LUẬN văn THẠC sĩ - đảng bộ tỉnh đồng nai lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015 - Pdf 52

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan
tâm xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của
TCCSĐ, góp phần quyết định tới thắng lợi cách mạng. Người chỉ rõ: “Để lãnh đạo
cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng
viên đều tốt” [49, tr.113]. Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định “xây dựng Đảng là nhiệm
vụ then chốt”. Trong đó, xây dựng TCCSĐ là một trụ cột quan trọng, có tính nền
tảng. Thước đo hiệu quả của công tác xây dựng TCCSĐ là chất lượng tổ chức cơ sở,
tình hình đoàn kết ở cơ sở và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương,
đơn vị.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Trung ương Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ
thị, qui định, hướng dẫn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của TCCSĐ - hạt
nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, nhất là đối với TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn, nơi
trực tiếp cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên;
đồng thời đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo chính quyền cơ sở, các tổ chức và
đoàn thể quần chúng thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, góp phần thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng ở cơ sở.
Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, có dân số đông thứ nhì miền
Nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh), đứng thứ 5 sau cả nước; có diện tích lớn thứ
nhì ở miền Đông (sau tỉnh Bình Phước) và thứ 3 ở miền Nam (sau tỉnh Bình Phước
và tỉnh Kiên Giang). Đồng Nai là cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước; là một trong ba góc nhọn của
tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai. Trong công
cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển theo hướng CNH, HĐH, công tác xây dựng
Đảng nói chung và công tác xây dựng TCCSĐ nói riêng luôn được Đảng bộ tỉnh
đặc biệt quan tâm. Từng bước xây dựng TCCSĐ thực sự là hạt nhân chính trị lãnh

118

dựng Đảng về tổ chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nhóm tác giả Nguyễn Phú
Trọng, Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (Đồng chủ biên) (2004), Nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

119


Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Phú Trọng (2005), Nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Dương Trung Ý (2006), “Nâng cao chất lượng TCCSĐ và đảng
viên dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội X”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 8); Ngô
Kim Ngân (2006), “Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của
TCCSĐ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 6); Nguyễn Ngọc Thịnh (2007), Nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Cao Ngọc Hải (2007), “Nâng cao tính chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 2); Trương Thị Thông (2008),
“Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ”,
Tạp chí Lý luận Chính trị, (số 4); Bùi Đức Lại (2009), “Về chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 7); Nguyễn Đức Hà (2010), Một
số vấn đề về xây dựng tổ chức cở sở đảng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Trần Lưu Hải (2010), “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu và
nhiệm vụ mới”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 2); Vũ Văn Phúc (2011), “Tiếp tục
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Cộng
sản Điện tử, ngày 01/7/2011; Ban Tuyên giáo Trung ương (2012), Một số vấn đề
cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Minh
Trưởng (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ đảng gắn với xây dựng
TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống các
nguyên lý, quan điểm, nội dung chủ yếu về Đảng Cộng sản cầm quyền; về công tác

học, Hà Nội; Võ Minh Chiến (2007), “Kinh nghiệm xây dựng TCCSĐ TSVM ở Sóc
Trăng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 4); Tường Thị Hồng Vân (2009), “Đánh giá chất
lượng TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ Hà Nội”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số
9); Trần Thị Thu Hằng (2012), Công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà
Nội từ năm 1996 đến năm 2005, Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng, Đại học
Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Đình Hùng (2014), Công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường,
thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 2001 đến 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; Khuất Văn Hùng (2015), Công tác xây dựng
TCCSĐ của Đảng bộ thị xã Sơn Tây (tỉnh Hà Tây) từ năm 2001 đến năm 2008, Luận
văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; Khương Mạnh Sơn (2016),

121


Đảng bộ huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ từ
năm 2005 đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội;
Nguyễn Thanh Hải (2017), Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ
năm 2005 đến năm 2015; Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội;
Nguyễn Tiến Đức (2017), Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo xây dựng TCCSĐ xã
phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị, Hà Nội.
Những công trình khoa học trên đã nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng và
làm rõ sự cần thiết của công tác xây dựng TCCSĐ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên ở các vùng, miền, địa phương, đơn vị trong cả nước; qua đó đề xuất một số giải
pháp, đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của TCCSĐ, coi là nhân tố cơ bản là hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, góp phần quan
trọng vào thành công của sự nghiệp CNH, HĐH.
* Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng tổ chức cơ sở
đảng ở tỉnh Đồng Nai
Ngô Đức Tính, Lê Hồng Phương (2001), Về xây dựng cơ sở đảng trong vùng

nghiên cứu của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng TCCSĐ ở
xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015; từ đó rút ra một số kinh nghiệm
có giá trị tham khảo cho hiện tại.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nêu và phân tích làm rõ những yếu tố tác động đến công tác xây dựng
TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trong những năm 2005 2015.
Hệ thống hóa và làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây
dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015.
Nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và đúc rút một số
kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã,
phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015.

123


* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng
Nai về xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trên các mặt: Giáo dục chính trị tư
tưởng, rèn luyện đạo đức tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy TCCSĐ và khắc phục những hạn
chế, yếu kém; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,
đảng viên và công tác phát triển đảng; thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi
hành kỷ luật Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo của TCCSĐ ở xã, phường, thị

thời có thể là tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), Kết luận, Danh mục tài liệu tham
khảo và Phụ lục.

125


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BÔ
TỈNH ĐỒNG NAI VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN (2005 - 2010)

1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về
xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn (2005 - 2010)
1.1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở
xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2005 - 2010)
* Vị trí, vai trò của TCCSĐ và công tác xây dựng TCCSĐ
Trong xây dựng nền tảng lý luận cho chủ nghĩa xã hội khoa học, cũng như trong
quá trình hoạt động thực tiễn của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn quan tâm đến việc
thành lập đảng cộng sản và các chi bộ cơ sở của đảng. Các ông cho rằng, cần phải
thành lập các chi bộ ở các địa phương, trong các hiệp hội công nhân, đồng thời nhấn
mạnh về tầm quan trọng đặc biệt của các chi bộ cơ sở - TCCSĐ. Sự quan tâm sâu sắc
của C.Mác, Ph.Ăngghen được thể hiện thông qua tổ chức “Liên đoàn những người
cộng sản” (1847). Lúc đó, những chi bộ được thành lập dưới hình thức các hội bí mật
trong các hiệp hội công nhân và là nơi kết nạp, quản lý hội viên, nơi tuyên truyền lý
tưởng cộng sản và lãnh đạo công nhân đấu tranh chống giai cấp tư sản. C.Mác cho
rằng: Đảng Cộng sản đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân là một chỉnh thể
có kết cấu chặt chẽ trong một hệ thống tổ chức mà nền tảng là các chi bộ cơ sở, nếu các

chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và
mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn
hình muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng
một cách có hệ thống” [42, tr.232]. Khi chuyển sang thực hiện “Chính sách kinh tế
mới”, V.I. Lênin cho rằng, để giành thắng lợi trong việc chuyển biến chiến lược
này, các TCCSĐ có vai trò hết sức to lớn. Chỉ bằng con đường thực hiện nhiều
biện pháp nâng cao vai trò tổ chức đảng, chăm lo xây dựng, phát huy cao tính chủ
động sáng tạo của cơ sở, thì những nhiệm vụ và mục tiêu của chính sách kinh tế
mới của Nhà nước Xô -Viết mới được thực hiện trong thực tiễn và giành được
thắng lợi.
V.I. Lênin không những đã nêu lên vị trí, vai trò quan trọng của TCCSĐ trong sự
nghiệp cách mạng nói chung mà còn khẳng định vai trò hết sức quan trọng của các
TCCSĐ ở địa phương, nơi mà các TCCSĐ có trách nhiệm tập hợp, lãnh đạo đông đảo
quần chúng lao động, lực lượng hùng mạnh của cách mạng. V.I. Lênin luôn khẳng định:

127


Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì vậy, các TCCSĐ “phải đem hết sức lực,
đem hết chú ý để tạo ra, để phát huy một tính chủ động lớn hơn ở cơ sở - trong các
tỉnh; nhất là trong các huyện; nhất là trong các tổng và các xã” [43, tr.279].
Thực tiễn đã chứng minh rằng, ngay từ khi các tổ chức cộng sản mới ra đời và
trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
luôn khẳng định TCCSĐ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, vì vậy, phải thường xuyên xây dựng TCCSĐ vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức là tất yếu khách quan.
Vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về Đảng Cộng sản và tầm quan trọng của TCCSĐ, trong quá trình hoạt động
cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở,
đồng thời nhận rõ vai trò quan trọng quyết định thắng lợi cách mạng của TCCSĐ.
Theo Người, TCCSĐ là nơi nắm vững và bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở theo

bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”. Theo
đó, có thể khái quát vị trí, tầm quan trọng của TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trên
những vấn đề sau:
Thứ nhất, TCCSĐ ở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển kinh
tế - xã hội; xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn
minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động
viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Thứ hai, TCCSĐ ở phường, thị trấn là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo
thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước và quản lý đô thị trên địa bàn;
xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, phường, thị trấn giàu đẹp, văn
minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động
viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Như vậy, dù ở giai đoạn nào trên con đường phát triển của cách mạng Việt
Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thì TCCSĐ nói chung, TCCSĐ ở xã,
phường, thị trấn nói riêng luôn có vị trí, tầm quan trọng, là nền tảng, là hạt nhân chính
trị lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, đảm bảo cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống;

129


đồng thời là cấp tổ chức trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng. Vì
thế, củng cố, xây dựng TCCSĐ nói chung, TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn nói riêng,
thực sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, góp phần quyết định trong quá trình
lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương là yêu cầu có tính cấp
thiết đối với Đảng bộ tỉnh Đồng Nai.
* Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai tác động đến
công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn
Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích

Tính đến giữa tháng 12 - 2010, toàn tỉnh có 1.600 đảng viên là người có đạo. Một
số xã, phường, thị trấn có số lượng đảng viên theo đạo Công giáo chiếm tỷ lệ cao,
như: Gia Kiệm (huyện Thống Nhất) với 72%; Gia Tân 3 (huyện Thống Nhất) với
66,6%; Thanh Sơn (huyện Tân Phú) với 60% [5, tr.3]. Theo đó, nhiều địa phương
có đội ngũ cán bộ, đảng viên là người theo đạo Công giáo chiếm tỷ lệ cao, như xã
Gia Tân 3 (huyện Thống Nhất) với 95% cán bộ, đảng viên của xã là đồng bào Công
giáo. Ở phường Tam Hòa (thành phố Biên Hòa), 85% cấp ủy cơ sở là người theo đạo
Công giáo, trong đó có Bí thư Đảng ủy phường [80, tr.6]. Đây cũng là điều kiện thuận
lợi để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong đồng bào tôn giáo nói
riêng và thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước nói chung. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng ở những vùng đông đồng bào có
đạo cũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp do có sự tác động của giáo hội, đặc biệt số
giáo dân miền Bắc bị các thế lực phản động, thù địch dụ dỗ và cưỡng ép vào miền
Nam năm 1954, sống dưới chế độ Mỹ, ngụy trong nhiều thập niên, làm cho vấn đề
càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Vì thế, công tác xây dựng TCCSĐ ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của Đảng bộ
tỉnh.
* Thực trạng công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ
tỉnh Đồng Nai trước năm 2005
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai có 17 đảng bộ trực thuộc (09 huyện, 01 thị xã, 01
thành phố và 06 đảng ủy trực thuộc), với 171 TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn (trong
đó có 136 đảng bộ xã, 29 đảng bộ phường và 6 đảng bộ thị trấn, 963 chi bộ ấp, khu

131


phố; tổng số đảng viên ở xã, phường, thị trấn gần 30.000 đảng viên, chiếm gần
80% so với đảng viên của toàn Đảng bộ tỉnh)[76, tr.5].
Đặc điểm của các TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
trước năm 2005, có số lượng cấp ủy đảng và đội ngũ đảng viên đông, phần lớn đảng

diện, hầu hết số TCCSĐ xã, phường, thị trấn đạt TSVM luôn phát huy được vai trò
của tổ chức đảng, thực sự là hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở địa
phương) [71, tr.28].
Ba là, công tác phát triển đảng được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Hàng năm,
căn cứ vào chỉ tiêu Nghị quyết của Tỉnh ủy, các cấp ủy đều có kế hoạch phát triển
đảng cụ thể, chỉ đạo chặt chẽ công tác tạo nguồn đội ngũ phát triển đảng. Trong
nhiệm kỳ 2001 - 2005, toàn Đảng bộ đã kết nạp 6.823 đảng viên (đạt chỉ tiêu nghị
quyết; riêng số đảng viên được kết nạp ở các TCCSĐ xã, phường, thị trấn là 6.190
chiếm 90,73%). Tỉ lệ đảng viên trẻ, nữ, trí thức, đảng viên là người dân tộc thiểu số
và người theo đạo tăng lên [76, tr.4].
Bốn là, công tác đào tạo, bồi dưỡng, qui hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở cơ sở được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Số lượng nguồn cán
bộ đưa vào qui hoạch đạt từ 2,5 lần trở lên so với số lượng chức danh hiện có. Kết quả
5 năm (2001 - 2005), Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp
huyện đã bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho 143.508 lượt cán bộ,
đảng viên là lãnh đạo xã, phường, thị trấn và các ấp, khu phố qua đó góp phần nâng cao
trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo của cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Phần lớn đội ngũ
cán bộ được bố trí, đề bạt đúng qui hoạch, phù hợp với trình độ năng lực; khắc phục
được tình trạng chủ quan, tình cảm, nể nang, cục bộ, bè phái [71, tr.30].
Năm là, công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng đã quan tâm, chú trọng, góp
phần xây dựng Đảng bộ ngày càng TSVM. Việc thực hiện công tác kiểm tra và thi
hành kỷ luật của Đảng đảm bảo dân chủ, công khai, tuân thủ nguyên tắc, quy định
của Đảng, phục vụ cho việc kết luận chính xác. Xử lý kỷ luật và thi hành kỷ luật
bảo đảm đúng quy trình, phương châm, nguyên tắc theo quy định của Điều lệ
Đảng. Công tác kiểm tra và giữ gìn kỷ luật Đảng đã có tác dụng thiết thực, góp
phần nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng và củng cố lòng tin của nhân
dân đối với Đảng ở cơ sở.

133


chế, chưa kịp thời phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở địa phương

134


cơ sở. Nội dung, hình thức, chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ ấp, khu phố còn
hạn chế, còn nghèo nàn, thiếu các biện pháp cụ thể, thiết thực trong tổ chức thực
hiện, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình chưa cao. Việc xây dựng và thực
hiện quy chế dân chủ - quy chế hoạt động ở một số nơi hiệu quả còn thấp. Nội
dung và phương thức lãnh đạo của các TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn chậm được
đổi mới.
Thứ ba, một bộ phận cán bộ, đảng viên trong đó có cấp ủy viên cấp xã,
phường, thị trấn còn hạn chế về năng lực quản lý và chuyên môn, chưa năng động,
sáng tạo, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm
chất đạo đức, suy thoái về tư tưởng chính trị, cố ý làm trái để vụ lợi, vi phạm pháp
luật làm ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo của Đảng bộ và sự điều hành của chính quyền
địa phương. Công tác phát triển đảng viên và tổ chức đảng ở vùng sâu, vùng xa và
vùng đồng bào theo đạo vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Số ấp, khu phố chưa có đảng
viên hoặc chưa có chi bộ đảng còn nhiều, chiếm 11,74% [76, tr.6]. Công tác đào
tạo, sử dụng cán bộ ở một số địa phương chưa gắn với quy hoạch và bố trí sử dụng,
nên còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, hẫng hụt cán bộ, bị động, lúng túng khi
xem xét đề bạt, luân chuyển cán bộ.
Thứ tư, công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng có mặt còn hạn chế, có việc, có trường
hợp xử lý chưa nghiêm, chưa dứt điểm hoặc để kéo dài, còn bỏ lọt đối tượng và nội
dung vi phạm tạo nên không khí căng thẳng trong tổ chức đảng ở địa phương. Tình
hình vi phạm và xử lý kỷ luật còn nhiều, trong 5 năm (2001 - 2005), các cấp ủy đã xử
lý kỷ luật bằng các hình thức 11 TCCSĐ xã, phường, thị trấn, giảm 0,59% và 1.685
đảng viên, tăng 0,26% so với nhiệm kỳ trước [71, tr.32].
Những khuyết điểm, hạn chế trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ
quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Đó là, có một số cấp ủy nhận

chức này thực sự trong sạch, vững mạnh; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng,
quản lý, giám sát đảng viên về năng lực hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức, lối
sống” [20, tr.298].
Để thực hiện tốt những phương hướng, mục tiêu nêu trên, Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp về công tác xây
dựng TCCSĐ, cụ thể là:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các quy định về chức năng,
nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các loại hình TCCSĐ. Tiếp tục đổi mới nội
dung và phương pháp để đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ và đảng viên.

136


Thứ hai, thực hiện tốt nguyên tắc dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng từ cơ sở.
Có cơ chế để nhân dân tham gia ý kiến vào việc xây dựng các nghị quyết của đảng bộ,
chi bộ, các quyết định của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở trực tiếp liên quan đến
quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân; vào việc bố trí cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cơ sở; để nhân dân tham gia giám sát tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ,
đảng viên.
Thứ ba, thực hiện đồng bộ các biện pháp củng cố TCCSĐ, chú trọng những địa
bàn xung yếu, vùng sâu, vùng xa, ở các đảng bộ, chi bộ yếu kém; nâng cao tính chiến
đấu, tính giáo dục, đề cao tính tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; kiện toàn
đội ngũ cấp ủy, bí thư chi bộ; bồi dưỡng, tạo nguồn, thực hiện việc tiêu chuẩn hóa cán
bộ, công chức cơ sở; đề cao trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên của chi
bộ.
Thứ tư, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các trường chính
trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các trường dân tộc nội trú để
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ sở.
Thứ năm, nâng cao chất lượng đảng viên với các yêu cầu về chính trị tư tưởng,
trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức lối sống. Chú trọng và tăng cường công tác

lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là bí thư đảng bộ, chi bộ, người đứng đầu
và các cấp ủy viên [21, tr.93 - 94].
Nghị quyết đề ra ba mục tiêu phấn đấu để đạt được trong 5 năm tới là:
Thứ nhất, tập trung sức để xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt
động của các loại hình TCCSĐ, làm cho tổ chức đảng ở cơ sở vững mạnh về
chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, lãnh
đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở
cơ sở.
Thứ hai, kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, thống nhất,
bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng ở cơ sở. Tập trung củng cố, xây dựng tổ chức đảng và
kết nạp đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên.
Bảo đảm các loại hình TCCSĐ đều có quy định về chức năng, nhiệm vụ và quy chế
làm việc phù hợp.

138


Thứ ba, chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, trước hết là bí thư cấp ủy và
cán bộ, đảng viên thật sự tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng,
có ý thức tổ chức kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết thay thế
những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, đồng
thời đưa ra khỏi Ðảng những người không đủ tư cách đảng viên [21, tr.95-96].
Từ vị trí, vai trò, cũng như những yếu tố tác động và thực trạng của công tác
xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trước năm 2005;
những định hướng về xây dựng TCCSĐ ở Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng (khóa X) là
cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng để Đảng bộ tỉnh Đồng Nai quán triệt, đề ra chủ
trương, tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn
toàn diện, đáp ứng với thực tiễn của địa phương.

TCCSĐ xã, phường, thị trấn và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:
Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực cụ thể hóa đường lối của Đảng;
đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng và rèn luyện phẩm chất đạo đức cán
bộ [71, tr.87].
Tiếp tục coi trọng giáo dục nâng cao hơn nữa nhận thức và sự kiên định của
cán bộ, công chức, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn kết chặt chẽ việc nghiên cứu học tập nghị
quyết với xây dựng và thực hiện hành động của địa phương. Tiếp tục đổi mới hình
thức, phương pháp học tập chính trị, quán triệt các nghị quyết của Đảng cho cán
bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nhằm đạt kết quả tốt hơn, tạo nhất trí cao
trong toàn Đảng bộ và sự đồng thuận trong xã hội.
Thực hiện nghiêm chế độ học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên
theo Quy định 54 - QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương (khóa VIII) và Qui định
612 - QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa VII). Tổ chức học tập, quán triệt
sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, các Nghị quyết Hội nghị
Trung ương (khóa X), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII và các chương
trình hành động của Đảng bộ tỉnh thực hiện các nghị quyết Trung ương (khóa X).

140


Thường xuyên tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phát động rộng rãi phong trào “sống, chiến đấu, lao
động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong cán bộ, đảng viên và các đoàn thể
quần chúng.
Tăng cường giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, đảng viên giữ vững phẩm chất,
đạo đức cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đồng
thời làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò của
TCCSĐ xã, phường, thị trấn đối với kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của
địa phương. Giáo dục nâng cao hơn nữa nhận thức, tinh thần cảnh giác cách

dân. Chú ý quy hoạch phát triển cán bộ nữ, cán bộ các dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ có
triển vọng.
Ba là, phát huy dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác kiểm tra [71, tr.96].
Cải tiến nội dung, phương thức sinh hoạt của các tổ chức đảng, nhất là sinh
hoạt đảng bộ cơ sở, chi bộ ấp, khu phố theo qui định chức năng, nhiệm vụ ở địa
phương; nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết của cấp ủy cơ sở; thực hiện chế
độ tự phê bình và phê bình thành nhiệm vụ thường xuyên trong sinh hoạt Đảng,
nhằm mở rộng dân chủ trong Đảng, phát huy trí tuệ của đảng viên trong công tác
xây dựng Đảng.
Các cấp ủy đảng phải nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác
kiểm tra, xác định công tác kiểm tra là chức năng và thẩm quyền của các cấp ủy; “ngay
từ đầu nhiệm kỳ và hàng năm phải xây dựng kế hoạch cụ thể và bằng nhiều hình thức
tiến hành kiểm tra được 100% các tổ chức đảng trực thuộc đảng bộ, các tổ chức cơ sở
đảng ở xã, phường, thị trấn bằng nhiều hình thức chủ động kiểm tra 100% đảng viên và
cấp ủy viên trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên, nhiệm vụ được tổ chức phân
công, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống, tư cách của người đảng
viên, cấp ủy viên” [71, tr.97].
Phát hiện kịp thời và tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm minh những tổ chức đảng
và đảng viên vi phạm. Tổ chức tiếp nhận và giải quyết nhanh gọn đơn, thư tố cáo, khiếu
nại đối với đảng viên và tổ chức đảng, phải giải quyết kịp thời theo đúng qui định, bảo
đảm công bằng, tránh oan sai, không để tồn đọng kéo dài.

142



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status