tốt vai trò xã hội, vừa phải đảm nhiệm vai
trò làm vợ, làm mẹ trong quỹ thời gian và sức khỏe hạn chế.Để cố gắng làm
tốt họ phải luôn nỗ lực, hi sinh , những quyền lợi chưa được quan tâm đúng
mức. Trong khi họ là người trực tiếp tham gia sản xuất nhưng hiệu quả canh
tác không cao, đời sống chưa được cải thiện rõ rệt. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là:
Vai trò của phụ nữ trong phát triển nông thôn hiện nay như thế nào?Làm sao
để nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế cho
chính gia đình mình? Những rào cản,giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn
trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ.X uất phát từ những vấn đề
thực tế đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hưng Đạo- TP Cao Bằng-
Tỉnh Cao Bằng”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Hưng Đạo - TP Cao Bằng
trong phát triển kinh tế hộ. Từ đó đưa ra giải phápnhằm tạo cơ hội cho phụ nữ

1.4. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài phải có số liệu chính xác, khác quan
- Đề tài phải đánh giá đúng được vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ tại địa phương
- Đề tài phải đưa ra giải pháp phù hợp, khả thi. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1. Giới và giới tính
Giới tính và giới thường bị nhầm lẫn với nhau. Nhưng thực chất, hai khái
niệm này lại khác nhau ở hai phương diện cơ bản đó là: sinh học và xã hội.
 Giới tính: là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các
nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ
khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới. (Bùi
Thị Minh Hà, 2010)[1]
 Giới: Giới trước hết không phải là phụ nữ. Giới liên hệ đến vai trò
của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên. Giới có thể
khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa
khác và có thể thay đổi theo thời gian. (Bùi Thị Minh Hà, 2010)[1]
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò,

ký. Nam trong các nghề lái xe, cảnh sát…)
 Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới,
họ sống thiên về tình cảm. Vì vậy việc phân công lao động giữa hai giới cũng
có sự khác biệt.Người phụ nữ có thiên chức làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con cái
và gia đình. Còn nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ có
thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn nhanh nhẹn hơn trong công việc. Đặc trưng
này khiến nam giới ít bị ràng buộc hơn bởi con cái và gia đình, họ tập trung
hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội. Chính điều
này làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã
hội.
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ
khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm
bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,
ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng,
phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.[10]

6
2.1.1.3. Nhu cầu giới và bình đẳng giới
*Nhu cầu giới thực tế
:
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần
được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận.
Những nhu cầu này xuất phát từ công việc, đời sống hàng ngày, hoạt
động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng

thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực
lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng
các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của
người phụ nữ.
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện
các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng. Những hoạt động tự nguyện
mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước
sạch, hoạt động từ thiện…Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia cấp
ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể.
Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công
lao động khác nhau. Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên
thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp.
Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới,
hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của
phụ nữ vào quá trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình.
Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công
lao động theo giới truyền thống.
2.1.1.5 Quan điểm về giới
Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ.
Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế
phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ
và nam giới. (Bùi Thị Minh Hà,2010)[1]
2.1.2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ
2.1.2.1 Một số khái niệm
* Vai trò: Là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ
được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong
một cơ cấu xã hội.
Theo Đỗ Trung Hiếu (2011): Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc
hay không cùng huyết tộc, họ cùng sống chung hay không cùng sống chung
9
dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành
sản xuất chung[3].
* Hộ nông dân:Là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo
nghĩa rộng hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp
ở nông thôn. (Đỗ Trung Hiếu, 2011)[3]
* Kinh tế hộ nông dân:Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản
xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất
được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Mọi quyết định trong sản xuất
kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ
trợ và tạo điều kiện phát triển.(Đỗ Trung Hiếu, 2011)[3]
2.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
a) Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình
Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăm sóc các thành
viên lý do mà vai trò và địa vị của phụ nữ bị hạ thấp là cơ sở căn bản tạo nên
bất bình đẳng nam nữ. Trong nền văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của
đại gia đình tính gia trưởng của đàn ông được đề cao. Người phụ nữ trong các
đại gia đình chỉ là nhân vật phụ thuộc, gánh nặng công việc nội trợ vẫn đè lên
vai họ và hầu như chưa có sự chia sẻ của chồng- người nam giới.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết(2008) phụ nữ nông
thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc gia đình và chăm sóc con cái
họ không có thời gian đọc báo và xem tivi trong khi nam giới chỉ làm
7h/ngày. Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có dịch vụ và trang thiết bị gia
đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so
với nam giới.[4]

nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế nông hộ nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực,
thực phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu
dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ.
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ. Họ phải làm hầu
hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội.
11
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và
những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại.
Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ,
thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có
những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình.
2.1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
*Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
càng nhiều thì vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình và cả sự
phát triển kinh tế xã hội càng cao.
*Dựa vào thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới: Nếu chỉ dựa vào
mức độ tham gia của phụ nữ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng
chưa đủ để đánh giá vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình bởi tính
chất công việc khác nhau tạo ra mức thu nhập khác nhau. Do đó mà ta sử
dụng chỉ tiêu thu nhập của phụ nữ so với nam giới. Phần trăm thu nhập do

gia đình trở nên thấp hơn.
2.1.3.3 Khả năng tiếp nhận thông tin
Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để
họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất
hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được
tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác.
2.1.3.4 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn
nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và
sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ
tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp
nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như
ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi
nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn
lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn
và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10%. (Vương Thị Vân, 2009)[10].
Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840
triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ
em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái.
13
2.1.3.5 Các yếu tố chủ quan
Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là nguyên nhân chủ
quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả
phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó. Họ cũng cho rằng,
những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ. Họ
tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ. Trong khi

phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong thời gian mang thai, thậm chí
vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an
toàn cho thai nhi.
+ Môi trường ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm
càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn
nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất. Ở nhiều vùng nông thôn Việt
Nam có nhiều hồ, ao tù, đây là nguồn nước chủ yếu của người dân ở nông
thôn (tắm, giặt giũ ) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi và ký sinh trùng
sinh sôi nảy nở.[10]
+ Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là ở Việt
Nam còn có hiện tượng tảo hôn. Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn
hiện tượng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên
nhân văn hoá- xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để
tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng
vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm). Lấy chồng sớm dẫn đến hệ
quả là bên cạnh việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu,
làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con Sự thiếu hiểu biết về dân số- kế
hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều.
+ Dinh dưỡng không đảm bảo: Suy dinh dưỡng, thiếu máu cũng là
hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô như ở Việt Nam kiểm tra lượng
Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng
Hemoglobin dưới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới. Suy dinh dưỡng ở phụ
nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có thể dẫn đến tử vong
mẹ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con cái. Hiện nay, có gần 42% trẻ em
Việt Nam dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.(số liệu được đưa ra trong buổi họp
báo nhân Tuần lễ “Dinh dưỡng và phát triển” do Bộ Y tế phát động ngày
8.10.2013).
2.1.4.3 Sức khoẻ về tinh thần
Nam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên. Cũng như nhiều nước
trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: sự hạn chế
của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến
nông và tín dụng.

Trích đoạn Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình và Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu Các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tình hình sản xuất nông nghiệp Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status