skkn nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở trường trung học phổ thông xuân mỹ, huyện cẩm mỹ, tỉnh đồng nai giai đoạn 2016 – 2020 - Pdf 37

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Xuân Mỹ
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
ở trường Trung học phổ thông Xuân Mỹ, huyện
Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020

Người thực hiện: Đỗ Huy Khánh
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................. 
(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)
 Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

Năm học: 2015 - 2016


7. Chức vụ:

Hiệu trưởng

ĐTDĐ:

0975.167.225

8. Nhiệm vụ được giao: Quản lý giáo dục
9. Đơn vị công tác:

Trường THPT Xuân Mỹ

II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sỹ
- Năm nhận bằng: 2002, 2011, 2013, 2016.
- Chuyên ngành đào tạo: Thạc sỹ Quản lý giáo dục, Cử nhân Ngữ Văn, Cử
nhân Giáo dục chính trị, Cao cấp lý luận chính trị.
III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy, quản lý
- Số năm có kinh nghiệm: 14 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
1. Một số giải pháp quản lý để đổi mới, phát triển giáo dục – đào tạo tại trường
THPT Xuân Mỹ.
2. Nâng cao hiệu quả giảng dạy trong một tiết văn học sử”.
3. Thực trạng về công tác kiểm tra nội bộ tại trường THPT Xuân Mỹ, nguyên
nhân và các giải pháp khắc phục.
4. Hiệu trưởng quản lý trang thiết bị giáo dục tại trường THPT Xuân Mỹ,
huyện cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

quyền lực gì về chính trị
Cuộc đấu tranh cho dân chủ được mở đầu bằng các cuộc đấu tranh, vận động
tư tưởng – văn hóa sôi nổi, rộng lớn mà điển hình là phong trào Phục hưng ở Châu
Âu (từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI). Phong trào này gắn với những tên tuổi vĩ đại,
“những con người khổng lồ” như Côpecnic, Sếchxpia, Lêôna Đơvanhxi… Nó đã
khẳng định vị trí của con người thực sự với tư cách là chủ thể sáng tạo của xã hội.
Đồng thời, thể hiện những yêu cầu đòi tự do trong tư tưởng và dân chủ trong văn
hóa, trong khoa học, chống lại sự ảnh hưởng chi phối của chủ nghĩa kinh viên, chủ
nghĩa thầy tu và thần học. Các nhà triết học khai sáng với những tên tuổi như:
6


Vonte (1694-1778), Rútxô (1712-1778), Điđơrô (1713-1784) đã đưa ra những tư
tưởng về xây dựng một nhà nước cộng hòa dân chủ.
Tiếp nối truyền thống đấu tranh đó, giai cấp tư sản – một giai cấp tiến bộ
đang lên lúc bấy giờ đã giương cao ngọn cờ “tự do, bình đẳng, bác ái”, tập hợp lực
lượng đông đảo để lật đổ chế độ phong kiến hà khắc, thiết lập quyền lực chính trị
của giai cấp tư sản. Cuộc cách mạng tư sản thắng lợi (tiêu biểu là cuộc Cách mạng
tư sản Pháp, năm 1789) đã thiết lập một chế độ dân chủ mới – dân chủ tư sản.
Dân chủ tư sản ra đời đánh dấu bước tiến mới trong lịch sử phát triển của
chế độ dân chủ. Giai cấp tư sản, trong buổi ban đầu của mình có vai trò to lớn
trong việc xóa bỏ tất cả những chuẩn mực hà khắc trói buộc con người trong xã hội
phong kiến, “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn những lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”.
Song về thực chất, nền dân chủ tư sản mang bản chất của giai cấp tư sản. Nó
bảo vệ địa vị chính trị và lợi ích kinh tế của giai cấp tư sản; đồng thời nó chống lại
những tư tưởng tự do, bình đẳng của giai cấp vô sản và toàn thể nhân dân lao động.
Dân chủ tư sản chỉ là dân chủ cho thiểu số, cho giai cấp tư sản mà thôi. Vì vậy, nó
không phải là nền dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. V.I. Lênin đã
vạch trần sự giả dối của nền dân chủ tư sản: “chế độ dân chủ tư sản, tuy là một

xiềng xích mới khắc nghiệt hơn: một bên là máy móc của các nhà tư bản còn một
bên là dạ dày của người công nhân. Mác và Ăngghen còn chỉ rõ bản chất của giai
cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã “không để lại giữa người
và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối “tiền trao cháo
múc” không tình nghĩa. Do đó, điều kiện tất yếu của giai cấp vô sản là phải thực
hiện một cuộc cách mạng, để giành lấy chính quyền trong giai đoạn thứ nhất của
cuộc cách mạng.
Dân chủ là sản phẩm của quyền tự quyết của nhân dân: Nó phản ánh sự tồn
tại của con người với ý chí, tài năng và lợi ích của họ. Theo Mác và Ăngghen thì
dân chủ phải hướng đến một cơ sở hiện thực, với những con người hiện thực chứ
không chỉ dừng lại ở những lời tuyên bố, dân chủ hình thức.
Sau này Lênin là người kế thừa xuất sắc những giá trị tư tưởng của Mác và
Ăngghen trong đó có tư tưởng về dân chủ. Theo Lênin, dân chủ có nghĩa là tự do
bình đẳng, là quyền quyết định của đa số. Ở đâu có áp bức, bất công thì ở đó không
thể có tự do, không thể có bình đẳng và càng không thể có dân chủ. Lênin cho
rằng, Cách mạng tư sản thành công là một bước tiến mới về dân chủ, nhưng với
bản chất kinh tế là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên đã dẫn tới một xã hội
ngày càng mất dân chủ. Do đó, giai cấp vô sản cần phải làm một cuộc cách mạng
8


nhằm lật đổ giai cấp tư sản, thực hiện quyền lực của nhân dân, xây dựng một nền
dân chủ thực sự tốt đẹp cho toàn thể nhân dân lao động.
2.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về dân chủ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tư tưởng về dân chủ là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống
tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nghiên cứu nhiều cuộc cách mạng trên thế giới, đặc
biệt từ nghiên cứu cách mạng tư sản Pháp và cách mạng tư sản Mỹ, Người đi đến
kết luận: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản,
cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước

quốc.
Dân chủ là mục tiêu, là động lực to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập,
tự do cho dân tộc, cho nhân dân lao động.
Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc xây dựng một chế độ dân chủ tiến bộ, xây
dựng nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, để nhân dân được thể hiện quyền
dân chủ mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Người luôn nhắc nhở
rằng, khi cách mạng thành công thì phải giao quyền lực cho “dân chúng số nhiều”
và không nên để trong tay “một bọn ít người”, có như thế mới tránh khỏi hi sinh
nhiều lần, dân chúng mới thực sự được hạnh phúc. Dân chủ gắn liền với thực hiện
bình đẳng, công bằng và tự do nên cũng đồng thời gắn liền với nhà nước. Do đó,
xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân cũng chính là xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa.
Người cũng cho rằng thực hành dân chủ cũng là yếu tố quan trọng không thể
thiếu. Mục đích của việc thực hành dân chủ là làm cho dân chúng ai cũng được
hưởng quyền tự do, dân chủ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Làm sao biết hưởng
quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ, dám nói dám làm”, là vấn đề cần thiết và
quan trọng. Do đó, cần phải giáo dục cho nhân dân hiểu quyền làm chủ của mình
mọi lúc, mọi nơi. Khi dân biết và dám phê bình người lãnh đạo, khi ấy dân đã biết
nắm quyền dân chủ của mình, đã biết thực hành dân chủ. Hồ Chí Minh khẳng định:
“Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thế giải quyết mọi khó khăn”.
Đây là tư tưởng thể hiện tinh thần dân chủ của Hồ Chí Minh.
2.1.4.Quan điểm của Đảng về dân chủ
Phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân là một trong những nội dung
quan trọng và nhất quán trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quyền làm chủ của nhân dân không phải chỉ nêu một cách chung chung, trừu
tượng mà được khẳng định trên thực tế, thể hiện trong Hiến pháp và Pháp luật,
10


trong các văn kiện Đại hội Đảng. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

11


mọi người phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực
hiện quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng
sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước.

2.1.5. Quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung và ở các trường học nói riêng
Đất nước ta trong thời kỳ đổi mới đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ,
từ một nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung - bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị
trường. Bên cạnh những thành công về phát triển kinh tế, đổi mới xã hội, chúng ta
vẫn còn những tồn tại và hạn chế, yếu kém, tình trạng tham ô, tham nhũng xảy ra
ngày càng phức tạp, làm suy yếu nền kinh tế, làm nghèo đất nước. Đối với xã hội
thì việc thực hiện pháp luật còn chưa nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng kéo
dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội. Ở một số nơi cán bộ ở cơ sở đã
lợi dụng chức quyền, nhũng nhiễu nhân dân, do đó đã gây mất lòng tin trong nhân
dân; phát sinh ra mâu thuẫn nội bộ, gây mất đoàn kết trong một số địa phương, gây
ra tình trạng khiếu kiện tập thể ngày càng gia tăng; Quyền làm chủ của nhân dân bị
vi phạm ở nhiều địa phương; nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, sách nhiễu, gây phiền hà
cho dân vẫn đang diễn ra phổ biến.... Đứng trước thực trạng mất dân chủ ở một số
nơi, Đảng ta đã nhận thức được vai trò của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong sự
ổn định kinh tế, chính trị, xã hội đối với sự phát triển đất nước. Tại Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khoáVIII) Đảng đã yêu cầu phát huy mạnh mẽ
quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội;
Đảng nhận định: phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa
được thể chế hoá thành pháp luật, cho nên phương châm đó đã chậm đi vào cuộc
sống, quyền làm chủ của nhân dân chưa được thực hiện, thậm chí bị xâm phạm.
Để triển khai đồng bộ, toàn diện và cụ thể việc phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, ngày 18/2/1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 30-CT/TW
về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở được xác định bao gồm 3 loại

quan, đơn vị….
Những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến: Chủ trương, giải
pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công
việc của cơ quan, đơn vị; kế hoạch công tác hàng năm, tổ chức phong trào thi đua,
báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan, đơn vị; các biện pháp cải tiến tổ chức, hoạt
động và lề lối làm việc; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí, chống quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân; kế hoạch tuyển dụng, đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; bầu cử, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên
chức; các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của cán bộ, công chức,
viên chức; các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.
14


Những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra: Thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kế hoạch công tác hàng
năm của cơ quan, đơn vị; sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế
độ quản lý và sử dụng tài sản, thực hiện các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị,
các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợi ích của cán bộ, công chức,
viên chức; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị.
Ngoài ra còn có các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,
đơn vị, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong quan hệ và giải quyết
công việc với công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan
2.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
2.2.1. Cơ sở chính trị
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
năm 2011.
- Chỉ thị số 30- CT/TW ngày 18/02/1998 "Về xây dựng và thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở" của Bộ Chính trị.
- Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30 tháng 3 năm 2007 của Ban Bí Thư Trung ương
về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.


376

297

345

KH năm học 2015 2016

1016

382

354

280

2.4.2. Thực trạng triển khai, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở trường
Trung học phổ thông Xuân Mỹ
2.2.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường
Sau khi có Chỉ thị số 30-CT/TW, Chi ủy, Hiệu trưởng nhà trường đã tổ chức
triển khai thực hiện đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và đến
16


toàn thể phụ huynh học sinh cũng như các em học sinh trong trường các văn bản
có liên quan, gồm: Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của chính phủ ban hành Quy chế
thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nay là Nghị định số 04/2015/NĐCP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ
quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Quyết định số
04/2000/QĐ-BGDĐT ngày 01/3/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về


cao trình độ, có thể lựa chọn học tập trung không tham gia giảng dạy, vẫn được
hưởng lương nhưng không có phụ cấp đứng lớp; hoặc là tham gia dạy một số tiết
theo quy định của nhà trường thì sẽ được hưởng phụ cấp đứng lớp.
Hàng tháng, Hiệu trưởng nhà trường đều tổ chức họp hội đồng, họp chuyên
môn để đánh giá hoạt động của trường trong tháng vừa qua, đồng thời nêu kế
hoạch hoạt động trong tháng tới. Giáo viên mạnh dạn có ý kiến về các nhận xét của
Hiệu trưởng đối với tập thể hội đồng sư phạm thời gian qua, cũng như đưa ra các ý
kiến đóng góp về kế hoạch hoạt động trong thời gian sắp tới. Không tổ chức họp
tổng kết theo quý, nhưng có tổ chức họp sơ kết học kỳ và tổng kết năm học theo
đặc thù của ngành giáo dục.
Vào cuối tháng 5 hàng năm, Hiệu trưởng có tổ chức đánh giá giáo viên, bình
xét thi đua theo đúng quy định.
Hiệu trưởng luôn lắng nghe ý kiến đóng góp của giáo viên, tuy nhiên việc ý
kiến phản ánh, phê bình của giáo viên, nhân viên đối với Hiệu trưởng nói riêng và
Ban giám hiệu nói chung vẫn chưa nhiều vì còn e ngại, cả nể . Tại đơn vị trường
học, thì giáo viên có thể gặp Hiệu trưởng lúc nào có việc cần, không cần đăng ký.
Do đó việc trao đổi thông tin giữa hiệu trưởng và cấp dưới được thực hiện thường
xuyên, mật thiết.
Hiệu trưởng đã thông báo công khai những việc mà giáo viên, công nhân
viên được biết thông qua cuộc họp, qua việc niêm yết tại bảng tin của trường, qua
trang thông tin điện tử của nhà trường.
Hiệu trưởng ban hành quy chế quản lý trang thiết bị làm việc trong cơ quan
đơn vị vào đầu mỗi năm học. Kinh phí hoạt động hàng năm của trường đã được
công khai rõ ràng bằng cách báo cáo thu chi hàng tháng niêm yết tại bản tin tài
chính của trường. Việc mua sắm thiết bị, phương tiện và các tài sản của nhà trường
thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Hiệu trưởng đã xây dựng được Kế hoạch phòng chống tham nhũng tại đơn
vị. Tuy nhiên, trong các năm vừa qua nhà trường chưa phát hiện trường hợp nào có
hành vi tham nhũng.

mình. Các bản nhận xét đều chỉ mang tính chung chung có nội dung gần giống
nhau.
Tập thể giáo viên, công nhân viên chưa chú trọng việc đóng góp ý kiến vào
việc xây dựng các văn bản, đề án của nhà trường. Hầu hết các văn bản, đề án của
trường đều do cán bộ quản lý làm, một số văn bản như kế hoạch năm học, kế
20


hoạch ứng dụng công nghệ thông tin năm học…có thông qua để lấy ý kiến của tập
thể, nhưng hầu như không có ai góp ý, một số văn bản cũng không thông qua mà
chỉ báo cáo lên cấp trên như đề án dạy và học ngoại ngữ, đề án xây dựng trường
chuẩn quốc gia giai đoạn 2015-2020…
Từ năm 2010 đến năm 2015, trường Trung học phổ thông Xuân Mỹ không
có giáo viên nào vi phạm quy chuẩn đạo đức nhà giáo cũng như vi phạm pháp luật.
Về những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết
Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến
hoạt động của đơn vị đều được Hiệu trưởng công khai trong các cuộc họp, có ghi
biên bản, một số văn bản được niêm yết tại đơn vị, và đăng tải trên trang Thông tin
điện tử của đơn vị. Đối với các văn bản hướng dẫn cụ thể về hoạt động của nhà
trường, hiệu trưởng còn gửi trực tiếp cho các Tổ trưởng để họ nắm rõ và phổ biến
cho giáo viên. Kế hoạch công tác năm và tháng cũng được công khai bằng hình
thức niêm yết.
Kinh phí hoạt động hàng năm của trường đã được công khai rõ ràng bằng
cách báo cáo thu chi hàng tháng, hàng quý và có niêm yết tại bản tin tài chính của
trường, tuy nhiên giáo viên, công nhân viên của trường thường ít quan tâm. Chỉ có
thanh tra nhân dân và một số rất ít giáo viên quan tâm.
Ban giám hiệu nhà trường cũng thực hiện tốt việc công khai về tuyển dụng,
đào tạo, bồi dưỡng, bằng cách thông báo tuyển dụng công khai trên các phương
tiện thông tin đại chúng, tổ chức thi tuyển đúng quy chế. Vì vậy đơn vị
chưa xảy ra vụ việc tiêu cực, tham nhũng nào tại đơn vị. Bản kê khai tài sản thu

Hiệu trưởng đã chỉ đạo niêm yết tại đơn vị quy chế tiếp công dân và các thủ
tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của trường trung học phổ thông. Trong
các thủ tục hành chính nêu đầy đủ nội dung mẫu đơn, lệ phí giải quyết, thời gian
giải quyết.
Hiệu trưởng thường xuyên theo dõi, đôn đốc văn thư trong việc giải quyết
các yêu cầu của người dân, chủ yếu là giải quyết hồ sơ xin chuyển trường, hồ sơ
nhập học của phụ huynh học sinh…văn thư nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ, hầu
hết hoàn thành hồ sơ trong ngày để người dân không phải chờ đợi hoặc đi lại nhiều
lần.
Hiệu trưởng đã bố trí một phòng tiếp dân và phân công các thành viên Ban
giám hiệu trực tiếp công dân để kịp thời giải quyết các yêu cầu, thắc mắc của
22


người dân. Hòm thư góp ý của đơn vị được treo trước cửa phòng tiếp dân, vào cuối
tuần Thanh tra nhân dân sẽ cùng với Hiệu trưởng mở hòm thư góp ý. Tuy nhiên,
cho đến thời điểm hiện tại, nhà trường vẫn chưa nhận được thư góp ý.
Về quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan với cơ quan, đơn vị cấp trên
Hiệu trưởng nhà trường đã thực hiện đúng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai cũng như của Ủy
ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Hiệu trưởng đã có văn bản xin ý kiến của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với
những khó khăn xảy ra trong quá trình điều hành tại đơn vị. Ban giám hiệu luôn
thực hiện tốt việc tham gia đóng góp ý kiến đối với việc xây dựng các đề án, dự án,
kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo, nhất là việc đóng góp ý kiến xây dựng kế
hoạch năm học.
Định kỳ, Ban giám hiệu báo cáo hoạt động của nhà trường về Sở Giáo dục
và Đào tạo, như báo cáo tổng kết năm học, báo cáo việc thực hiện các chỉ thị, đề án
theo từng giai đoạn. Hiệu trưởng nhà trường thực hiện tốt công tác báo cáo và
được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai tặng giấy khen, là đơn vị xuất sắc

cán bộ, công chức đã góp ý, phê bình; giải quyết kịp thời các khiếu nại và thực
hiện việc công khai kết quả giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức luôn có ý thức thực hiện nghiêm quy
chế dân chủ; thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; chấp hành sự phân công của
lãnh đạo trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; thường xuyên tu dưỡng,
rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thông qua thực
hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, nhận thức của cán bộ, công chức tiếp tục có chuyển
biến nâng lên, đề cao trách nhiệm, thực hiện nội quy, quy chế của cơ quan, nội bộ
đoàn kết, ít xảy ra tiêu cực.
Việc tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hằng năm của nhà
trường đã được thực hiện nghiêm túc. Nhà trường đã xây dựng quy chế làm việc;
quy chế phối hợp giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan và tổ chức công đoàn; quy chế chi
tiêu nội bộ... khá đầy đủ, đã tạo điều kiện cho cán bộ công chức, viên chức thực
hiện dân chủ trực tiếp trong hoạt động của cơ quan, đơn vị.
Việc quản lý tài sản được công khai theo từng thời gian, công chức, viên
chức được tham gia ý kiến, bàn bạc, đề xuất, chi tiêu ngân sách mua sắm tài sản;
việc quy hoach, đánh giá cán bộ, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ công chức được thực
hiện đúng quy trình.
24


Trong quan hệ giải quyết công việc với công dân, các tổ chức, hầu hết công
chức, viên chức của nhà trường đều thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, có mối quan
hệ tốt với học sinh và phụ huynh học sinh, với nhân dân, giải quyết công việc theo
đúng thẩm quyền. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được nhà trường giải quyết
kịp thời, đạt hiệu quả.
Hạn chế
Công tác triển khai, tuyên truyền các văn bản về thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở tuy được tập trung chỉ đạo nhưng chưa được thường xuyên, chưa tạo được
sự chuyển biến mạnh mẽ từ nội bộ của cơ quan, đơn vị. Nhận thức về thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status