“Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ
năm 2005 đến năm 2015”,
1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc luôn là vấn đề rộng lớn và phức tạp
có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác nhau: Chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý,
tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ tộc. Vì vậy, giải
quyết đúng đắn vấn đề dân tộc luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan
đến sự tồn vong của cả quốc gia dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa tộc
người với 54 tộc người cùng sinh sống trên một phạm vi quốc gia dân tộc. Trong
suốt tiến trình hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, gắn bó keo sơn
trong một kết cấu thống nhất về lãnh thổ, về thể chế hành chính và ý thức hệ
quốc gia - dân tộc.
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề dân tộc và chính
sách đại đoàn kết toàn dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã luôn trung thành, kế thừa và vận dụng sáng tạo lý
luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về luận điểm “cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng” vào thực tiễn lãnh đạo cách mạng; luôn nhận thức
và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc, coi đây là vấn
đề chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng
phát triển” [36, tr.70].
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã luôn giương
cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, coi đây là vấn đề chiến lược, nguồn sức
mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với CTDT và
thực hiện CSDT, Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng nhằm nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân vùng đồng bào DTTS, vùng sâu,
1
2
nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, tập thể tác giả đề cập
ở những góc độ khác nhau, có thể chia theo các nhóm như sau:
* Nhóm các công trình nghiên cứu chung về dân tộc và chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước
Bế Viết Đẳng (1996), Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính
sách đối với các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền
núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trịnh Quốc Tuấn (1996), Bình đẳng dân
tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), Vấn đề dân tộc và chính sách
dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến
mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Viện Nghiên
cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002), Vấn đề dân tộc và định hướng xây
dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bùi Minh Đạo (2003), Một số vấn đề giảm
nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (2006), Những vấn đề cơ bản về chính sách
dân tộc ở nước ta hiện nay, NXb Lý luận chính trị, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo
(2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, NXb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc
thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, NXb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
Ngoài ra, còn nhiều bài báo, tạp chí đã được công bố đề cập đến vấn đề
dân tộc và thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước, tiêu biểu: Nông Đức Mạnh
ở Tây Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Nguyễn Thanh Thủy (2001),
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
đồng bào Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà
4
Nội; Ngô Xuân Thắng (2002), Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc thời kỳ 1992- 2002, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Đinh
Văn Hưng (2004), Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo thực hiện chính sách dân
tộc từ 1986 đến 2003, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Nguyễn Anh Tuấn
(2011), Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo công tác dân tộc từ năm 2000 đến
năm 2010, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Nguyễn Văn Nhiên (2012), Đảng
bộ tỉnh Lâm Đồng lãnh đạo vận động đồng bào dân tộc từ năm 1991 đến năm
2000, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Nguyễn Thế Thái (2013), Đảng bộ
tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ năm 2000 đến
năm 2010, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Hoàng Thu Thủy (2014), Quá
trình thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam từ năm
1996 đến năm 2010, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội.
* Nhóm các công trình nghiên cứu về dân tộc và việc thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Bắc Giang
Các công trình nghiên cứu về dân tộc và thực hiện CSDT ở tỉnh Bắc
Giang đã được công bố, tiêu biểu có: Dương Văn Trọng (2007), “Bắc Giang
đẩy mạnh phát triển kinh tế”, Tạp chí Cộng sản, số 774; Trần Hậu (2009),
“Bắc Giang thực hiện chính sách dân tộc, hiệu quả kép”, Tạp chí Dân tộc và
phát triển, số 6; Nguyễn Minh Phúc (2012), “Thực hiện chính sách dân tộc ở
tỉnh Bắc Giang: ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng”, Tạp chí Dân tộc và phát
triển, số 3; Hoàng Thị Bích Phương (2014), “Thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo ở tỉnh Bắc Giang”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5; Việt Hùng
(2014), “Bắc Giang thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc”, Báo Tin tức, ngày
cách hiểu và sử dụng khác nhau. Có thể hiểu phạm trù “Dân tộc” theo hàm
nghĩa là “quốc gia - dân tộc” (như dân tộc Việt Nam, dân tộc Nga, dân tộc
Trung Hoa…) hoặc có thể hiểu theo hàm nghĩa dân tộc - tộc người (như tộc
người Kinh, Thái, Mường, Dao, Êđê, Chăm, H’Mông…). TheoTừ điển Bách
khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một
cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một
lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc
6
hay liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng tộc người” [41, tr.172].
Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau.
Mặt khác,“Dân tộc”còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người.
Cộng đồng này có thể là một bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc
sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng
những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác tộc người. Dân tộc - tộc
người là cộng đồng người thường tự nhận mình bằng một tên tự gọi, có tiếng
nói chung, có phong tục tập quán chung.
“Dân tộc thiểu số” ở nước ta: Là những dân tộc có số dân ít hơn so với
dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Với cách hiểu này,“dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương
quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc, không xem xét trong phạm vi
một địa phương, không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của
các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số
dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.
“Vấn đề dân tộc”: Là vấn đề nổi lên cần giải quyết trên các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc nhằm thực hiện bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
trong Tỉnh, mà còn là một phương hướng tích cực nhất, chủ động nhất, có
hiệu quả nhất để đối phó với các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá,
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch, củng cố thế trận
quốc phòng - an ninh, góp phần xây dựng quê hương Bắc Giang giàu đẹp, bảo
vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm tình hình
dân tộc ở tỉnh Bắc Giang
* Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Về điều kiện tự nhiên: Bắc Giang là tỉnh nằm ở tọa độ từ 21 độ 07 phút
đến 21 độ 37 phút vĩ độ Bắc; từ 105 độ 53 phút đến 107 độ 02 phút kinh độ
Đông. Là tỉnh nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu
8
quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn
100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía Tây
và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội, Thái Nguyên; phía Nam và Đông Nam
giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh.
Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng: Miền núi và trung du có đồng bằng
xen kẽ. Đặc điểm chủ yếu về địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh)
bị chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn. Đây là địa bàn cư trú của
nhiều đồng bào DTTS trong Tỉnh. Địa hình miền trung du (chiếm 28% diện
tích toàn Tỉnh) chủ yếu là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy theo từng khu vực.
Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khu vực
Đông Bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt. Độ ẩm trung bình trong
năm là 83%, một số tháng trong năm có độ ẩm trung bình trên 85%, riêng các
tháng mùa khô có độ ẩm không khí dao động khoảng 74% - 80%. Lượng mưa
trung bình hàng năm khoảng 1.533 mm. Chế độ gió cơ bản chịu ảnh hưởng
của gió Đông Nam (mùa Hè) và gió Đông Bắc (mùa Đông). Nắng trung bình
tăng trưởng kinh tế GDP toàn Tỉnh đạt 9%/năm.” [4, tr.32]. Lĩnh vực văn hoá, xã
hội có nhiều chuyển biến tiến bộ. Hạ tầng KT - XH, đời sống của nhân dân, nhất
là đồng bào DTTS được cải thiện. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội cơ bản ổn định. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; quản lý,
điều hành của chính quyền, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân được nâng lên, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường và mở rộng.
* Đặc điểm tình hình dân tộc ở Bắc Giang
Dân số toàn tỉnh Bắc Giang ước là 1.624.456 người, mật độ dân số bình
quân là 420,9 người/km2, là Tỉnh có mật độ dân số bình quân cao hơn so với
mật độ dân số bình quân cả nước. Dân số sống ở khu vực thành thị
khoảng 183.918 người, chiếm tỷ lệ 10,13%; dân số ở khu vực nông thôn là
1.440.538 người, chiếm 90,38%. “Tỷ lệ nam giới chiếm khoảng 49,92% dân
số, nữ giới khoảng 50,08% dân số. Số người trong độ tuổi lao động chiếm
khoảng 62,15% dân số, trong đó lao động được đào tạo nghề chiếm 26%; số
10
hộ nghèo chiếm 8,88%” [19, tr. 5]. Mật độ phân bố dân cư trên địa bàn Tỉnh
không đồng đều, phần lớn tập trung ở các khu vực trung du, các huyện miền
núi dân cư sống thưa thớt hơn.
Bắc Giang là vùng đất tụ cư của 21 dân tộc anh em, trong đó có 20
thành phần DTTS với số dân là 200.538 người, chiếm 12,5% dân số toàn
Tỉnh. Đồng bào các DTTS cư trú tập trung ở 105 xã, thị trấn thuộc 6 huyện
miền núi, vùng cao: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang,
Tân Yên. Các DTTS ở Bắc Giang có truyền thống yêu nước, cần cù trong lao
động sản xuất, đoàn kết, gắn bó, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, tin
tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. (xem phụ lục 2)
Bắc Giang cũng là tỉnh có đặc điểm văn hóa phong phú và đa dạng, được
quy tụ và thể hiện thông qua đời sống, phong tục, tập quán truyền thống của
nguy cơ tái nghèo cao, gây nên những khó khăn không nhỏ cho việc triển khai
thực hiện các mục tiêu phát triển KT- XH cũng như việc thực hiện CSDT trên
địa bàn Tỉnh.
Trình độ văn hóa của đồng bào còn thấp, một số dân tộc đời sống chủ
yếu dựa vào điều kiện thiên nhiên, chưa thích ứng với khoa học kỹ thuật
hiện đại, số ít các dân tộc còn có xu hướng du canh, du cư làm ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả thực hiện CSDT trên địa bàn Tỉnh. Một bộ phận đồng
bào DTTS còn chịu nhiều ảnh hưởng của tập tục lạc hậu, bản sắc văn hóa của
một số dân tộc đang đứng trước tình trạng mai một, gây ảnh hưởng lớn đến
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người.
1.1.1.3. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về chính sách dân tộc
trong thời kỳ mới
Trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt
Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi vấn đề dân tộc, đoàn kết
các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng lâu dài trong toàn bộ sự nghiệp
cách mạng nước ta. Với quan điểm: Các dân tộc trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam không phân biệt già, trẻ, gái, trai, người định cư trong nước hay
định cư ở nước ngoài đều bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau
cùng phát triển. Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội
nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX của Đảng ngày 12/3/2003 đã ra Nghị
12
quyết chuyên đề số 24-NQ/TW Về công tác dân tộc.
Nghị quyết khẳng định:
Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, CTDT và tôn giáo đều là những
vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách
mạng của nước ta... tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đẩy
- Công tác dân tộc và thực hiện CSDT là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống
chính trị. [34, tr.34 - 35].
Từ những quan điểm trên, Nghị quyết xác định mục tiêu cụ thể đến
năm 2010, trong đó chỉ rõ: Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ
bản không còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng
cách chênh lệch mức sống giữa các dân tộc, các vùng; trên 90% hộ dân có đủ
điện, nước sinh hoạt; xoá tình trạng nhà tạm, nhà dột nát; 100% số xã có
đường ô tô đến trung tâm xã; cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn… Xây
dựng đội ngũ cán bộ DTTS tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu
cầu của địa phương; củng cố HTCT cơ sở trong sạch, vững mạnh; nâng cao vị
trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc
tham gia thực hiện tốt CSDT. Giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và
miền núi; kết hợp phát triển KT - XH với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở các
địa bàn xung yếu vùng sâu, biên giới, ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội.
Nghị quyết xác định những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách:
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống
của đồng bào DTTS, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa;
trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc
đặc biệt khó khăn, giải quyết ngay những vấn đề bức xúc.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát
thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền
hướng về cơ sở…làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát huy
các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.
14
Thứ ba, củng cố và nâng cao chất lượng HTCT cơ sở ở các vùng
bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn đặc điểm tình hình nhiệm vụ đất
nước. Đây chính là thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết
vấn đề dân tộc vào thực tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Đó cũng là
tiền đề, cơ sở để Đảng bộ tỉnh Bắc Giang quán triệt, vận dụng và đề ra những
chủ trương, chính sách đối với đồng bào DTTS một cách đúng đắn, phù hợp
với thực tiễn tình hình nhiệm vụ của Tỉnh.
1.1.1.4. Tình hình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Bắc
Giang trước năm 2005
* Thành tựu:
Một là, nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân
dân ở địa phương về thực hiện CSDT của Đảng được nâng lên một bước.
Tỉnh ủy, HĐND Tỉnh đã không ngừng tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm
túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về CSDT. Kịp thời thể chế
hóa thành nghị quyết, chương trình hành động bảo đảm sự lãnh đạo thống
nhất nhằm thực hiện tốt CSDT ở địa phương. Trong từng giai đoạn và nhiệm
vụ cụ thể, UBND Tỉnh đã có kế hoạch, tổ chức chỉ đạo sâu sát, có hiệu quả
đối với các sở, ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể địa phương
nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi, tập trung phát triển sản xuất, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân các dân tộc trong Tỉnh.
Hai là, tình hình KT - XH vùng đồng bào DTTS của Tỉnh có sự phát
triển tương đối toàn diện. Các lĩnh vực kinh tế đều tăng trưởng khá, nhất là
trong nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và một số ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp. “Giá trị tổng sản phẩm toàn vùng năm 2004 đạt 508,2 tỷ
đồng, tăng 41% so với năm 2000” [18, tr.8]. Trong đó: Nông nghiệp bước đầu
đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa; trong lâm nghiệp đã từng bước
giúp đồng bào các dân tộc vùng núi ổn định cuộc sống và gắn bó hơn với
nghề rừng, xuất hiện nghiều hộ gia đình làm kinh tế trang trại, kinh doanh
nghiệp gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho
các hộ nghèo về giống cây trồng quá trình triển khai thực hiện chưa đạt hiệu
quả cao. Phát triển kinh tế hàng hóa chưa đáng kể, phổ biến vẫn là sản xuất
nhỏ. Chất lượng xây dựng cơ bản một số công trình chưa bảo đảm, công tác
quản lý, sử dụng, bảo trì các công trình sau đầu tư chưa được quan tâm đúng
mức. Các cơ sở và điều kiện phục vụ cho chuyển hướng sản xuất còn nhiều bất
17
cập, đường giao thông đi lại còn khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển kinh tế đồng bào các DTTS của Tỉnh.
Hai là, chất lượng giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa vùng miền núi và
DTTS nhìn chung còn thấp. Tỷ lệ giáo viên người địa phương còn ít, cơ sở
vật chất trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn, việc đào tạo nghề cho đồng
bào chưa được quan tâm đúng mức. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
còn nhiều khó khăn, còn để bệnh dịch xảy ra. Một số tập tục lạc hậu có xu
hướng phát triển như ma chay, mê tín dị đoan. Một số bản sắc văn hóa, tiếng
nói và chữ viết của đồng bào DTTS đang bị mai một, đời sống tinh thần còn
nhiều khó khăn.
Ba là, tỷ lệ đói nghèo ở vùng đồng bào DTTS của Tỉnh còn ở mức cao,
kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa vững chắc. Một bộ phận đồng bào dân tộc
còn tư tưởng ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước, chưa chủ động khai thác
những tiềm năng sẵn có và sử dụng hiệu quả sự đầu tư của Nhà nước để vươn
lên xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, hàng năm vẫn còn hộ gia
đình bị đói giáp hạt.
Bốn là, tình hình an ninh chính trị còn diễn biến phức tạp, HTCT ở cơ
sở còn nhiều hạn chế, bất cập; đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế về trình độ
năng lực, nhất là trình độ quản lý nhà nước về kinh tế, tài chính, đất đai, tỷ
lệ đảng viên là người DTTS trong các chi bộ đảng còn ít.
ngành, các cơ quan, đơn vị, cá nhân và tổ chức, các đơn vị kinh tế…tổ
chức quán triệt và thực hiện tốt các nhóm ưu tiên phát triển nhằm thực
hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, đưa Bắc Giang ra khỏi tình
trạng tỉnh nghèo, cùng với các địa phương trong cả nước thực hiện thắng
lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ
Tỉnh, ngày 12/6/2004 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Kế hoạch 37-KH/TU và
Chương trình hành động 40-CTr/TU ngày 19/4/2005 Về thực hiện Nghị quyết
24/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công
tác dân tộc. Nội dung cụ thể:
* Phương hướng chung:
19
Phát huy thế mạnh, tiềm năng, lợi thế vùng đồng bào dân tộc miền
núi, tận dụng và phát huy hiệu quả CSDT của Đảng và Nhà nước
nhằm phát triển KT - XH vùng DTTS toàn diện, nhanh, bền vững;
đẩy mạnh giảm nghèo vùng DTTS, rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa các dân tộc; hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng
hóa có giá trị; phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS; tăng cường số
lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là người DTTS; củng cố
HTCT cơ sở; giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc; tăng cường
quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn
xã hội. [80, tr.11]
* Mục tiêu cụ thể:
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo các xã vùng DTTS bình quân giảm
từ 4% đến 4,5%/năm; phấn đấu đến năm 2010 trên 65% nhà ở đạt tiêu
chuẩn; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất, nước phục vụ sản xuất.
- Người DTTS trong độ tuổi lao động được qua bồi dưỡng, tập huấn,
tướng Chính phủ phê duyệt tại vùng dân tộc và miền núi; trong đó tập trung và
chủ động triển khai tổ chức thực hiện các chính sách: Chương trình 135, Chương
trình 30a tại huyện nghèo Sơn Động, Chương trình phát triển KT - XH ở 13 xã
nghèo huyện Lục Ngạn, Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Hai là, phải xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, xóa đói
giảm nghèo, tăng cường sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ,
ổn định dân cư và đảm bảo môi trường sống vùng DTTS
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đa dạng các loại hình
kinh tế gắn với bảo vệ rừng; phát huy thế mạnh sẵn có của địa phương nhằm
quy hoạch, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa phù hợp với
điều kiện, lợi thế từng vùng (vải thiều, cam đường canh Lục Ngạn, na dai ở
Lục Nam, gà đồi Yên Thế, phát triển rừng kinh tế tại Yên Thế, Sơn Động...);
phát triển đa dạng các cây trồng có lợi thế, sản phẩm đặc sản của địa phương
(mỳ Chũ, gạo nếp Phì Điền, mật ong Sơn Động...); thực hiện chuyển đổi từ
21
chăn nuôi phân tán, thả rông sang phát triển chăn nuôi trang trại, kết hợp chăn
nuôi và trồng rừng; đầu tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất;
xây dựng chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chế biến,
tiêu thụ sản phẩm cho đồng bào DTTS.
Phát triển lâm nghiệp đa chức năng để tăng giá trị kinh tế ngành và tăng
năng lực, hiệu lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học rừng và góp phần xóa
đói giảm nghèo. Quy hoạch, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống với
quy mô, cơ cấu sản phẩm, trình độ công nghệ thích hợp với từng vùng. Tích cực
đưa nhanh khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chú trọng những ngành kinh tế mũi
nhọn có sức cạnh tranh cao, thể hiện lợi thế so sánh của địa phương.Tạo cơ hội
bình đẳng để đồng bào tiếp cận các nguồn lực phát triển và thụ hưởng dịch
vụ, phúc lợi xã hội; tạo môi trường thuận lợi để thu hút mọi nguồn lực vào
khối đại đoàn kết của đồng bào các DTTS
Quán triệt, triển khai sâu rộng quan điểm của Đảng và Nhà nước về
CTDT đến các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân vùng dân tộc và
miền núi, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền các cấp về vị trí,
tầm quan trọng của CTDT; thực hiện tốt chế độ, chính sách, phát huy vai trò
người có uy tín góp phần triển khai thực hiện CSDT và đảm bảo quốc phòng an ninh ở vùng DTTS.
Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt công tác
dân tộc, tôn giáo. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT, đặc
biệt là hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc từ Tỉnh đến huyện, xã, thực
hiện tốt công tác rà soát, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đãi ngộ,
thu hút các cá nhân, nhà quản lý giỏi người DTTS; xây dựng chính sách giải
quyết việc làm cho học sinh, sinh viên là người DTTS sau khi tốt nghiệp;
quan tâm đến công tác phát triển đảng ở vùng núi và đồng bào DTTS.
1.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc
(2005 - 2010)
1.2.1. Chỉ đạo công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức
23
cho đồng bào các dân tộc thiểu số
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt
của công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho đồng bào các
DTTS, trong những năm 2005 - 2010, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã tập trung
chỉ đạo quyết liệt, thu được hiệu quả thiết thực. Cụ thể:
Nội dung tuyên truyền giáo dục, tập trung chủ yếu vào các văn bản của
Đảng và Nhà nước và địa phương về CTDT và thực hiện CSDT trên địa bàn
Tỉnh như: Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII, Về một số chủ
trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Nghị quyết 24/NQTW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX Về Công tác dân
hoặc lồng ghép các cuộc họp để giới thiệu, diễn thuyết, nói chuyện chuyên đề,
lồng ghép nội dung pháp luật vào các buổi giao lưu, sinh hoạt văn hóa, văn
nghệ, xây dựng các tiểu phẩm, thơ, ca...Tuyên truyền, phổ biến pháp luật qua
báo chí, mạng lưới truyền thanh cơ sở và thông tin trên mạng Internet. Sử
dụng tối đa các loại phương tiện truyền thanh, truyền hình của cấp huyện, xã;
đa dạng hóa các tài liệu tuyên truyền bao gồm: sách, băng, đĩa hình, pa nô, áp
phích, các ấn phẩm pháp luật... tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả quản lý,
khai thác sử dụng tài liệu từ tủ sách pháp luật xã, điểm bưu điện xã.
1.3.2. Chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tỉnh
* Về chỉ đạo phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo
Ngày 26/01/2006 UBND Tỉnh ra Kế hoạch 139/KH-UBND, Về phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc
Giang giai đoạn 2006 - 2010. Theo đó, UBND Tỉnh đã tích cực chỉ đạo 43
sở, ban, ngành, doanh nghiệp, đơn vị đóng trên địa bàn tập trung mọi nguồn
lực để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào DTTS, trọng
tâm là các xã đặc biệt khó khăn và các thôn, bản thuộc khu vực III. Nội dung
chỉ đạo cụ thể:
Chỉ đạo huy động và đầu tư các nguồn lực phát triển kinh tế vùng đồng
bào DTTS: Tập trung các nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia về
25