luận văn thạc sĩ - ĐẢNG bộ TỈNH hải DƯƠNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế tư NHÂN từ năm 2001 đền năm 2010 - Pdf 42

“Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế tư
nhân từ năm 2001 đến năm 2010”
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sự tồn
tại và phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất
yếu khách quan. “Cho đến nay trong lịch sử loài người, về lý luận cũng như
trong thực tiễn các quốc gia, không thể thay thế sở hữu tư nhân bằng một động
lực khác có hiệu quả hơn trong phát triển kinh tế” [66, tr.27].
Ở Việt Nam, cùng với quá trình ra đời, phát triển và khẳng định vị thế
trong nền kinh tế nhiều thành phần, thành phần kinh tế tư nhân đã được toàn xã
hội ghi nhận và ngày càng có vai trò to lớn. Từ chỗ là lực lượng “nhỏ yếu”, bị
coi là “đối tượng” cần “cải biến” trong quá trình “cải tạo xã hội chủ nghĩa”,
thành phần kinh tế tư nhân có bước phát triển vượt bậc trong tiến trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, được thừa nhận là bộ phận cấu thành
của nền kinh tế quốc dân.
Vì vậy phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN là xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của
Đảng ta. Với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sự tồn tại của thành phần
kinh tế tư nhân ở nước ta vẫn là yêu cầu khách quan. Hơn nữa, thành phần kinh tế
tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, thành phần kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi
Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm
mất động lực phát triển của nó, nhưng cũng không để nó vận động một cách
tự phát. Thực hiện chủ trương của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành
phố trong cả nước đã phát huy tối đa nội lực, tập trung lãnh đạo thành phần
kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng XHCN, đạt được nhiều thành tựu
to lớn. Góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở các địa phương nói riêng, cả nước nói chung.


Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía

2


thậm chí muốn xoá bỏ hẳn thành phần kinh tế này.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thành phần kinh tế tư nhân đã
được khẳng định về mặt chính trị và pháp lý. Về mặt chính trị, các Nghị quyết
của Đảng đã coi thành phần kinh tế tư nhân là một hướng phát triển chiến
lược, là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo. Về mặt pháp lý, các chủ trương, chính sách của Nhà nước
ta đối với thành phần kinh tế tư nhân được khẳng định trong Hiến pháp và các
Luật có liên quan, các nghị định của Chính phủ, các quyết định của Thủ tướng
Chính phủ. Môi trường chính trị và pháp lý đã hướng dư luận xã hội thay đổi
thái độ đối với thành phần kinh tế tư nhân.
Xã hội đã nhìn nhận thành phần kinh tế này là một động lực mới để
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, để xây dựng đất nước giàu
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Căn cứ vào quan niệm của Đảng về thành phần kinh tế tư nhân từ Đại hội
lần thứ VI đến nay, tác giả đưa ra khái niệm về thành phần kinh tế tư nhân là:
Thành phần kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển trên cơ sở chế độ sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản
tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp
của tư nhân (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ). Trong đó, các chủ thể tiến
hành sản xuất kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản thân, hoạt động theo
Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Vị trí, vai trò của thành phần kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội ở Hải Dương
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, thành phần kinh tế tư nhân đã và đang chứng
tỏ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Cụ thể:
Một là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần quan trọng giải phóng

lực, tác phong làm việc của các doanh nghiệp tư nhân nên chất lượng nguồn
lao động của Tỉnh từng bước được nâng cao.
Bốn là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần nâng cao trình độ khoa
học và công nghệ của địa phương. Thông qua phát triển thành phần kinh tế tư
nhân, Hải Dương có điều kiện và cơ hội nâng cao trình độ khoa học - công
4


nghệ. Thực tế cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp có kỹ thuật và công nghệ
khá hiện đại, có đội ngũ chuyên gia quản lý tốt, có kinh nghiệm. Do đó, quá
trình phát triển thành phần kinh tế tư nhân cũng đồng thời là quá trình tiếp
thu, sử dụng những công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới. Các doanh
nghiệp áp dụng mô hình quản lý tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đại,
điều đó thúc đẩy quá trình đổi mới kỹ thuật và công nghệ trên địa bàn Tỉnh
ngày càng phát triển.
Năm là, thành phần kinh tế tư nhân góp phần mở rộng thị trường, nâng
cao kim ngạch xuất khẩu và tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, đồng thời thúc đẩy
quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Tỉnh. Thông qua phát
triển kinh tế tư nhân, Hải Dương có điều kiện thuận lợi để gắn kết quá trình
sản xuất của Tỉnh với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc tế. Đối tác
đầu tư thường là những công ty, tập đoàn xuyên quốc gia với mạng lưới chi
nhánh toàn cầu. Do vậy, thông qua hoạt động kinh tế tư nhân, Hải Dương có
thể tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu
và tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho địa phương.
* Thực trạng hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân ở Hải Dương
trước năm 2001.
- Những tiềm năng, lợi thế phát triển thành phần kinh tế tư nhân ở
Hải Dương
Điều kiện tự nhiên, Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc
Bộ có diện tích tự nhiên là 1.660,9 km2, tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở tách

số 5, 183,18, 37, 38, 10, đây đều là những tuyến đường cấp I, cho 4 làn xe đi
lại thuận tiện. Hệ thống giao thông đường thuỷ của Hải Dương khá thuận lợi
với 400km đường sông cho tàu thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng; cảng Cống
Câu với công suất 300.000 tấn/năm, cùng hệ thống bến bãi và cảng nội địa đã
đảp ứng tốt nhu cầu tập kết và vận tải hàng hoá một cách thuận lợi. Đường sắt
chạy qua địa bàn tỉnh Hải Dương dài 68,17km với 7 ga, gồm 3 tuyến: Hà Nội
- Hải Phòng, Kép - Hạ Long và Chí Linh - Cổ Thành. Với hệ thống giao
thông đa dạng, khá hoàn chỉnh và hiện đại, Hải Dương có nhiều thuận lợi
6


trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng.
Về dân số năm 2005, dân số của Hải Dương là 1.711.364 người, trong
đó người trong độ tuổi lao động chiếm 49%. Với quy mô dân số trên, Hải
Dương có mật độ dân số đông (1.038 người/km 2), đứng thứ 11/63 tỉnh, thành
trong cả nước và thứ 5/11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng. Với quy mô dân
số và tỷ lệ lao động như trên, Hải Dương có nhiều tiềm năng phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Hải Dương tổ chức hành chính gồm thành phố Hải Dương, thị xã Chí
Linh và 10 huyện: Thanh Hà, Nam Sách, Thanh Miện, Kinh Môn, Kim Thành,
Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, là quê hương của nhiều
làng nghề danh tiếng như rượu nếp Phú Lộc, chạm khắc gỗ Đông Giao, gốm
Chu Đậu, thủ công mỹ nghệ vàng bạc ở Bình Giang, chạm khắc đá ở Kinh Môn,
bánh đậu xanh, bánh gai Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà.... Hơn nữa, Hải
Dương nằm trong vùng du lịch Bắc Bộ, sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch
văn hóa và du lịch tham quan, nghiên cứu. Hải Dương có những địa danh du lịch
nổi tiếng như quần thể di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh),
núi An Phụ, động Kính Chủ, đảo Cò (Thanh Miện)... Đây là điều kiện thuận lợi
tạo lợi thế so sánh của Hải Dương trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
kinh tế tư nhân nói riêng.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình phát triển thành phần kinh tế
tư nhân ở Hải Dương trước năm 2001 vẫn còn những hạn chế, bất cập:
Thành phần kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng chưa nhiều trong GDP của
Tỉnh: “Gần 25% tổng giá trị sản xuất và khoảng 12% tổng GDP của Tỉnh), phần
lớn có quy mô nhỏ (vốn bình quân chỉ có 900 triệu đồng / doanh nghiệp: 77,2%
số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng; 20,2% số doanh nghiệp từ 1 tỷ đến 5 tỷ
đồng; 2,6% số doanh nghiệp có vốn trên 5 tỷ đồng” [80, tr.34].
Hiệu quả và sức cạnh tranh yếu, đầu tư vào sản xuất chưa nhiều
(41,2% tổng số doanh nghiệp), cơ cấu ngành nghề, vùng chưa hợp lý, ít đầu
tư vào lĩnh vực nông- ngư nghiệp, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn, vùng kinh tế thuần nông (chỉ có 6,8% tổng số doanh
8


nghiệp, với 5,2% tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp ở các huyện Tứ
Kỳ, Thanh Miện, Ninh Giang, Cẩm Giàng). Chưa giúp đỡ được nông dân về
ứng dụng khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm. Quan hệ làm ăn với nước
ngoài chưa nhiều.
Một bộ phận đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt Luật lao động,
pháp lệnh kế toán - thống kê, chưa chú trọng đến các biện pháp bảo vệ môi
trường, một số đơn vị, cá nhân vi phạm luật thuế, gian lận thương mại, kinh
doanh trái phép…
Thực trạng trên đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương
tiếp tục quán triệt đường lối của Đảng, phát huy tối đa thế mạnh của địa
phương phát triển thành phần kinh tế tư nhân mạnh mẽ hơn theo hướng
nhanh, hiệu quả và bền vững.
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thành phần kinh
tế tư nhân giai đoạn (2001-2010)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với đường lối đổi mới toàn
diện đất nước theo định hướng XHCN, trước hết là đổi mới tư duy, với tinh

là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển thành
phần kinh tế tư nhân
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân.
Phát huy được nguồn lực của kinh tế tư nhân. Khuyến khích kinh tế tư nhân phát
triển vào các ngành, lĩnh vực và địa bàn có ưu thế của địa phương.
* Quan điểm phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII (2001) nêu rõ:
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh,…kinh tế cá thể,
tiểu chủ được tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, kinh tế tư bản tư nhân
được khuyến khích rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh
10


doanh mà luật pháp không cấm [80, tr.36].
Chương trình hành động số 22 - CTr/TU ngày 08/5/2002 của Tỉnh ủy
khẳng định:
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh
tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả
đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần,
bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế
tập thể và kinh tế Nhà nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư
kinh doanh. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của
Tỉnh đến năm 2010, các quy hoạch ngành, quy hoạch sản phẩm để khai
thác tiềm năng và lợi thế của Tỉnh. Phát huy được nguồn lực của kinh tế
tư nhân, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển vào các ngành, lĩnh vực

ngoài; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng
hoá Việt Nam.
Tiếp đó, Chương trình hành động số 22 - CTr/TU của Tỉnh ủy khẳng định:
“Liên kết rộng rãi các hộ sản xuất, kinh doanh với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; khuyến khích các
hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc
phát triển lớn hơn” [72, tr.13]. Khuyến khích kinh tế hộ nông thôn làm vệ tinh
cho các doanh nghiệp hoặc phát triển thành kinh tế trang trại.“Tập trung đầu tư
mạnh vào các loại cây trồng dài ngày, chăn nuôi gia súc, gia cầm với quy mô vừa
và lớn (hộ và trang trại) ở các vùng có điều kiện như huyện Tứ Kỳ, Kinh Môn, Chí
Linh, Nam Sách, Gia Lộc..” [72, tr.16].
Đến năm 2005, phấn đấu thành phần kinh tế tư nhân ngày càng đóng vai
trò quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương, là thành phần kinh tế năng
động, sử dụng vốn có hiệu quả, đạt tốc độ phát triển trên 15% %/năm, tiếp tục
chứng tỏ vai trò động lực của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương, phấn đấu toàn Tỉnh có khoảng 1.500 doanh nghiệp hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp và 15.000 hộ cá thể, số vốn đăng ký trên 15.000
tỷ đồng, tạo việc làm cho trên 15 vạn lao động. Mỗi năm đăng ký mới trên 500

12


doanh nghiệp và 2.000 hộ kinh doanh cá thể, giải quyết việc làm cho trên 5.000
lao động. Trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của địa
phương, tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để xây dựng một số thương hiệu
mạnh, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đòi hỏi công nghệ cao và một số mặt
hàng chủ yếu của địa phương, đẩy mạnh xuất khẩu.
* Nhiệm vụ và giải pháp phát triển thành phần kinh tế tư nhân
Tiếp tục cải cách hành chính tạo môi trường thông thoáng phát triển
thành phần kinh tế tư nhân.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến và trợ giúp phát triển doanh nghiệp, các sở,
ngành, chính quyền địa phương các cấp chủ động nắm bắt, giải quyết kịp thời các
khó khăn, vướng mắc cản trở đến đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong phạm vi thuộc thẩm quyền.
Đài phát thanh truyền hình Tỉnh, Báo Hải Dương đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên
quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, khuyến khích
đầu tư, để các nhà đầu tư thực hiện nhằm chấp hành đúng các chủ trương
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tạo môi trường đầu tư
kinh doanh lành mạnh.
Nhiệm vụ và giải pháp về các chính sách liên quan đến phát triển
thành phần kinh tế tư nhân
Chương trình hành động số 22-CTr/TU ngày 08/5/2002 cuả Tỉnh ủy chủ
trương ban hành các chính sách phát triển kinh tế tư nhân:
Chính sách về lao động, tiền lương: Lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường giám
sát các doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động trong việc thực hiện chế độ, chính
sách đối với người lao động đã được quy định tại Bộ luật Lao động và Luật
Bảo hiểm như: Các chính sách về tiền lương, tiền thưởng, chính sách bảo
hiểm xã hội đối với người lao động..., tạo sự gắn bó giữa người lao động và
người sử dụng lao động.
Chính sách đất đai: Giải quyết nhanh chóng thủ tục cấp đất cho các doanh
14


nghiệp có nhu cầu đất để xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân nói chung. Tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp được chấp thuận thuê đất trong các khu, cụm công nghiệp, các
làng nghề nhanh chóng xây dựng cơ sở, sớm đi vào sản xuất.
Chính sách tài chính tín dụng: Thực hiện đúng các chế độ ưu đãi của nhà
nước đối với doanh nghiệp như: Miễn giảm thuế, hỗ trợ lãi xuất vay vốn..., tạo

Tỉnh trong 5 năm (2001 - 2005) là 141 tỷ đồng. Trong đó kinh phí quản lý
là 21 tỷ đồng, bằng 14,2%, kinh phí sự nghiệp khoa học - công nghệ là 11
tỷ đồng bằng 80,1%; kinh phí từ nguồn sự nghiệp môi trường là 6.9 tỷ
đồng, bằng 4,7%. Kinh phí trung bình hằng năm là 28.2 tỷ đồng, đạt
khoảng 0,45% tổng chi ngân sách của Tỉnh, tăng 0,11% so với năm 2000,
trong đó kinh phí đầu tư tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ và đầu
tư phát triển cho các tổ chức khoa học - công nghệ của Tỉnh đạt trên 20 tỷ
đồng. Trong 5 năm (2001 - 2005) có 151 nhiệm vụ khoa học - công nghệ,
trong đó 147 nhiệm vụ phát huy tác dụng ở mức độ khác nhau, chiếm
97,3% [88. tr.22].
Dự án: “Xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể Nếp cái hoa vàng
Kinh Môn” đã khôi phục lại vùng sản xuất nếp cái hoa vàng đặc sản tập trung
với diện tích trên 500 ha với hình thức chủ yếu là các trang trại.
Dự án: “Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về Sở hữu trí tuệ trên Đài
Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hải Dương” đã góp phần nâng cao nhận thức
của cán bộ, nhân dân và các doanh nghiệp về ý nghĩa to lớn của việc xây
dựng, bảo hộ, quảng bá thương hiệu.
Dự án: “Ứng dụng công nghệ SAIBON xử lý ô nhiễm môi trường sau
chăn nuôi lợn quy mô trang trại” đã được triển khai thực hiện với sự hỗ trợ
của Nhật Bản và nguồn đối ứng của Tỉnh.

16


Một số tổ chức khoa học - công nghệ và doanh nghiệp của Tỉnh đã và
đang thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia ứng dụng khoa học - công
nghệ xây dựng các làng nghề ở Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách...
Những năm qua, tỉnh Hải Dương đã phối hợp có hiệu quả với các
trường Đại học, Viện nghiên cứu, tổ chức khoa học - công nghệ trong nghiên
cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, trong đó tiêu biểu là sự phối

nhân” [72, tr.13].
Từ năm 2002, Tỉnh đã xúc tiến quy hoạch các khu, cụm công nghiệp.
Đến nay đã quy hoạch xong 7 khu, trong đó có 6 khu được Chính phủ đưa
vào danh mục các khu công nghiệp tập trung trong cả nước với tổng diện tích
642,75 ha, trong đó 3 khu công nghiệp đã được đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng tương đối tốt như: Nam Sách, Đại An và Việt Hoà, thu hút 24 nhà đầu tư
thuê 130 ha đất, chiếm khoảng 30% tổng diện tích. Các khu công nghiệp tập
trung khác đang trong tiến trình triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng và có 20 dự
án bỏ vốn vào đầu tư.
Ngoài ra, đã có 9 cụm công nghiệp, với diện tích 504,97 ha được Tỉnh
phê duyệt, hiện đã thu hút 102 dự án với tổng diện tích cho thuê là 141,74 ha
và số vốn đăng ký là 1797 tỷ đồng, sử dụng được 22.896 lao động: Cấm
Thượng, Việt Hoà, phía tây Ngô Quyền (Thành phố Hải Dương), Hưng Thịnh
(Bình Giang), Cộng Hoà (Chí Linh), An Đồng (Nam Sách), Lai Cách (Cẩm
Giàng) và cụm Tầu Thuỷ (Kim Thành).
Như vậy, vấn đề chỉ đạo thực hiện chính sách đất đai được thể hiện rõ
trong hai văn bản nêu trên. Nếu như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh tập
trung vào xây dựng, quy hoạch mặt bằng sản xuất đối với kinh tế cá thể, tiểu
chủ trong lĩnh vực nông nghiệp thì Chương trình hành động số 22-CTr/TU lại
chủ yếu chỉ đạo quy hoạch mặt bằng sản xuất đối với kinh tế tư bản tư nhân ở
các khu công nghiệp, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân
có thêm cơ sở để phát triển, mở rộng sản xuất - kinh doanh.
* Chỉ đạo thực hiện chính sách lao động, việc làm và bảo hiểm xã hội.
18


Để bảo vệ quyền lợi của người lao động, và giải quyết việc làm cho người
lao động. Ngày 08/5/2002, Chương trình hành động số 22-CTr/TU của Tỉnh ủy
khẳng định: “Bằng mọi biện pháp và hình thức giải quyết việc làm cho phần lớn
lao động xã hội, bảo đảm việc làm có đủ thu nhập để người lao động nuôi sống

UBND tỉnh Hải Dương đã sớm chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế “một cửa, một đầu mối” trong giải quyết các thủ tục hành chính trên tất cả
các lĩnh vực đời sống, xã hội nhất là trong lĩnh vực liên quan đến đầu tư, hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đến năm 2005, 100% các Sở
ngành, Uỷ ban nhân các huyện, thành phố và UBND các xã phường, thị trấn của
Tỉnh đã thực hiện cơ chế “một cửa” tập trung vào những vấn đề: Thẩm định dự án
đầu tư; chấp thuận đầu tư cho thuê đất; cấp giấy phép xây dựng; cấp giấy chứng
nhận ưu đãi đầu tư; đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề, v.v... Đã tạo điều
kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Về thủ tục đăng ký kinh doanh: Tỉnh ủy đã chỉ đạo sâu sát thực hiện cải
cách hành chính theo cơ chế một cửa ngay từ đầu 2002, các mẫu biểu đã được
đơn giản hoá, đã công khai, minh bạch về hồ sơ, phí, thời gian giải quyết, đã
giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư, giải quyết cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, cấp dấu và mã số thuế đặt tại Sở Kế hoạch và Đầu tư đi vào
hoạt động từ tháng 3/2004, thời gian giải quyết các thủ tục trên đã rút ngắn rất
nhiều so với luật quy định, đến nay chỉ còn 5 ngày (so với luật định là 15
ngày), là Tỉnh đi đầu trong cả nước thực hiện cấp Đăng ký kinh doanh cho
doanh nghiệp sớm sử dụng mã số thuế làm mã số doanh nghiệp.
Ngày 18/3/2003 BCH Đảng bộ tỉnh “Báo cáo kiểm tra Sơ kết một
năm thực hiện Nghị quyết 14 - NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khóa IX)
số 64 - BC/TU và Chương trình hành động số 22 của Tỉnh ủy về phát triển
kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, trong đó nêu rõ:
Xây dựng, định hướng ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên đầu tư cũng như xác

20


định những địa bàn khuyến khích đầu tư. Cải cách hành chính và đơn giản
hóa thủ tục cấp phép đầu tư và thuế. Phát triển một số dịch vụ hỗ trợ doanh
nghiệp về: Tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ, đào tạo, sở hữu công

trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã có sự đổi mới căn bản theo hướng “nhanh,
gọn, minh bạch”. Cơ chế đó đã tạo động lực thúc đẩy thành phần kinh tế tư
nhân phát triển cả về quy mô tổ chức, ngành nghề kinh doanh.
1.2.3. Chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi thu hút đầu tư
Thực hiện mục tiêu xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, để thu hút tối
đa các nguồn vốn, Tỉnh ủy, UBND đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp, giải
pháp xây dựng kết cấu hạ tầng thu hút đầu tư.
Ngày 26 tháng 9 năm 2002, Tỉnh ủy Hải Dương ra Chương trình số 13CTr/TU Về xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
giai đoạn 2001-2005. Với 4 đề án, Chương trình số 13 - CTr/TU của Tỉnh ủy
đã xác định: “Đường bộ là phương thức vận tải chủ đạo phục vụ các mục tiêu
thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế đột phá gồm phát triển công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ và du lịch” [73, tr.15]
Các Quốc lộ đạt tiêu chuẩn cấp I, II, III, các tuyến đường tỉnh chủ yếu
đạt cấp III, một số đoạn tuyến có lưu lượng vận tải lớn được quy hoạch cấp II,
cầu cống được thiết kế bảo đảm tải trọng khai thác H30- XB80 đồng bộ với cấp
đường. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống trục ngang gồm các tuyến đường cao
tốc Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài - Hạ Long, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18 và một số
tuyến đường liên tỉnh đóng vai trò là các trục ngang, kết nối các huyện như
đường 392, 396… Hệ thống trục dọc bao gồm Quốc lộ 37, Quốc lộ 38, đường
vành đai 5 Hà Nội, trục Bắc – Nam, các đường tỉnh 390, 388….
Giao thông: Đảm bảo quỹ đất giành cho giao thông đô thị đạt 20-23%,
quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống giao thông thôn, xã, các bến xe khách, bãi
đỗ xe. Các tuyến đường đô thị được nâng cấp, cải tạo bảo đảm 100% mặt
đường bê tông nhựa, rải nhựa, bê tông xi măng. Xây dựng đường vành đai 1
và 2 của thành phố Hải Dương và đường vành đai của Tỉnh liên kết các huyện
22


Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang, Tứ Kỳ, Thanh Hà. Cải tạo các nút giao
thông, chiếu sáng đô thị.

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và Hiệp hội doanh nghiệp đối với
sự phát triển thành phần kinh tế tư nhân
* Chỉ đạo tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc phát
triển thành phần kinh tế tư nhân
Về quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 18/4/2002
Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị số 11- CT/TU Về việc nghiên cứu quán triệt và tổ chức
thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương.
Trong đó, Tỉnh ủy chỉ thị cho các Đảng uỷ các cấp, Thành uỷ, các Đảng uỷ khối
cơ quan, đảng đoàn, ban cán sự đảng các ngành, đoàn thể chính trị cần tổ chức
việc học tập cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong ngành, đoàn thể, địa phương
mình. Giao cho Ban Tư tưởng - Văn hoá tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệt
theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Giao cho hệ thống trường chính trị, các
trường đại học, cao đẳng đưa nội dung Nghị quyết số 14-NQ/TW vào chương
trình nghiên cứu, giảng dạy. Yêu cầu các cơ quan nghiên cứu xây dựng các
chương trình nghiên cứu phục vụ thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW.
Ngày 09/05/2003 Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 64 - KL/TU trong đó
đánh giá sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18/3/2002 và
đưa ra nhiều giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến
khích và tạo điều kiện phát triển thành phần kinh tế tư nhân trong bối cảnh
mới. Tiếp đó, ngày 05/5/2005, Tỉnh ủy có Kết luận 02-KL/TU Sơ kết 3 năm
thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về “Tiếp tục đổi mới cơ chế,
chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển thành phần kinh tế tư
nhân”. Hội nghị đã đánh giá toàn diện thành tựu và những hạn chế, bất cập
sau 3 năm triển khai Nghị quyết, từ đó đưa ra nhiều nhiệm vụ giải pháp mới
nhằm tiếp tục khuyến khích phát triển thành phần kinh tế tư nhân.
Về công tác xây dựng đảng trong doanh nghiệp tư nhân, trên cơ sở Báo
cáo của Ban Tổ chức tỉnh, và tổng kết việc thực hiện Quy định số 16-QĐ/TW,
24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status