ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MÃ VĂN THƢỢC
Tên đề tài:
VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
NÔNG HỘ TẠI XÃ CAO TÂN - HUYỆN PÁC NẶM - TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
:
Chính quy
Chuyên ngành
:
Phát triển nông thôn
Khoa
:
Kinh tế & PTNT
Khóa học
:
2011 - 2015
Kinh tế & PTNT
Khóa học
:
2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
:
ThS. Nguyễn Quốc Huy
Khoa Kinh tế & PTNT - Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình về nhiều mặt của các tổ chức và các cá nhân trong và ngoài trường
Trước tiên, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu
nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh Tế và PTNT, Bộ
môn phát triển nông thôn và các thầy, cô giáo đã tạo trang bị cho em nhưng
kiến thức và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.S Nguyễn
Quốc Huy, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND xã Cao Tân, các
bác, các cô, các chú, các anh,chị trong UBND xã, và các hộ gia đình trong xã
Cao Tân đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu báo cáo, tư liệu khách quan
và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Bảng 4.15. Phân công công việc trong các hoạt động khác ở các hộ nghiên cứu . 46
Bảng 4.16. Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động tái sản xuất 47
Bảng 4.17. Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ 49
Bảng 4.18 Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50
Bảng 4.19. Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu 50
Bảng 4.20. Vai trò quyết định hoạt động chung của hộ 52
Bảng 4.21. Tình hình sủa dụng quỹ thời gian của phụ nữ ở điểm nghiên cứu 53
Bảng 4.23. Nhận thức của người dân về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế 56
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Tốc độ tăng dân số xã Cao Tân theo giới tính giai đoạn 2012-2014 26
Hình 4.2. Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2014 33
Hình 4.3. Trình độ văn hóa của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu 55 iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : bình quân
CNH-HĐH : công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CNVC : công nhân viên chức
ĐVT : đơn vị tính
HĐND : hội đồng nhân dân
KHHGĐ : kế hoạch hóa gia đình
KT-XH : kinh tế xã hội
LHPN : liên hiệp phụ nữ
NN : nông nghiệp
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội xã Cao Tân, huyện Pác Nặm 21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 21
4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 24
4.1.3. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Cao Tân 32
4.1.4. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân ở vùng nghiên cứu 35
vi
4.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại
các hộ nghiên cứu 36
4.2.1. Một số thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 36
4.2.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở các hộ
nghiên cứu 41
4.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế 57
4.3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển
kinh tế hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu 59
4.3.1. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Cao Tân 59
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
5.1. Kết luận 67
5.2. Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
2
dân tộc gắn liền với sự phát triển của xã Cao Tân. Với 51.5% dân số là phụ nữ, lực
lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội
của toàn xã. Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chưa nghi nhận một cách xứng
đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ
xã hội và trong đời sống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, người phụ
nữ phải “ nặng gánh hai vai”, vừa phải làm tốt công việc xã hôi, vừa đảm nhiệm vai
trò làm vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có như mọi người, sức
khỏe lại hạn chế… Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhưng quyền lợi
về mọi mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là:
làm sao để nâng cao nhận thức về vai trò của người phụ nữ cho người dân và cho
chính người phụ nữ? Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong
việc phát triển kinh tế cho chính gia đình mình? Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên
và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự
tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông
hộ tại xã Cao Tân – huyện Pác Nặm – tỉnh Bắc Kạn”.
1.2. Mục tiêu
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
1.2.1.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế -
xã hội tại xã Cao Tân – huyện Pác Nặm – tỉnh Bắc Kạn từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa
bàn xã Cao Tân.
1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những công việc nội trợ
và chăm sóc con cái.
- Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ trong việc tạo lập thu nhập cho gia
đình và tham gia các hoạt động xã hội.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1. Khái niệm Giới tính và Giới
* Giới tính: là một thuật ngữ được các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh
học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về
mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới [7].
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di
truyền nòi giống. Ví dụ như sự khác nhau về hình dáng bên ngoài cơ thể (nam giới
cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, thể lực mạnh hơn phụ nữ), sự khác nhau
về cấu tạo NST, hormone…, sự khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò
của giới tính (phụ nữ có thai, sinh con và cho con bú, nam giới sản xuất ra tinh
trùng để thụ thai). Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con
người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ [7].
* Giới:
Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ. Giới không phải
là sự xác định sinh học – như kết quả những đặc điểm về giới tính của nam hay nữ,
mà giới là do xã hội xác lập nên. Nó là một nguyên tắc tổ chức xã hội có thể kiểm
soát tiến trình sản xuất, tái sản xuất, tiêu thụ và phân phối [7].
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò
trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến việc
phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong
một bối cảnh cụ thể.
Giới chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ
trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nói đến giới, là nói đến các điều kiện và yếu tố xã
hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ thể.
Như vậy, giới được xác định trong mối quan hệ giữa nam và nữ về quyền lực,
vị trí xã hội và phân công lao động [7].
2.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác
động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới
cũng khác nhau.
2.1.1.3. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu giới thực tế): Là những nhu cầu của phụ nữ
và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận.
Nhu cầu này nảy sinh từ đời sống hằng ngày, là những thứ nhìn thấy được,
thiết thực, cụ thể. Có liên quan đến các trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với các vai trò
6
giới truyền thông. Đáp ứng nhu cầu giới thực tế có thể cải thiện cuộc sống nhưng
không thay đổi phân công lao động theo giới hay cải thiện vị trí của người phụ nữ
trong xã hội [7].
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu giới chiến lược): là những nhu cầu thường
nảy sinh từ vị thế thấp hơn của mỗi giới trong xã hội. Các nhu cầu này liên quan
đến phân công lao động, đến quyền lực, sự kiểm soát và có thể bao hàm cả những
vấn đề nhưu quyền pháp lý, bạo lực trong gia đình, tiền công công bằng hoặc sự
kiểm soát thân thể,… Việc đáp ứng các nhu cầu chiến lược sẽ làm thay đổi sự phân
công lao động, thay đổi vai trò và vị thế của giới [7].
Nhu cầu giới chiến lược của phụ nữ xuất phát từ vị trí lệ thuộc, thiệt thòi của
họ trong gia đình và ngoài xã hội – Nhu cầu chiến lược là lâu dài và liên quan đến
việc cải thiện địa vị của người phụ nữ so với nam giới.
* Bình đẳng giới
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có địa vị như nhau, có cơ hội
như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng những
lợi ích của sự phát triển.
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có sự công bằng về quyền lợi,
trách nhiệm và bình đẳng về tiếp cận cơ hội và quyết định.
Bình đẳng giới không có nghĩa là phụ nữ và nam giới phải như nhau, mà là sự
giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới phải được công nhận và đánh giá
môi trường sống [8].
* Phát triển kinh tế: trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và chất
lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nền kinh tế. Đồng thời,
phát triển còn là sự thay đổi theo hướng tích cực trên tất cả các khía cạnh của nền
kinh tế, xã hội [4].
2.1.2.2. Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức
khác [4].
2.1.2.3. Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn.
* Hộ gia đình: Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái
niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú
- Có cơ sở kinh tế chung [14].
Hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm
những người có cùng huyết tộc và những người làm công [14].
Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng, hộ là
những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một
ngân quỹ [14].
8
Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân,
quan hệ huyết thống. Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia
đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gai đình.
* Kinh tế hộ nông dân
Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các
phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại,
nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc
là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình trên
Thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập
của lao động nữ [2]. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước
trên thế giới. Đặc biệt là ở vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống,
điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ
người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2
triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ…
Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm 50,7% dân số và gần 50% lực lượng lao
động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực đời sống
xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Phụ nữ luôn là
nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội. Nghĩa vụ công dân
và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu
tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước. Ngày càng
nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội.
Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của
xã hội.
2.1.3.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản
xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân
lực, tri thức dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế nông thôn được thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực
phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết
quả làm việc của phụ nữ.
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình,
phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ. Họ phải làm hầu hết các công
việc nội trợ, chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại,
phát triển của gia đình và xã hội.
- Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng
đồng tại thôn, thôn bản.
động nữ có trình độ đại học và trên đại học là 5,9%, tỷ lệ này của nam là 6,9% [9].
* Yếu tố về tiếp cận vốn đầu tư: vốn là yếu tố vô cùng quan trọng trong phát
triển kinh tế hộ gia đình, tuy nhiên đây là yếu tố gặp khó khó khăn nhất. Phụ nữ ít
có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống do trình độ học vấn thấp,
các hàng rào về xã hội và văn hóa, bản chất công việc kinh doanh và những yêu cầu
11
thế chấp. Hơn nữa, thị trường ở nước ta, nhất là thị trường vốn ở các vùng xa xôi
hẻo lánh hoạt động rất kém, cơ chế vay vốn gặp nhiều khó khăn. Một điều là vay nợ
ở khu vực nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua khu vực phi chính thống với
lãi suất rất cao. Do đó mà phụ nữ nông thôn, đặc biệt là phụ nữ nghèo không có
điều kiện để mở rộng sản xuất phát triển kinh tế [1].
* Yếu tố về sức khỏe: Sự hạn chế về sức khỏe do đặc thù của nữ giới và thời
gian làm việc cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Đặc
biệt với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng, vừa phải thực hiện thiên chức
của mình là mang thai, sinh đẻ, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho
sức khỏe của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao
động mà còn làm cho vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát
triển kinh tế gia đình trở nên thấp kém hơn [1].
* Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ: Thiếu thông tin không chỉ làm phụ
nữ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn làm cho phụ nữ
bị hạn chế cả về tầm nhận thức và hiểu biết xã hội. Phụ nữ phải đảm nhận một khối
lượng công việc lớn trong mỗi ngày và chiếm gần hết thời gian của họ. Do vậy cơ
hội để phụ nữ giao tiếp rộng rãi, tham gia hội họp để nắm bắt thông tin cũng rất
hiếm. Theo báo cáo của chính phủ thì 80% lượng báo chí phát hành được tập trung
ở thành thị, có nghĩa là 80% dân số nông thôn ở nước ta chỉ tiếp cận được với 20%
lượng báo chí phát hành. Đây cũng là con số lý thuyết, trên thực tế có nhiều vùng
nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các
hình thức truyền tải thông tin khác.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
trường thấp kém hơn so với nam giới đã ảnh hưởng đến chỉ số về giáo dục, y tế và
dinh dưỡng của phụ nữ [1].
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của phụ nữ thấp: Nhìn chung trình độ chuyên
môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp. Ở
các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học
hành, 5,2% mới học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp 2 [1]. Vì ít có điều
kiện học hành nên những người phụ nữ này không được tiếp cận một cách có bài
bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên
tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do học từ họ hàng và bạn bè hay từ
chồng mình. Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt kiểu này
thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ.
- Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết
các nước đang phát triển. Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình
độ học vấn thấp, tức là rất ít phụ nữ có kỹ năng hoặc có điều kiện để cạnh tranh một
13
cách bình đẳng trong công việc được trả lương cao. Một nguyên nhân khác không
kém phần quan trọng là những định kiến xã hội coi thường phụ nữ đã được hình
thành ở hầu hết các nước đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp
cao và kỹ năng tốt thì công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng
đáng. Gần như ở khắp nơi mức thu nhập của phụ nữ nông thôn chưa bằng một nửa
của nam giới nông thôn. Có khi cùng làm một công việc như nhau, nam giới được
trả công nhiều hơn nữ giới.
+ Ở cấp độ toàn cầu
- Phụ nữ thực hiện 67% số giờ làm việc (trong một tuần)
- Thu nhập của phụ nữ chiếm 10% thu nhập thế giới
- Phụ nữ mù chữ chiếm 2/3 tổng số người mù chữ trên thế giới
- Phụ nữ được trả lương thấp hơn nam giới [7].
Vấn đề về quyền: sự không tương xứng về quyền giữa nam và nữ diễn ra phổ
biến, trong những quy định về pháp lý, luật và trong thực tiễn tại các cộng đồng và
hàng năm nước ta có khoảng 80-90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó lao
động nữ chiếm 55%
+ Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị
giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
+ Ba là, do sự tan rã của thị trường Châu Âu, Nga vào đầu những năm 90,
khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ
hàng hóa, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp.
+ Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác
xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả
là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về
nghề nông.
- Vai trò và những đóng góp chủ yếu của phụ nữ Việt Nam trong phát triển
kinh tế - xã hội.
Quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ đã được nghi trong Hiến pháp Việt Nam
năm 1946 và năm 1992 (được sửa đổi và bổ sung năm 2001) một lần nữa khẳng
định: “Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội
và gia đình. Nhà nước và xã hội tạo mọi điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi
mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63).
15
Bảng 2.1 Tỷ lệ lao động nữ của Việt Nam trong một số ngành
Ngành
Năm 2013
(%)
Ngành
Năm 2013
(%)
Nông, lâm, thủy sản
50,7
Vận tải kho bãi
9,2
Nghệ thuật, vui chơi và giải trí
50,8
Dịch vụ lưu trú và ăn uống
71
Làm thuê trong các hộ gia đình
92,9
Thông tin và truyền thông
36,1
Hoạt động dịch vụ khác
44,2
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2014)
Hiện nay, lao động nữ tham gia vào tất cả các hoạt động xã hội, nhưng với đặc
tính riêng của mình là khéo léo, chịu khó nên tỷ lệ nữ tham gia vào các hoạt động
làm thuê trong các hộ gia đình, giáo dục và đào tạo, dịch vụ lưu trú và ăn uống là
tương đối cao.
Có thể nói rằng, tỷ lệ phụ nữ tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở
địa phương là khá thấp, không đạt yêu cầu. Trong những năm gần đây, được sự
quan tâm của Đảng và nhà nước, lao động nữ đã khẳng định vai trò của mình trong
vai trò quản lý. Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ nữ quản lý vẫn thấp, điều này chủ
yếu do trình độ học vấn của nữ vẫn còn thấp chưa đáp ứng được các yêu cầu cao
cùng với sự phát triển của xã hội.
Bảng 2.2. Phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp
Chức danh
Tỷ lệ (%)
Nữ đại biểu HĐND (2011-2016)
- Cấp tỉnh/thành
27,17
42,6
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2014)
Tập đoàn kiểm toán và tư vấn kinh tế hàng đầu Thế giới Grant Thornton công
bố một khảo sát cho thấy, phụ nữ vẫn chỉ nắm giữ ít hơn ¼ các vị trí quản lý cấp
cao trong các công ty tư nhân toàn cầu. Riêng Việt Nam xếp thứ 12 thế giới về tỷ lệ
phụ nữ trong bộ máy quản lý cấp cao (chiếm 28%).
Như vậy, lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng đã đóng
góp to lớn vào phúc lợi gia đình và xã hội. Họ kinh doanh, sản xuất, làm ruộng,
mang lại thu nhập bằng tiền mặt, chăm sóc con cái và làm các công việc nội trợ .
Thực tế trong khi phụ nữ làm phần lớn công việc nội trợ và chăm sóc người phụ
thuộc (trẻ em và người già) với sự giúp đỡ ít ỏi của người nam giới thì sự đóng góp
vào sản xuất của họ cho gia đình gần bằng nam giới.
17
Phần 3
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn
xã Cao Tân – huyện Pác Nặm – tỉnh Bắc Kạn.
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
* Địa điểm tiến hành
- UBND xã Cao Tân, các hộ gia đình tại các thôn Nà Quạng, Pù Lườn, Bản
Nhàm.
* Thời gian tiến hành
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ ngày 28/1/2015 đến
ngày 30/4/2015. Số liệu của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế - xã