LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH NINH THUẬN LÃNH đạo THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH dân tộc THỜI kỳ 1992 2000 - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, theo thống kê hiện nay nước ta
có 54 dân tộc, đa số là dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, còn 53 dân tộc
thiểu số chiếm 13,8% dân số.
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn luôn
khẳng định tầm quan trọng của vấn đề đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Bác
Hồ đã xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin. Bác Hồ đã nghiên cứu nghiêm túc và vận dụng sáng tạo tư tưởng lý
luận

của

C. Mác và V.I. Lênin để đề ra những quan điểm đúng đắn giải quyết những
vấn đề phát triển của các dân tộc thiểu số nước ta theo phương hướng là
đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam trên nguyên tắc bình
đẳng, thương yêu và giúp đỡ nhau để đấu tranh cho độc lập, tự do hạnh
phúc chung. Tư tưởng bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ của
các dân tộc được nêu từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, đã được
các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể hóa, bổ
sung và phát triển vì nguyện vọng tha thiết của tất cả nhân dân các dân tộc
nước ta là thực hiện độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về chính
sách dân tộc đã thu được những thành tựu quan trọng. Trong 15 năm đổi
mới (1986 - 2000), kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc đã phát triển tương
đối nhanh, toàn diện. Những thành tựu đó góp phần quan trọng vào sự ổn
định chính trị xã hội của đất nước. Kế thừa truyền thống quí báu của dân
tộc, Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là



3

miền núi, các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và
các Nghị quyết của Đảng trong thời gian gần đây, Đảng bộ tỉnh Thuận Hải
trước đây và Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận (1992) đã vận dụng sáng tạo vào
điều kiện cụ thể của địa phương, lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội vùng
dân tộc thiểu số góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn của tỉnh.
Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng ở vùng dân tộc thiểu số là một việc làm cần thiết để
trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, rút ra những kinh nghiệm làm căn cứ
phát triển cho những năm tới.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận
lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc thời kỳ 1992 - 2000" để viết luận
văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề dân tộc thiểu số cũng như văn hóa của các dân tộc thiểu số,
chính sách dân tộc của Đảng từ trước đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều
công trình đề cập đến với nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Tiêu biểu là
những công trình sau:
Nguyễn Văn Diệu, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp với: Văn hóa
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997;
Nông Quốc Chấn (cùng nhiều tác giả): Văn hóa và sự phát triển
của các dân tộc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1997;
Phạm Văn Vang: Kinh tế miền núi và các dân tộc - Thực trạng, vấn
đề, giải pháp, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1996;
Phan Văn Dốp: Tôn giáo của người Chăm Việt Nam, Viện Khoa
học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.



- Trình bày có hệ thống quá trình vận dụng chính sách dân tộc
của Đảng vào thực tế vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Ninh Thuận giai đoạn
1992 - 2000.
- Nêu rõ những thành tựu, thiếu sót và những kinh nghiệm chủ yếu
từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận về thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng ở vùng dân tộc thiểu số trong 15 năm đổi mới.
4. Giới hạn của luận văn
- Luận văn làm rõ đường lối đổi mới về chính sách dân tộc của Đảng
từ 1986 - 2000 từ đó tập trung nghiên cứu sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh
Ninh Thuận vào thực tế vùng dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế - xã hội.
- Thời gian nghiên cứu của luận văn tập trung chỉ trong thời gian tái
lập tỉnh (1992 - 2000), nhưng để làm cơ sở cho vấn đề chính, luận văn còn
đề cập một cách khái quát tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở
tỉnh Thuận Hải trước đó.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của
luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận để nghiên cứu là dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
- Quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách
dân tộc và đại đoàn kết dân tộc.
5.2. Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong luận văn là các Văn
kiện của Đảng, đặc biệt là các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, những
Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư của Trung ương Đảng và Chính phủ; các
Nghị quyết của Tỉnh ủy, Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh


6


- Khái quát những thành tựu, thiếu sót từ đó rút ra những kinh nghiệm,
đề xuất những ý kiến về thực hiện chính sách dân tộc ở vùng dân tộc thiểu
số trong những năm tiếp theo.
- Luận văn góp phần vào nội dung và chương trình giảng dạy, đào
tạo của Trường Chính trị tỉnh Ninh Thuận.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được chia làm 2 chương, 5 tiết.


8

Chương 1
VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC Ở TỈNH NINH THUẬN THỜI KỲ 1992 - 1996

1.1. TÌNH HÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA TỈNH NINH THUẬN

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là một tỉnh thuộc cực Nam Trung bộ, nằm
ở vị trí địa lý từ 11018’14’’ đến 12009’15’’ độ vĩ Bắc và từ
108009’08’’ đến 109014’25’’ độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh
Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh
Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông. Là một tỉnh nằm ở vị
trí trung điểm giao thông dọc theo quốc lộ 1A, đường sắt Thống
Nhất và quốc lộ 27 lên Tây Nguyên. Có diện tích tự nhiên 3.360,06
km2. Dân số theo điều tra 01/04/1999 là 505.327 người [8, tr. 23].
Địa hình tỉnh Ninh Thuận bao gồm ba mặt là núi, phía Bắc và phía
Nam là hai dãy núi cao lan ra sát biển, phía Tây là vùng núi cao của tỉnh
Lâm Đồng. Có ba dạng: miền núi, đồng bằng và miền ven biển. Vùng đồng

Đến năm 1913 triều Nguyễn bỏ tỉnh Phan Rang cắt phần đất phía bắc Ninh
Thuận nhập vào Khánh Hòa, còn phần đất phía nam nhập vào Bình Thuận.
Tháng 7/1922 phần đất nhập vào Khánh Hòa được tách ra thành lập Đạo có
huyện An Phước Chàm, 5 tổng ở đồng bằng: Mỹ Tường, Đắc Nhơn, Vạn
Phước, Phú Quí, Kinh Dinh và 2 tổng miền núi: É Lâm Hạ, É Lâm
Thượng. Đứng đầu tỉnh là một viên Quản đạo (tỉnh nhỏ) của Nam Triều,
dưới sự điều khiển của một công sứ người Pháp. Đến khi Nhật đảo chính
Pháp lập chính phủ bù nhìn, Ninh Thuận là đơn vị hành chính cấp tỉnh. Sau
Cách mạng tháng Tám 1945 ta chia Ninh Thuận thành ba huyện: Ninh Hải
Hạ, Ninh Hải Thượng và Ninh Sơn. Đến tháng 06/1946 thành lập 6 khu
hành chính ở đồng bằng và đến tháng 02/1947 đổi thành 6 vùng, đối với


10

vùng núi và vùng đồng bào Chăm sinh sống lập Phòng quốc dân thiểu số
(có năm phân phòng) đến tháng 08/1948 giao vùng sáu (Cam Ranh) cho
Khánh Hòa và sáp nhập các vùng thành các huyện Thuận Nam, Thuận Bắc
và An Phước. Đầu năm 1950 giải tán huyện Thuận Nam, Thuận Bắc thành
lập các xã lớn trực thuộc tỉnh. Đồng thời năm 1950 thành lập khu căn cứ
Bác Ái, đến năm 1951 đổi thành huyện và năm 1953 thành lập huyện Anh
Dũng. Khi chuyển sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, các xã lớn trước đây
được tổ chức thành 5 vùng. Riêng thị xã Phan Rang cùng huyện Bác Ái,
Anh Dũng vẫn giữ nguyên. Đến cuối năm 1960 liên tỉnh ba sáp nhập Bác
Ái với hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) thành khu căn cứ
50 (tức căn cứ Ái Vĩnh Sơn). Đến tháng 08/1961 khu ủy 6 được thành lập
và đến cuối năm khu 6 giải tán, khu căn cứ 50 giao Bác Ái lại cho Ninh
Thuận, lúc bấy giờ khu căn cứ Bác Ái tách thành hai huyện: Bác Ái Đông
và Bác Ái Tây. Sau ngày 30/04/1975, miền Nam được giải phóng, đất nước
thống nhất Ninh Thuận được sáp nhập với Bình Thuận, Tuyên Đức, Lâm

tổng số người Chăm trong cả nước. Người Chăm ở Ninh Thuận cư trú xen
kẽ với các dân tộc anh em ở 22 thôn thuộc 12 xã của 4 huyện, thị trong
tỉnh, nhưng tập trung ở huyện Ninh Phước có đến 18 thôn của 8 xã. Hình
thái cư trú của người Chăm phổ biến là ở đồng bằng tập trung lại thành
từng khu vực riêng biệt gọi là Plây Chăm (làng Chăm) thông thường mỗi
Plây Chăm là một cộng đồng người Chăm cùng theo một tôn giáo.
Về kinh tế: Người Chăm chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, họ thành
thạo các kỹ thuật làm ruộng lúa nước mà tiêu biểu là trình độ thủy lợi, đắp
đập chứa dẫn nước vào ruộng khá hoàn chỉnh, là một trong những dân tộc
có nghề trồng lúa nước phát triển nhất và xa xưa nhất ở Việt Nam. Hiện
nay ở Ninh Thuận vẫn còn những đập nước cổ của người Chăm như đập
Nha Trinh trên sông Cái, đập Lâm Cấm trên sông Dinh vẫn tiếp tục tưới
cho các cánh đồng lúa của người Chăm lẫn người Kinh ở các huyện Ninh


12

Hải, Ninh Sơn và Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm. Ngoài ra còn có các hệ
thống thủy lợi được làm mới trên nền các đập nước cổ của người Chăm
như hệ thống đập Sông Pha, hệ thống Sông Lu 1, Sông Lu 2...
Ngoài ra còn trồng cây ăn quả và cây công nghiệp như cây điều,
cây nho, cây mía, cây bông vải... và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chỉ có hai
thôn làm nghề thủ công, làm gốm ở thôn Vĩnh Thuận và dệt thổ cẩm ở thôn
Mỹ Nghiệp đều thuộc Thị trấn Phước Dân huyện Ninh Phước.
Về văn hóa: Dân tộc Chăm là một thành phần trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam có nền văn hóa phát triển rực rỡ, tiêu biểu là nền văn
hóa Sa Huỳnh. Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Chăm
đã xây dựng cho mình một nền văn hóa có sắc thái riêng biệt, độc đáo và
đa dạng.
Kho tàng văn học dân gian Chăm rất phong phú với nhiều thể loại

môn giáo đã có những ảnh hưởng sâu đậm và toàn diện đối với đời sống
người Chăm. Tuy nhiên, khi du nhập vào cộng đồng người Chăm - một dân
tộc có bề dày văn hóa đặc sắc, Bà la môn giáo đã không còn giữ nguyên
vẹn những đặc điểm nguyên thủy mà được "Chăm hóa" để phù hợp với
điều kiện tự nhiên, nhu cầu tín ngưỡng của người Chăm. Nhưng dẫu sao Bà
la môn giáo cũng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống xã hội của
người Chăm. Đặc biệt là trên lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần thông qua
những công trình kiến trúc (tháp Chăm), âm nhạc, điêu khắc cũng như
những phong tục, tập quán của người Chăm.
Bên cạnh Bà la môn giáo, Phật giáo cũng đã từng bước du nhập vào
cộng đồng người Chăm và có một thời kỳ từ cuối thế kỷ IX đến đầu thế
kỷ X thuộc Vương triều Đồng Dương (Indrapura) Phật giáo đã trở thành
quốc giáo. Nó thực sự chiếm ưu thế tuyệt đối trong vương quyền. Đồng
thời cũng lan rộng và chi phối hầu hết các lĩnh vực hoạt động xã hội của
vương quốc Chăm Pa. Trong đó Indravarman II là một vị vua người Chăm


14

rất sùng bái Phật giáo, chính ông là người đã cho xây Phật viện (Vihara) rất
lớn tại Đồng Dương vào năm 875. Song Phật giáo với triết lý khổ hạnh và
cao siêu đã không đáp ứng được nhu cầu đời sống tâm linh cũng như đời
sống vật chất trong cuộc sống hiện thực của đông đảo quần chúng nhân dân
nên nó dần dần suy yếu và nhường lại vai trò cho Bà la môn giáo đã có từ
trước đó và Hồi giáo ở những giai đoạn sau.
Hồi giáo là một tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất trên thế giới
(900.000.000 người có mặt ở hơn 50 nước khắp các châu lục) nhưng ở Việt
Nam đạo Hồi không lớn chỉ có vài vạn tín đồ mà chủ yếu là người Chăm và
một số rất ít người Kinh. Hồi giáo do Môhamet (573 - 632) sinh tại Mecca
người bộ lạc Carét sáng lập ra. Đạo Hồi được truyền bá vào người Chăm

Giữa Bà la môn giáo và Hồi giáo có những điểm khác nhau cơ bản.
Bà la môn giáo thờ đa thần mà chủ yếu là thờ giáo chủ Bramaha và thần
Siva. Trong ăn uống họ kiêng ăn thịt bò, khi chết tiến hành hỏa táng. Ăn tết
Katê hàng năm vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 9 âm lịch). Hồi giáo
thờ độc thần là thánh Allah. Trong ăn uống họ kiêng ăn thịt lợn, khi chết
tiến hành địa táng. Ăn tết hàng năm vào tháng Ramadan.
Tuy vậy giữa người Chăm Bà la môn và người Chăm Hồi giáo vẫn
có quan hệ khăng khít với nhau trên cơ sở cùng một cộng đồng dân tộc có
chung tiếng nói, chữ viết, cùng có những phong tục tập quán tín ngưỡng
bản địa của dân tộc Chăm có từ ngàn xưa. Chẳng hạn, người Chăm vẫn lưu
giữ nhiều lễ hội dân gian Chăm từ những lễ nghi của cư dân trồng lúa nước
như lễ liên quan đến thủy lợi (lễ PLaoSah, lễ Ông cai đập, Ông cai mương)
đến lễ dựng chòi, lễ mừng lúa mới... đến những lễ hội lớn như Ramadan,
Katê.
Người Chăm đến nay vẫn theo quan hệ mẫu hệ, con gái lấy họ mẹ,
con trai theo họ cha. Trong hôn nhân bao giờ cũng do đàng gái chủ động
trong lễ hỏi, lễ cưới. Người con trai được người con gái cưới về nhà mình.


16

Chính xuất phát từ điểm này trong dân tộc Chăm bao giờ con trai cũng
được học hành chu đáo, học lên các lớp cao hơn con gái vì người Chăm
cho rằng phải cho con trai mình học hành chu đáo để khi về "làm dâu" nhà
gái không bị coi thường. Trong hôn nhân vẫn có phân biệt giữa hai tôn
giáo, vẫn có sự cấm kỵ, nhưng trong thực tế thì trai, gái hai tôn giáo vẫn có
sự kết hôn với nhau.
Về chính trị: Trong lịch sử người Việt và người Chăm đã có truyền
thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm: như cuộc chiến đấu chống xâm lược
nhà Hán từ những năm đầu công nguyên, cuộc chiến đấu đánh đuổi quân

quận phó...
Chế độ Mỹ - Ngụy còn tạo điều kiện cho linh mục người Pháp là
Moussay sử dụng tiền tài trợ của tổ chức thiên chúa giáo ở Pháp xây dựng
Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm tại Phan Rang, trường Trung học
PôKlông (1971) để thu hút tập hợp trí thức Chăm, tiến hành giáo dục, đào
tạo thanh niên Chăm. Trong nội dung giảng dạy của Trường có đề cập văn
hóa Chăm, lịch sử dân tộc Chăm nhưng đã bị bóp méo sai sự thật nhằm
kích động, nuôi dưỡng tư tưởng kỳ thị dân tộc...
Tháng 04/1975 khi ta tiến hành giải phóng miền Nam bọn cầm đầu
Fulrô Chăm như Huỳnh Ngọc Sắng, Vạn Thanh Bình, Đổng Thẹo... tự
xưng là lực lượng thứ ba đòi đứng ra tiếp quản các vùng Chăm. Không
được ta tiếp nhận chúng đã tiến hành xuyên tạc cách mạng trong dân tộc
Chăm, gây hoang mang dao động trong các tầng lớp nhân dân - nhất là
những gia đình có con em tham gia chính quyền cũ, đánh vào tâm lý hoài
nghi của những trí thức cũ được Mỹ - Ngụy đào tạo... Đồng thời lôi kéo
kêu gọi thanh niên trí thức Chăm mang súng ra rừng gia nhập Fulrô và phát
động chiến dịch "Chế Bồng Nga" để đánh phá cách mạng.
Nhưng âm mưu gây rối và phá hoại của chúng bị ta phát hiện và
tiêu diệt. Đến năm 1977, lực lượng Fulrô đã hoàn toàn tan rã. Một số chạy
về đầu thú làm ăn lương thiện, một số trốn sang lưu vong ở nước ngoài


18

nhưng vẫn tìm cách móc nối liên lạc với những người Chăm ở trong nước.
Những người này đã lôi kéo một số trí thức, chức sắc trong các tôn giáo
thường xuyên liên lạc thư từ với các trí thức cũ người Chăm ở nước ngoài,
bày tỏ tâm trạng bất mãn với chế độ, viết tin bài nói xấu chế độ ta, vu cáo
Nhà nước ta phân biệt đối xử với dân tộc Chăm hoặc nhờ những trí thức cũ
người Chăm ở nước ngoài can thiệp với nước sở tại và Nhà nước Cộng hòa

kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như trong công cuộc phòng thủ
bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Bản làng cư trú của người RagLai gọi là Palây,
nằm trên những khu đất cao, bằng phẳng và gần nguồn nước. Mỗi Palây có
từ 20 - 30 nhà sàn, nhà có cấu trúc đơn sơ, mỗi nhà thường gồm cha mẹ và
con cái chưa lập gia đình, đứng đầu Palây là một Popalây (trưởng làng)
thường là người có công lập làng, chịu trách nhiệm làm lễ cúng trời mỗi
khi có dịch hạn.
Trong cộng đồng dân tộc RagLai còn có đội ngũ thầy cúng (Bojan)
mỗi Palây có thể có nhiều thầy cúng. Ngoài cúng lễ thầy cúng còn kiêm
luôn chức năng chữa bệnh. Người RagLai quan niệm thầy cúng là nhân vật
trung gian giao tiếp giữa người với thần linh, với Giàng.
Xã hội cổ truyền của người RagLai có sự biến đổi khi chính quyền
nhà Nguyễn thiết lập sự thống trị và đặc biệt là khi thực dân Pháp bình định
xong các tỉnh phía Nam nước ta. Tổ chức hành chính được thành lập gồm
có: Sách, Lý, Tổng nhằm quản lý dân cư, thu thuế và thực hiện các biện
pháp bóc lột khác. Sách là đơn vị cơ sở, nhiều Palây ghép lại thành một
Sách. Lý là cấp trung gian quản lý, người đứng đầu gọi là Lý trưởng và trên
nữa là Tổng, người đứng đầu gọi là Chánh tổng. Những người đứng đầu
các Sách, Lý, Tổng tham gia đắc lực vào bộ máy chính quyền phong kiến


20

trở nên giàu có và dựa vào quyền lực để bóc lột hà hiếp nhân dân nên bị
nhân dân gọi là "đầu lớn" chứ không gọi là người đứng đầu theo phong tục.
Hôn nhân và gia đình: Gia đình (BokSang) của người RagLai là
những gia đình lớn mẫu hệ. Trong gia đình lớn mẫu hệ đứng đầu gia đình
là một người phụ nữ lớn tuổi nhất (gọi là Posang hay Mú Sang). Posang
quyết định mọi vấn đề trong gia đình như: giữ lại hoặc cho sử dụng tài sản
chung, quyết định việc phân chia và thừa kế tài sản, hôn nhân, thờ cúng,

kèn môi, đàn Chapi (đàn làm bằng ống tre). Lễ hội lớn nhất hàng năm để tạ
ơn Giàng được tổ chức trọng thể sau mùa thu hoạch.
Nét nổi bật ở người RagLai là truyền thống đoàn kết, cộng đồng,
dân chủ, quan tâm, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, tính cách thật thà, chất
phác, dũng cảm.
Trải qua các cuộc đấu tranh chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc, đặc
biệt là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người
RagLai theo Đảng và Bác Hồ tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của
dân tộc Việt Nam và đã viết nên những trang sử vẻ vang về truyền thống
cách mạng của dân tộc mình. Với vị trí của vùng rừng núi Ninh Thuận, dựa
vào lòng dân RagLai Đảng ta đã xây dựng căn cứ kháng chiến ở đây. Các
cán bộ, chiến sĩ người Kinh, Chăm... đã sát cánh cùng đồng bào RagLai
xây dựng Bác Ái, Anh Dũng thành căn cứ kháng chiến vững mạnh toàn
diện, trở thành trung tâm của hai cuộc kháng chiến ở tỉnh Ninh Thuận và
cực Nam Trung Bộ. Người RagLai đánh giặc giỏi, gan dạ, sáng tạo ra nhiều
loại vũ khí (trong đó nổi tiếng với bẫy đá Pi Năng Tắc), thành thạo trong
tác chiến ở vùng rừng núi, đã gây cho địch nhiều nỗi kinh hoàng. Dân tộc
RagLai là một dân tộc trung kiên và thủy chung với cách mạng. Dân tộc
RagLai đã chiến đấu không tiếc máu xương cho công cuộc giải phóng dân
tộc, thống nhất đất nước. Được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu


22

Anh hùng lực lượng vũ trang cho huyện Bác Ái, xã Phước Kháng, Phước
Chiến, Phương Hải (huyện Ninh Hải), xã Phước Hà, xã Nhị Hà (huyện
Ninh Phước), các anh hùng lực lượng vũ trang như Pi Năng Tắc, Pi Năng
Thạnh, Cha Ma Léa Châu... Và nhiều bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Giữa dân tộc Chăm và dân tộc RagLai có mối quan hệ đoàn kết,
hữu nghị. Đúng như Lênin đã viết: "Trong chừng mực mà các dân tộc khác

các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội. Đây cũng là cơ sở pháp lý chung giải quyết các quan hệ
dân tộc trên thế giới, trong các khu vực hay trong một quốc gia. Theo V.I.
Lênin: "Nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc bảo
đảm quyền lợi của các dân tộc thiểu số... bất cứ một thứ đặc quyền nào
giành riêng cho một dân tộc và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi
của một dân tộc thiểu số, đều bị bác bỏ" [34, tr. 179].
- Các dân tộc có quyền tự quyết: Cương lĩnh về vấn đề dân tộc rất
chú trọng đến vấn đề tự quyết dân tộc. Quyền tự quyết của các dân tộc
chính là quyền tự chủ đối với vận mệnh và con đường phát triển của các
dân tộc, bao gồm quyền tự quyết định về thể chế chính trị kể cả quyền phân
lập về mặt chính trị (vì mục đích chung của dân tộc - quốc gia và dân tộc tộc người) hoặc quyền tự nguyện liên hiệp lại thành khối liên minh các dân
tộc đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động các dân tộc và vì
mục tiêu phát triển hòa bình, phồn thịnh, hữu nghị giữa các dân tộc.
- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: Để thực hiện tốt quyền
bình đẳng và quyền tự quyết, cần phải đoàn kết giai cấp công nhân các dân
tộc, các quốc gia. Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc chính là đoàn
kết gắn bó lực lượng nòng cốt của phong trào đấu tranh cho tiến bộ, hòa
bình và phát triển. Với bản chất quốc tế và những ưu điểm vốn có, giai cấp
công nhân các dân tộc vừa đại diện cho lợi ích nguyện vọng của giai cấp
công nhân nói chung vừa đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động và lợi


25

ích các dân tộc. Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc cũng chính là kết
hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao
cả của giai cấp công nhân các nước là lực lượng trung tâm của phong trào đấu
tranh cho độc lập dân tộc cho hòa bình, tiến bộ và phồn vinh của nhân loại.
Thực hiện Cương lĩnh dân tộc của V.I. Lênin là một nguyên tắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status