Vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––

LƯƠNG THỊ PHƯƠNG QUỲNH

Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ BẾ TRIỀU, HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Phát Triển Nông Thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Cù Ngọc Bắc LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau
khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Bế Tiều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng với đề tài: “Vai trò của phụ nữ DT
trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh
Cao Bằng”.
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá
nhân, cơ quan và nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi
đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS. Cù Ngọc Bắc giảng viên khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp
đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ. Đồng thời tôi xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Bế Triều, các ban ngành cùng nhân dân
trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Lương Thị Phương Quỳnh

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU


hi sinh, những quyền lợi về mọi mặt của họ chưa đựơc quan tâm đúng mức.

2
Vậy, người phụ nữ xã Bế Triều đã có những đóng góp gì cho sự phát
triển của kinh tế hộ gia đình? Làm thế nào để nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho người phụ nữ? Làm thế nào để có thể nâng cao vai trò của người
phụ nữ trên địa bàn?
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò
của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện
Hòa An, tỉnh Cao Bằng”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ DT trong phát
triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, từ đó
đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ gia đình trên địa bàn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
- Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia
đình, qua đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của họ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều trong thời gian qua.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu
khoa học cho bản thân sinh viên.
+ Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa
tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của

Tiêu chí Giới Giới tính
Đặc trưng cơ bản Xã hội Sinh học
Nguồn hình thành Do dạy và học mà có Bẩm sinh
Bản chất Đa dạng Đồng nhất
Tính thay đổi Có thể thay đổi Không thể thay đổi
Ví dụ
Phụ nữ có thể trở thành
Thủ Tướng, nam giới có
thể ở nhà nội trợ…
Phụ nữ mang thai và sinh
con, nam giới có yết hầu ở
cổ
2.1.1.2 Khái niệm hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm hộ
Theo Weberster – từ điển kinh tế (1990), Hộ là những người cùng sống
chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung một ngân quỹ.

4
Theo Martin (1988), Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác.
Theo Raul (1989), Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc,có
quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn
chính bản thân mình và cộng đồng.
Theo Mege (1989), Hộ là những người có chung huyết tộc hoặc không
cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà và ăn chung một mâm cơm.
Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ năm 1982 – 1985, Hộ là đơn
vị đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ
chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất.
Như vậy, các các nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về
hộ không giống nhau. Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân

chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất
kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ được Nhà nước thừa nhận, hỗ
trợ và tạo điều kiện phát triển” (Đỗ Văn Viện – Đặng Văn Tiến, 2006, Bài giảng
Kinh tế hộ nông dân, Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp).
2.1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao
gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như
phúc lợi xã hội, tuổi thọ…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ
trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ).
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh
tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định
nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn.
* Phát triển kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình tập trung chủ yếu ở khu vực sản xuất nông nghiệp và
chiếm tới 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội. Vì vậy, chính sách khuyến khích
phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước ta thực chất là việc thực hiện
phát triển một cách hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh trong nông
nghiệp. Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo
cơ chế thị trường dựa trên nền tảng gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn
và điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Do đó mà kinh tế hộ gia đình có ý nghĩa quan trọng. Phát triển kinh tế hộ gia
đình là một phần tất yếu để tạo nền tảng phát triển kinh tế đất nước.
2.1.2 Vai trò giới và những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
2.1.2.1 Vai trò giới
Vai trò giới là những công việc và những hoạt động cụ thể mà phụ nữ
và nam giới thực tế đang làm. Thông thường đây cũng là công việc mà xã hội
trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hay đàn bà (Nguyễn Thị Minh

Vai trò cộng đồng chia làm 2 loại:
- Vai trò tham gia cộng đồng
Thể hiện ở sự tham gia của nam và nữ trong các hoạt động cộng đồng.
Hoạt động cộng đồng rất đa dạng, tùy theo bản sắc riêng có của từng cộng
đồng như các hoạt động chung của cộng đồng: xây dựng cơ sở hạ tầng, quản
lý tài sản công, tham gia vào lễ hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quản lý nguồn
nước, quản lý và bảo vệ rừng, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở cộng

7
đồng. Thường thì phụ nữ tham gia vào các hoạt động như lễ hội, giáo dục mầm
non, y tế cơ sở, kiếm củi, lấy nước, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Trừ các
hoạt động y tế, giáo dục, y tế cơ sở, các hoạt động còn lại là những công việc
“không được trả công” và là việc làm có tính “tự nguyện và tự nguyện”. Đối
với phụ nữ, công việc này như là một sự mở rộng vai trò tái sản xuất của họ.
- Vai trò lãnh đạo cộng đồng
Nam và nữ có vai trò khác nhau trong tham gia các hoạt động lãnh đạo
quản lý cộng đồng. Lãnh đạo cộng đồng là lãnh đạo các tổ chức của cộng
đồng (các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau) như Chủ tịch UBND xã, Hội
nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh… Lãnh đạo cộng đồng trong một
xã hội chính trị - dân sự phát triển được chia ra thành hai nhóm: Nhóm thuộc
hệ thống quản lý nhà nước (Chủ tịch UBND từ tỉnh trở xuống trưởng thôn,
trưởng xóm) và được ngân sách Nhà nước chi trả; Nhóm thuộc xã hội dân sự
(các hiệp hội, các tổ chức tự nguyện của cộng đồng) và được kinh phí tự tạo
của các tổ chức đó chi trả. Dù là ở nhóm nào thì phần lớn việc lãnh đạo cộng
đồng đều được trả tiền trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng tiền công hoặc tăng thêm
vị thế và quyền lực. Thông thường, các công việc này do nam giới thực hiện.
Một số ít các vai trò lãnh đạo do nữ giới đảm nhiệm.
2.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
* Quan điểm truyền thống từ xa xưa để lại
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á với nhiều năm dưới

48,5%, THPT: 52,6% và ở bậc ĐH là 48,5% (niên học 2008 - 2009).Tỷ lệ lao
động nữ chưa qua đào tạo là 80,9%, khu vực nông thôn gần 90%, chỉ có 3,65%
lao động nữ ở nông thôn có chứng chỉ nghề. Phụ nữ bị hạn chế về trình độ học
vấn, chuyên môn nên khả năng tiếp thu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật còn khó khăn, làm cho hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp, do
đó mà đóng góp của phụ nữ đối với kinh tế hộ gia đình còn hạn chế.
* Hạn chế trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất
Mặc dù đã có những tiến bộ về cải thiện địa vị của phụ nữ, nhưng vẫn
còn những chênh lệch trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu
như đất đai, nguồn vốn… giữa nam và nữ trong gia đình.
Nâng cao khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cho phụ nữ không
chỉ tạo điều kiện phát triển mà còn là cơ hội để nâng cao vai trò và vị thế của
người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
* Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ
Ngoài thời gian làm việc để tạo ra thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn
bận rộn với công việc nội trợ, chăm sóc con cái. Do đó mà việc tiếp cận các
nguồn thông tin mới của phụ nữ bị hạn chế, họ ít có thời gian để xem ti vi,
đọc sách báo, tìm hiểu thông tin thị trường… Điều này dẫn đến người phụ nữ
không nắm bắt được thông tin, thiếu hụt thông tin, làm cho khả năng tiếp cận
những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những đổi mới trong ngành nông nghiệp còn

9
bị hạn chế, không nâng cao được năng suất, chất lượng sản phẩm. Từ đó làm
hạn chế sự đóng góp của phụ nữ vào kinh tế của gia đình nói riêng và nền
kinh tế đất nước nói chung.
* Những yếu tố chủ quan
Những yếu tố bên ngoài đã có tác động không nhỏ đến việc nâng cao
vai trò của người phụ nữ. Bên cạnh đó, ý thức của người phụ nữ về vai trò của
bản thân mình cũng làm cho vị thế của họ không được nâng cao. Cùng với
những quan niệm từ thời phong kiến, họ đã chấp nhận rằng thiên chức của

phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa vào công cuộc bầu cử vì đó là cơ hội tốt nhất để
họ lựa chọn những người đại diện cho quyền lợi của họ, nhất là những người
đại diện là phụ nữ. Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực công
tác xã hội, nhất là những lĩnh vực trước đây họ ít được tham gia bởi những
thành kiến lạc hậu của xã hội cản trở. Trong lĩnh vực công tác Đảng, công tác
Nhà nước cũng cần có sự tham gia của phụ nữ, hơn nữa trong công tác đó, phụ
nữ phải giữ một vai trò chủ yếu và chắc chắn là phụ nữ giữ vai trò ấy.
2.1.3.2.Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ
Kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ tịch Hồ Chí
Minh là một trong những người đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềm
năng, vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói
chung và sự nghiệp cách mạng của Việt nam nói riêng.Có thể khái quát tư
tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ ở những luận điểm sau:
Thứ nhất: Giải phóng phụ nữ là một mục tiêu tất yếu của cách mạng
vô sản. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đi đến kết luận chế
độ thực dân là ăn cướp, hiếp dâm và giết người. Chế độ thực dân đối xử một
cách hết sức bỉ ổi đối với người phụ nữ bản xứ nói chung và người phụ nữ “An
Nam” mất nước nói riêng. Do đó, mục tiêu của cách mạng vô sản phải bao hàm
mục tiêu giải phóng phụ nữ, Bác viết “nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu
không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người”. Hồ Chí
Minh khẳng định, quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng chính là
quá trình thực sự giải phóng phụ nữ và ngược lại để xây dựng chủ nghĩa xã hội
thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ.
Thứ hai: Giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách
mạng. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng dưới chế độ thực dân
phong kiến phụ nữ là đối tượng bị bóc lột, đè nén nặng nề nhất. Vì vậy, theo
Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng,
nó gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người. Đó là cuộc cách mạng để xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi, mọi hủ tục,
tàn dư của tư tưởng coi thường phụ nữ do chế độ cũ để lại. Hồ Chí Minh viết:

mình, mà mình phải tự cường, tự đấu tranh”.
Thứ năm: Xây dựng hội phụ nữ ngày càng vững mạnh. Vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập kinh nghiệm của nước Nga xã hội
chủ nghĩa và kinh nghiệm của Đảng cộng sản các nước khác, ngay từ những
năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, Hồ Chí Minh đã xác định các Đảng cộng
sản cần phải xây dựng tổ chức riêng của phụ nữ và thường xuyên chăm lo xây
dựng tổ chức đó vững mạnh để tập hợp, vận dụng phụ nữ hoạt động cách
mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ và đấu tranh vì sự tiến bộ của
phụ nữ. Thực tiễn đã chứng minh rằng, hội phụ nữ Việt Nam là một tổ chức
chính trị - xã hội sớm được thành lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam và đã có những đóng góp to lớn trong tiến trình cách
mạng nước ta.

12

2.1.4 Quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ
Lịch sử phát triển của khoa học về giới đã trải qua nhiều nhiều bước
hoàn thiện về các quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ như “Phụ nữ
trong phát triển – Women in Development – WID”, “Phụ nữ và phát triển –
Women and Development – WAD” và “Giới và phát triển – Gender and
Development – GAD”.
* Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (WID)
Quan điểm này ra đời vào những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ 20 tại
Ủy ban phụ nữ thuộc tiểu ban xã hội Washington. Quan điểm này đặt trọng tâm
vào phụ nữ, trên cơ sở giải quyết các vấn đề của phụ nữ nảy sinh trong quá trình
phát triển. Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ.
Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người vợ,
người mẹ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh
đẻ. Quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương
đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có

thực hiện các chiến lược phát triển phụ nữ (Kabeer 1994).
*Quan điểm “Giới và phát triển” (GAD).
Quan điểm này ra đời vào những năm 1980. Khắc phục nhược điểm
của 2 quan điểm trên, GAD tập trung vào mối quan hệ giới chứ không chỉ
riêng phụ nữ, quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng
giới và các chương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của cả nam và nữ.
Theo quan điểm này, phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá như là những
nhân tố tích cực chứ không phải là những người thừa hưởng thành quả của sự
phát triển. Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức mạnh
của bản thân phụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình
và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam
giới. Sự tham gia của phụ nữ và phát huy hết tiềm năng, kinh nghiệm của họ
trong hoạt động kinh tế, xã hội hay quản lý cộng đồng có ý nghĩa chính trị -
xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cá nhân, vừa tạo quyền cho chính
họ, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của xã hội.
Quan điểm này còn cho rằng, mỗi nam và nữ giới sẽ thường đảm nhận
các vai trò quyền lực khác nhau, nên họ có nhu cầu thực tế khác nhau. Chính
vì vậy, phân tích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết
không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân
sâu xa của vấn đề nghiên cứu.
Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của
phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng
đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau. Cần đánh giá những đóng
góp của phụ nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều
kiện để phụ nữ phát huy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới
tham gia các hoạt động phát triển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt

14

động văn hóa, chính trị, chăm sóc sức khỏe sinh sản… Quan trọng là hình

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Hội triển khai đồng thời nhiều hoạt
động hỗ trợ tích cựcnhư: cho vay vốn ưu đãi để phụ nữ phát triển kinh tế gia
đình, làm chủ cuộc sống, tặng nhà tình thương cho phụ nữ neo đơn khó khăn
về chỗ ở, hỗ trợ cho học sinh nữ để các em tiếp tục được đến trường… Những

15

hoạt động này đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động khá rõ nét và
cụ thể. Bên cạnh Hội Liên hiệp phụ nữ còn có nhiều tổ chức quốc tế đã có
những chương trình thiết thực giúp cho phụ nữ DTTS được nâng cao trình độ
về mọi mặt, nâng cao vị thế xã hội. Cụ thể:
Dự án LICEEM (Lớp học chữ nâng cao năng lực phụ nữ dân tộc thiểu số)
là dự án 3 năm nhằm cải thiện và nâng cao vị thế kinh tế xã hội nói chung cho
phụ nữ dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng thông qua các hoạt động giáo dục và nâng
cao nhận thức. Dự án LICEEM phối hợp với Hội Liên Hiệp Phụ Nữ địa phương
tổ chức các lớp học chữ và học toán theo phương pháp người học cùng tham gia.
Thời gian thực hiện: 03 năm (2009 – 2012)
- Các nhà tài trợ: tổ chức ADRA Úc
- Nơi thực hiện: tỉnh Cao Bằng (huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hà Quảng)
- Lĩnh vực: giáo dục
- Đối tượng hưởng lợi: phụ nữ dân tộc thiểu số tuổi từ 25 trở lên
- Các đối tác chính: Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Cao Bằng, Sở Giáo dục
và Đào tạo.
* Mục tiêu của dự án:
Góp phần nâng cao vị thế kinh tế - xã hội của phụ nữ dân tộc ở ba
huyện của tỉnh Cao Bằng.
* Kết quả dự kiến:
- Năng lực của hội liên hiệp phụ nữ tỉnh và huyện trong việc cung cấp
các dịch vụ cho các hội viên được cải thiện và tăng cường.
- Phụ nữ và nam giới mù chữ người dân tộc thiểu số được nâng cao

năm 1946 đã quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang nhau về mọi
phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa”. Theo điều 9, Hiến pháp năm 1946
đã khẳng định: “Mọi quyền lực trong nước thuộc về nhân dân Việt Nam,
không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, giàu, nghèo, giai cấp…” và “phụ nữ
bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện”.
Hiến pháp năm 1954, Điều 24 có nêu: “Phụ nữ được hưởng quyền bình
đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và
xã hội”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động
phụ nữ, phụ nữ là đội quân rất đông. Phải giữ gìn sức khỏe cho họ để chị em
tham gia lao động sản xuất được tốt”.
Hiến pháp được bổ sung và sửa đổi năm 1959, 1980 và 1992 đều thể
hiện quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội. Theo quy định của hiến pháp năm 1992, phụ nữ có quyền và ngang
quyền với nam giới trong việc tham gia bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và
Hội đồng nhân dân, tham gia quản lý Nhà nước và tham gia vào các hoạt
động chính trị; công dân nam nữ có quyền ngang nhau về kinh tế. Hiến pháp
năm 1992 cũng quy định phụ nữ có quyền cơ bản đối với văn hóa, giáo dục,
ghi nhận các quyền tự do cá nhân của phụ nữ như tự do tín ngưỡng, quyền bất

17

khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền
bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín…
Năm 1993, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được
thành lập (là cơ quan Nhà nước chính thức chịu trách nhiệm trong việc tăng
cường bình đẳng giới, đây là ủy ban phối hợp đa lĩnh vực cấp cao được báo
cáo trực tiếp với Thủ tướng Chính phủ) với mạng lưới các ban vì sự tiến bộ
của phụ nữ ở tất cả các bộ, ngành và 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung
ương. Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kế hoạch hoạt động đến
năm 2005 của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được phê duyệt vào tháng

hội và gia đình, phấn đấu để nước ta là một quốc gia có thành tựu về bình
đẳng giới tiến bộ nhất khu vực.
Quyết định số 2531/QĐ – TTg ngày 24/12/2010 phê duyệt Chiến lược
Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 với mục tiêu tổng quát
“Đến năm 2020, về cơ bản, đảm bảo bình đẳng thực chất giũa nam và nữ về
cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”.
Chiến lược xác định 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, lao động – việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa và thông
tin, gia đình và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới. Đây
là lần đầu tiên chính phủ ban hành các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới,
làm cơ sở cho việc ban hành các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới.
Đó là những Chỉ thị, Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng
về công tác phụ nữ nói chung, giúp cho phụ nữ phát huy được vai trò của mình.
Chính sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò to lớn của phụ
nữ trong xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóađược thể hiện trong các văn bản trên đã tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy
được tiềm năng to lớn của mình, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
2.2.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày, Nùng.
2.2.4.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày
Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên
kỷ thứ nhất trước Công nguyên,có dân số đông nhất trong các DTTS ở nước
ta, với 1.626.392 người (2009). Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh
Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Có mối quan hệ thân
thuộc và gần gũi với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ như Nùng, Giáy, Bố Y,
Cao Lan - Sán Chỉ ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc, có giao lưu
ảnh hưởng tiếp thu lẫn nhau về các mặt văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng với các
cư dân khác cùng cư trú trong vùng.
* Đặc điểm kinh tế

dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu…, thể
hiện bản sắc văn hoá của một tộc người. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ
cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
* Văn hóa
Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ,
ca, múa, nhạc… Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể. Các điệu dân
ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, hát ru con. Có nhiều điệu lượn như
lượn Slương, lượn Then, lượn Nàng Hai Người Tày còn có các điệu hát Then,
gọi là Văn ca, được ngâm hát trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng
tồng, gọi là Cỏ lẩu trong hát đám cưới.Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất
cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày. Nó như linh hồn trong
nghệ thuật dân ca dân vũ Tày. Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao

20

tiếp mang đậm bản sắc dân tộc. Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và
thích nói chuyện. Họ rất coi trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì
coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình.
*Ăn uống
Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình
nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày Tết, ngày lễ, người Tày thường
làm nhiều loại bánh như bánh chưng, bánh dày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio,
bánh rán, bánh trôi, bánh khảo… Đặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng
trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
* Trang phục
Có đặc trưng riêng về phong cách thẩm mỹ. Người Tày thường mặc
quần áo vải bông nhuộm chàm.
Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt,
nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn
trang trí. Nữ có áo cánh ngắn may cổ cao, năm thân, cài năm khuy ở cổ và

giấy dó, làm ngói âm dương… Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn
là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra
phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng
mai một dần (dệt), một số nghề được duy trì và phát triển (rèn).
Chợ ở vùng người Nùng phát triển, người ta đi chợ phiên để trao đổi
mua bán các sản phẩm.
* Tổ chức cộng đồng
Đồng bào Nùng sống thành từng bản trên các sườn đồi, thông thường
trước bản là ruộng nước, sau bản là nương và vườn cây ăn quả. Người Nùng
thường sống xen kẽ với người Tày, phần lớn là nhà sàn, một số ở nhà đất.
Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng, vì thế họ rất chú ý tới
xem hướng, chọn đất, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có
cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
* Hôn nhân và gia đình
Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường
trao tặng một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng
bong và giỏ đựng con sợi. Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai
gia đình môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái hợp nhau hay không.
Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới
càng nhiều thì giá trị của người con giá càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều
nghi lễ, quan trọng nhất là lế đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới, cô dâu
vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Trong gia đình, quan hệ giữa bố chồng, anh chồng với nàng dâu có sự
cách biệt nghiêm ngặt. Theo phong tục Nùng, dù là con anh, con em, con
chị ai nhiều tuổi hơn được gọi là anh, là chị. Người Nùng có thói quen ít khi
gọi thẳng tên người ông, người bố mà thường gọi theo tên của đứa cháu đầu,
con đầu của họ. Khi đặt tên con phải tuân theo hệ thống tên đệm của dòng họ.
Người Nùng thờ cúng tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng,
được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán
cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan
âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn) và tổ chức cầu
cúng khi thiên tai, dịch bệnh Khác với người Tày, người Nùng tổ chức
mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Trích đoạn Những yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ Giải pháp Đối với bản thân người phụ nữ DT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status