Luận văn đảng bộ huyện thanh sơn ( phú thọ ) lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014 - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
……………………………...

HOÀNG THỊ HƢƠNG THANH

ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN (PHÚ THỌ)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
………………………………

HOÀNG THỊ HƢƠNG THANH

ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN (PHÚ THỌ)
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Sỹ Giáo

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn
chế. Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô, bạn bè để tôi có cơ hội trở lại vấn
đề này một cách tốt nhất.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................1 2.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài..............................................................3 3. Mục
tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................................5 4. Đối tượng
và phạm vi nghiên cứu...........................................................................6 5. Nguồn tài liệu
và phương pháp nghiên cứu. ...........................................................6 6. Đóng góp của luận
văn............................................................................................7 7. Cấu trúc của luận
văn..............................................................................................7
Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................8
1.1 Cơ sở lý luận ........................................................................................................8
1.1.1. Các nguyên tắc của chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh..........................8
1.1.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc....................11 1.2 .
Cơ sở thực tiễn.................................................................................................17 1.2.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Sơn ....................................17 1.2.2. Sinh
thái nhân văn và bức tranh phân bố cư dân - dân tộc ............................22 1.2.3. Văn hóa
các dân tộc thiểu số rất phong phú và đa dạng................................26 1.2.4. Quá trình thực
hiện chính sách dân tộc trước năm 2007 của Đảng bộ huyện Thanh
Sơn. ................................................................................................................27 TIỂU
KẾT CHƢƠNG 1 .........................................................................................30
Chƣơng 2 CHỦ TRƢƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN TỪ KHI CHIA
TÁCH HUYỆN ĐẾN NĂM 2014...........................................................................32
2.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Thanh Sơn về thực hiện chính sách dân

cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: "Bầu ơi thương lấy bí
cùng; Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Trong 54 dân tộc cùng tụ cư trên
lãnh thổ thì người Kinh chiếm đa số, còn lại là 53 dân tộc thiểu số. Phần lớn các dân tộc
thiểu số thường sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa - nơi có vị trí chiến lược về an ninh
quốc phòng, nhưng đời sống của họ còn nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần. Ở nơi
đây trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại. Chính điều
này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cuộc sống của họ khi mà các phần tử phản
động thường triệt để lợi dụng để phá hoại nhằm gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân
tộc, gây bất ổn về an ninh, chính trị tại các địa bàn trọng yếu này.Trước thực trạng đó,
trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc, hoạch
định nhiều chủ trương chính sách nhằm thực hiện nhất quán sự bình đẳng giữa các dân
tộc, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển, không ngừng cải thiện, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt là các dân tộc thiểu số ở
vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng,
đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các nước trên thế giới, Việt Nam cũng không
phải trường hợp ngoại lệ. Đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn ấy, để xây dựng
đất nước đi lên bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới, trong đường lối phát triển của
Đảng, vấn đề dân tộc luôn chiếm một vị trí đặc biệt quan

1


trọng. Thực tiễn ở Việt Nam, công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc cũng
đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm và giải quyết như: quan hệ dân tộc - tộc người,
di dân tự do, đói nghèo, tranh chấp đất đai, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống…Vấn đề
đặt ra là Đảng và Nhà nước phải xây dựng được hệ thống chính
sách dân tộc hợp lý, đảm bảo mang lại quyền bình đẳng thực sự cho các dân tộc.
Thanh Sơn là huyện miền núi thuộc phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ. Trên địa
bàn huyện có 16 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 61% dân số toàn

trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất: Sự tổng kết của Đảng Cộng sản Việt Nam, rút kinh nghiệm, đề ra
đường lối, chủ trương chính sách dân tộc ở nước ta. Sự tổng kết đó được phản ánh trong các
Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX..., một số Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương, Nghị quyết Bộ chính trị...Đây là những quan điểm đánh giá chính thức của Đảng về
quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc.
Nhóm thứ hai: Những nghiên cứu đề cập đến chính sách dân tộc được xuất
bản như:
- Sách "Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi" do
Bế Viết Đẳng (cb), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
- Sách "Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta" của tác giả Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2009.
- Sách "Chính sách dân tộc, những vấn đề lý luận và thực tiễn", Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1990.
- Sách "Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời
kỳ công nghiệp, hóa hiện đại hóa" của Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
- Sách "Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam"
của Học viện Chính trị quốc gia Hồ CHí Minh, Nxb Chính trị quốc qia Hà Nội, 1996.
- Sách "Kinh tế miền núi và các dân tộc - Thực trạng, vấn đề, giải pháp" của tác
giả Phạm Văn Vang, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1996.
- Sách "Văn hóa và sự phát triển của các dân tộc ở Việt Nam" của Nông Quốc
Chấn (cùng nhiều tác giả), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1997.

3


- Sách "Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc", Nxb Văn
hóa xã hội, Hà Nội, 2000.


học của tác giả Phạm Công Tâm; "Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (2006), Luận án Tiến sỹ Triết học của
tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy; "Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (từ thực tiễn các tỉnh miền núi phía Bắc)"
(2001), Luận văn Thạc Sỹ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy; "Các Đảng
bộ tỉnh khu vực Bắc Tây Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1996
đến 2005" (2007), Luận văn Thạc sỹ Lịch sử của Phạm Văn Hồ; "Đổi mới việc thực hiện
chính sách dân tộc ở tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay" (2006), Luận văn Thạc sỹ
Lịch sử của tác giả Hoàng Thu Thủy; "Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005" (2007), Luận văn Thạc sỹ Triết học của Vũ
Quang Trọng; "Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng đối với dân tộc thiểu số thời kỳ 1996-2007" (2012)...
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều phương diện khác nhau
về lý luận cũng như thực tiễn đối với vấn đề dân tộc và việc thực chính sách dân tộc
của Đảng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,
toàn diện, có tính hệ thống về quá trình Đảng thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn
huyện Thanh Sơn từ khi chia tách huyện năm 2007 đến năm 2014. Các công trình nghiên
cứu nói trên là nguồn tài liệu quan trọng, là cơ sở để chúng tôi tiếp thu, kế thừa, bổ sung
và phát triển trong quá trình thực hiện luận văn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu:
Nghiên cứu, làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Thanh sơn lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng đối với các dân tộc thiểu số ở Thanh Sơn, qua đó đúc rút ra
những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc.
- Nhiệm vụ: Đi sâu nghiên cứu nhằm làm sáng rõ
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
+ Tình hình phân bố dân tộc, dân cư trên địa bàn huyện Thanh Sơn.


thực hiện.

6


6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống quan điểm, chủ trương và quá trình Đảng bộ
huyện Thanh Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong thời gian từ năm 2007
đến 2014.
- Cung cấp thêm những luận cứ có liên quan đến việc thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng ở huyện Thanh Sơn, qua đó góp phần giúp các cơ quan của huyện nghiên
cứu, hoạch định các chủ chương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn
huyện, nhất là vùng dân tộc thiểu số cho phù hợp.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên cứu và giảng
dạy về chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
- Rút ra những kinh nghiệm, đề xuất những kiến nghị về việc thực hiện chính sách
dân tộc trong những năm tiếp theo.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo việc thực hiện chính sách
dân tộc - Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ khi chia tách huyện đến năm 2014
- Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

7


Chƣơng 1

8


xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết dân tộc. Người luôn luôn đánh giá cao vai trò của
nhân dân: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì
mạnh bằng sức mạnh của nhân dân" [37, tr. 267]. Nhân dân chính là người sáng tạo ra
lịch sử, do đó muốn thực hiện đại đoàn kết lâu dài thì phải luôn luôn lấy dân làm gốc.
Người khẳng định: Nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh của các dân tộc, nước Việt Nam
ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng, tất cả đều như anh em trong
một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để
giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa [35,
tr. 10].
Người nhấn mạnh : "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê,
Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau" [35, tr.
217].
Người cũng chỉ ra rằng: các dân tộc anh em sinh sống trên đất nước phải đoàn
kết với nhau: "Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc
nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người phải cố gắng làm ruộng. Hai
bên giúp đỡ nhau" [36, tr. 227].
Chủ tịch Hồ chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng, tiềm năng to lớn
của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp cách mạng: "Miền núi nước ta
chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế" [37, tr. 134]. Người đánh
giá cáo bản lĩnh, tính thật thà, chất phác, trọng lẽ phải của đồng bào các dân tộc: "Đồng
bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm
được" [39, tr.138].
Đánh giá đúng vị trí của miền núi, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cơ
sở để đề ra chiến lược và mục tiêu phù hợp với nhiệm vụ cách mạng cụ thể trong từng
thời kỳ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Người chỉ rõ:
"Đảng và Nhà nước dân chủ nhân dân cần phải làm cho miền núi tiến kịp với miền

Trong nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, vấn đề
dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc được Đảng đề ra trong chương trình hành
động và được Quốc tế cộng sản hoàn toàn nhất trí. Đảng Cộng sản thừa nhận các dân tộc
được quyền tự do hoàn toàn. Đảng chống chế độ thuộc địa, chống lại các hình thức trực
tiếp và gián tiếp đem dân tộc này đàn áp bóc lột dân tộc khác. Các dân tộc vào Liên
bang được hưởng quyền lợi và chịu trách nhiệm như nhau. Mỗi dân tộc trong Liên bang
lại có quyền tự trị, nghĩa là được giải quyết lấy vấn đề địa phương chỉ quan hệ đến dân
tộc mình, được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hóa
của mình.

11


Vào thời điểm lúc bấy giờ khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc đang đặt ra
cấp thiết, quan điểm trên của Đảng cho thấy, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,
quyền tự quyết và quyền tự trị của các dân tộc được tôn trọng, đây là trọng điểm để giải
quyết vấn đề dân tộc lúc đó. Nội hàm của quyền tự trị đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng
dân tộc.
Đến đầu những năm 1950, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
của nhân dân ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2 - 1951). Về vấn đề dân tộc và việc
thực hiện chính sách dân tộc , Nghị quyết Đại hội chỉ rõ:
Để phá tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch, cần phải thực hiện phát triển rộng
rãi khối đoàn kết với các dân tộc thiểu số, kể cả Hoa Kiều…Trong việc thực hiện đoàn kết,
ta cần chú trọng gây cơ sở quần chúng đi đôi với việc thuyết phục thổ - ty, chú trọng
nhiều đến nâng cao mức sống, giáo dục và tổ chức quần chúng. Những việc cải cách
đóng góp cần phải vừa với sự giác ngộ của dân, với khả năng của họ, không nên ép.
Những Ủy ban tỉnh, huyện nơi có dân tộc thiểu số, cần có người của họ đề cử vào để
giúp họ tiến bộ và điều hòa mọi quan hệ giữa các chủng tộc. Trong khi tiếp xúc với đồng
bào dân tộc thiểu số, chúng ta cần thân mật, có thái độ thành khẩn đoàn kết giúp đỡ họ

vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm và điều kiện từng vùng, từng dân tộc, bảo
đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho
mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và
có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục
tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người [17, tr. 77].
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng (1996) tiếp tục nhấn mạnh:
Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp
đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Luật dân tộc. Từ nay đến
năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu:
Xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng
bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí,
tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính
trị, đội ngũ cán bộ và Đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững
mạnh [19, tr. 125-126].
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001)
chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt các chính sách, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương
trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển
sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, mở mang
dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các
dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa

15


miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây
là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của những người
tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống

17


Địa hình Thanh Sơn khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông
suối, trong đó có núi Lưỡi Hái và sông Vàng chạy bao quanh các xã trong toàn huyện.
Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, có thể chia thành 3 tiểu vùng: vùng núi cao tập trung
ở phía Tây, vùng đồi núi cao xen lẫn với vùng đồi núi thấp tập trung chủ yếu ở phía
Bắc, vùng núi thấp tập trung ở phía Đông và Đông Nam cùng những thung lũng chạy
dọc theo các con sông, độ cao trung bình từ 500m đến 700m.
Đặc điểm khí hậu thủy văn, Thanh Sơn nằm trong vùng núi phía Bắc nước ta, có
khí hậu nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, có nhiều núi đá vôi, khí hậu của Thanh Sơn
mang đặc điểm của vùng núi Tây Bắc, song cũng có những đặc điểm riêng, mát hơn các
vùng lân cận, độ ẩm tương đối, nhiệt độ trung bình từ 22,5°C-23,5°C, biên độ nhiệt trong
năm có sự dao động trên 10°C và trong ngày từ 6°C-7°C. Mùa nóng nhiệt độ tuyệt đối lên
khoảng 39°C-40°C (vào khoảng tháng 6, tháng 7 trong năm), mùa lạnh nhiệt độ thấp
tuyệt đối khoảng 7°C-8°C (tháng Chạp). Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 10.
Chế độ mưa ở Thanh Sơn khá phong phú, lượng mưa hàng năm khoảng 2300- 2400 mm.
Độ ẩm tương đối, trung bình hàng năm 85-87%, cao nhất vào tháng 6,7,8 đạt
khoảng 87-88%; thấp nhất vào khoảng tháng 1,2,3, đạt khoảng 81%; ranh giới mùa mưa
và mùa khô tương đối không rõ rệt. Lượng mây trung bình 6,5/10, cuối mùa đông lên
tới 8-9/10 và ít nắng. Các hướng gió phụ thuộc vào địa hình. Tốc độ gió trung bình 1-1,3
m/s, có hiện tượng sương mù nhưng không lớn.
Mạng lưới sông suối trên địa bàn huyện khá nhiều nhưng nhỏ và ngắn như: sông
Bứa, sông Dân, suối Cái xã Yên Lương, ngòi Lạt xã Lương Nha và nhiều suối nhỏ khác,
là nguồn tài nguyên nước dồi dào phục vụ cho sản xuất và đời sống.
Thanh Sơn có tiềm năng lớn về đất đai, nhất là đất đồi rừng, diện tích rừng lớn, độ
che phủ cao. Tổng diện tích tự nhiên là 62.177,06 ha trong đó có 45.724,23 ha đất nông
nghiệp (chiếm 73,54%); có 4.672,39 ha là đất phi nông nghiệp (chiếm 7,51%) và
11.780,44 ha đất chưa sử dụng (chiếm 18,95%); ngoài diện tích đất dốc và phù sa thích
hợp với cây hàng năm, còn có tới 80% diện tích đất feralit phát triển trên phiến thạch sét có

Bắc nối liền với đồng bằng Bắc bộ và Thủ đô Hà Nội, nên giao thông của Thanh Sơn
khá thuận lợi với nhiều tuyến đường chạy qua được cải tạo và nâng cấp: Quốc lộ 32A
(Hà Nội - Sơn La - Lai Châu); quốc lộ 70B (Yên Lập - Thanh Sơn - Hòa Bình), tỉnh lộ
317 (Thanh Thủy -Tinh Nhuệ - Hòa Bình)...tạo điều kiện mở

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status