BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LƯU THỊ OANH KIỀU
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM, CHI NHÁNH HẢI VÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà Nẵng – Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn
Lưu Thị Oanh Kiều MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Bố cục đề tài 3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NHTM 6
1.1.1. Các khái niệm về bảo lãnh 6
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh Ngân hàng 7
Vân 55
2.2.5. Đánh giá chung 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH
CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH HẢI VÂN 74
3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG
BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẢI VÂN 74
3.1.1. Chiến lược kinh doanh tại BIDV Hải Vân đến năm 2015 74
3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động bảo lãnh tại BIDV Hải Vân 75 3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI BIDV
HẢI VÂN 76
3.2.1. Mở rộng quy mô hoạt động bảo lãnh 77
3.2.2. Xây dựng biểu phí linh hoạt trong hoạt động bảo lãnh 81
3.2.3. Đa dạng hoá loại hình, sản phẩm bảo lãnh 82
3.2.4. Tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động bảo lãnh 82
3.2.5. Hoàn thiện quy trình, thủ tục trong hoạt động bảo lãnh 84
3.2.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Ngân hàng 84
3.2.7. Hoàn thiện công nghệ thông tin trong hoạt động bảo lãnh 85
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 86
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 86
3.3.2. Kiến nghị với NHNNVN 87
3.3.3. Kiến nghị đối với NHĐT&PTVN 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Tên bảng Trang
2.1 Kết quả huy động vốn năm 2011-2013 43
2.2 Kết quả hoạt động tín dụng năm 2011-2013 44
2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011-2013 45
2.4 Tăng trưởng số dư bảo lãnh từ năm 2011-2013 55
2.5 Số lượng khách hàng và số hợp đồng bảo lãnh năm
2011-2013 57
2.6 Tình hình thu phí bảo lãnh năm 2011-2013 58
2.7 Tỷ trọng phí bảo lãnh/ tổng thu dịch vụ 2011-2013 59
2.8 Phí bảo lãnh của các ngân hàng trên địa bàn 60
2.9 Hoạt động bảo lãnh theo loại hình bảo lãnh 62
2.10 Hoạt động bảo lãnh theo ngành nghề 63
2.11 Tình hình thực hiện nghĩa vụ trả thay 64
2.12 Mục tiêu chất lượng/ Thời gian tác nghiệp 64
2.13 Những yếu tố thúc đẩy khách hàng sử dụng dịch vụ bảo
lãnh của BIDV Hải Vân 67
phát triển trong những năm gần đây, nó đã góp phần đa dạng hoá các dịch vụ
ngân hàng, thoả mãn các nhu cầu của khách hàng tạo điều kiện cho doanh
nghiệp mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại thúc đẩy quá trình sản xuất của
nền kinh tế. Trong thời gian qua, sự phát triển và khởi sắc của nghiệp vụ bảo
lãnh tuy tích cực nhưng còn chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng của nó
đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Hơn thế nữa, trong bối cảnh nền
kinh tế đang trong quá trình hội nhập, môi trường kinh tế chưa thực sự ổn
định, môi trường pháp lý đang dần hoàn thiện thì hoạt động bảo lãnh của ngân
hàng còn gặp nhiều khó khăn.
Ở Việt Nam, đối với các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng, nghiệp vụ bảo lãnh
Ngân hàng mới được đưa vào thực hiện và còn khá mới mẻ, chỉ dừng lại ở
một số loại hình bảo lãnh đơn giản và trong quá trình thực hiện vẫn gặp nhiều
2
khó khăn vướng mắc. Do vậy, việc nghiên cứu hoạt động bảo lãnh để đưa ra
những giải pháp áp dụng vào thực tiễn sao cho phát huy hết được vai trò của
nó là một trong những chiến lược của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân trong thời gian tới.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện
hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi
nhánh Hải Vân” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn cao học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Vân trong thời gian
qua, nêu những thành công cũng như các tồn tại và các nguyên nhân của nó.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo lãnh tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Vân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả cũng đã tham khảo các nghiên
cứu đi trước có nội dung liên quan và sử dụng một số kết quả của các nghiên
cứu này để làm nền tảng, minh chứng cho những nhận định được trình bày.
Cụ thể như sau:
Đề tài thứ 1: “Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình” năm 2013 của tác giả Đặng Thị Mỹ
Thủy.
Qua đề tài trên tác giả đã tham khảo được cơ sở lý luận về hoạt động
bảo lãnh ngân hàng, lịch sử phát triển cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Về việc nghiên cứu phần thực trạng giúp tác
giả rút ra những kinh nghiệm cũng như tồn tại trong hoạt động bảo lãnh tại
4
một chi nhánh cùng hệ thống BIDV. Từ đó tìm ra được những ưu điểm mà chi
nhánh bạn thực hiện tốt, phân tích nguyên nhân nhằm ứng dụng tại chi nhánh
mình. Tham khảo các giải pháp, kiến nghị nhằm học hỏi, đề xuất các giải
pháp thực tế có thể ứng dụng tại BIDV Hải Vân, cũng như các kiến nghị đối
với BIDV nhằm hoàn thiện hơn hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh.
Tuy nhiên, trong phần giải pháp đề tài nói khá rộng, rất nhiều giải pháp
khác nhau để hoàn thiện hoạt động bảo lãnh nhưng các giải pháp chưa cụ thể
hóa qua các phương pháp thực hiện, nên chưa có tính thuyết phục.
Đề tài thứ 2: “Phát triển dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” năm 2012 của tác giả
Trần Thị Ngọc Duyên.
Đây là đề tài thực hiện nghiên cứu hoạt động bảo lãnh tại VCB Đà
Nẵng, một chi nhánh ngân hàng trên cùng địa bàn, có quy mô lớn và uy tín
trên thị trường. Qua đề tài này giúp tác giả nhìn nhận được hoạt động, quy
trình, phương thức cấp bảo lãnh và quy mô bảo lãnh tại VCB Đà Nẵng, qua
đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng tính cạnh tranh cho BIDV Hải Vân và
những hạn chế của đối phương để phát huy ưu thế cho BIDV Hải Vân
nước và quốc tế. Khi một cá nhân hoặc một doanh nghiệp muốn vay một
khoản tiền hoặc muốn tham gia một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó
nhưng chưa đủ độ tin cậy đối với phía đối tác kinh doanh, họ phải nhờ một
bên thứ ba có đầy đủ tài sản và uy tín đứng ra đảm bảo. Bảo lãnh Ngân hàng
là một hình thức tài trợ thông qua uy tín của Ngân hàng cho khách hàng, qua
đó khách hàng có thể tìm được nguồn tài trợ mới để mua hàng hóa hoặc thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi. Trong nghiệp vụ bảo
lãnh Ngân hàng chỉ đưa ra cam kết dưới hình thức cấp chứng thư hoặc hạch
toán theo dõi ngoại bảng chứ thực tế không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh.
Do vậy, bảo lãnh được coi là một hình thức tín dụng gián tiếp và được coi như
tài sản ngoại bảng.
Theo Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012, khái niệm bảo
lãnh được xác định:
Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng,
theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh
theo thỏa thuận.
7
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh Ngân hàng
+ Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp:
Ngân hàng bảo lãnh không phải ngay lập tức dùng vốn của mình để
thực hiện nghĩa vụ, mà người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là
người được bảo lãnh. Chỉ khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thì người
bảo lãnh mới phải thực hiện thay.
+ Bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn
nhau.
Một nghiệp vụ bảo lãnh không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa Ngân
Với ngân hàng quy tắc độc lập này cũng có thuận lợi. Khi người thụ
hưởng có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh, ngân hàng chỉ có trách nhiệm
xem xét, kiểm tra xem những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh có được
thoả mãn hay không. Nhiệm vụ này được thực hiện khá dễ dàng. Do vậy ngân
hàng không liên quan đến quyền nghĩa vụ các bên trong hợp đồng cơ sở và
không liên quan tới tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở giữa hai bên. Tuy
nhiên tính chất độc lập của bảo lãnh cũng làm tăng rủi ro do phải thanh toán
hộ khi có sự không trung thực của bên yêu cầu bảo lãnh.
Tính độc lập của bảo lãnh cũng phụ thuộc vào các điều kiện của bảo
lãnh, nó là loại bảo lãnh vô điều kiện hay bảo lãnh có điều kiện. Nếu là bảo
lãnh vô điều kiện, việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu đầu tiên, tính
độc lập được bảo đảm.
+ Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng.
Bản chất của bảo lãnh là một hình thức tài trợ thông qua uy tín của các
tổ chức tín dụng. Khi phát hành một cam kết bảo lãnh, bảng cân đối tài sản
của ngân hàng không hề bị thay đổi vì ngân hàng không phải xuất tiền ngay
khi bảo lãnh. Vì vậy bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Tuy
9
nhiên khi khách hàng thực hiện đúng những cam kết đã ghi trong hợp đồng
bảo lãnh ngân hàng thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên
nhận bảo lãnh. Khi đó nghiệp vụ bảo lãnh sẽ tác động đến bảng cân đối tài sản
của ngân hàng, khoản chi phí chi trả cho bên thụ hưởng này được xếp vào loại
tài sản “xấu” trong nội bảng và cơ cấu thành nợ quá hạn. Chính vì vậy bảo
lãnh cũng chứa đựng rủi ro như một khoản vay và đòi hỏi phải được giám sát
kỹ, quản lý chặt chẽ như các hình thức cấp tín dụng khác.
1.1.3. Chức năng, vai trò của hoạt động bảo lãnh Ngân hàng
a. Chức năng của bảo lãnh
+ Chức năng bảo đảm.
Đây là một chức năng rất quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Ngân
hàng đặt trước một khoản tiền tính trên giá trị hợp đồng, hoặc trong cuộc đấu
thầu, bên mời yêu cầu bên dự thầu nộp một khoản tiền đặt cọc tham gia đấu
thầu. Ngân hàng phát hành bảo lãnh như một công cụ tài trợ thực sự về mặt
tài chính cho người được bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh, khách hàng (người
được bảo lãnh ) sẽ không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ
hoặc kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ …
Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với uy tín và khả năng
đảm bảo về mặt tài chính Ngân hàng phát hành bảo lãnh đã giúp khách hàng
của mình được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi cho vay thực sự.
Đến khi rủi ro xảy ra ngân hàng không thể viện cớ những vấn đề phát sinh từ
hợp đồng cơ sở để từ chối thanh toán.
+ Chức năng đôn đốc thực hiện hợp đồng
Đối với ngân hàng khoản phải trả thay được xếp vào loại tài sản “xấu”
trong nội bảng, được coi như một loại nợ quá hạn. Ngân hàng phải chịu áp lực
của việc thanh toán thay nếu người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
11
hiện không đầy đủ nghĩa vụ của họ. Người được bảo lãnh cũng phải chịu áp
lực sẽ bị đòi bồi hoàn bảo lãnh khi không thực hiện nghĩa vụ của mình. Giữa
ngân hàng và người được bảo lãnh có mối quan hệ mật thiết về măt lợi ích. Vì
vậy ngân hàng sẽ luôn luôn phải đôn đốc khách hàng thực hiện các cam kết
bảo lãnh đã ghi trong hợp đồng.
Đối với người thụ hưởng bảo lãnh, mặc dù chắc chắn sẽ nhận được
khoản tiền bồi thường do sự vi phạm hợp đồng xảy ra nhưng điều mà họ
muốn là hợp đồng được hoàn tất suôn sẻ. Nếu bắt đầu lại từ đầu họ sẽ mất
nhiều thời gian và chi phí để tìm kiếm đối tác mới.
Vì vậy có thể nói bảo lãnh mang ý nghĩa ràng buộc đốc thúc người
được bảo lãnh thực hiện hợp đồng hơn là việc bồi hoàn.
Ba chức năng trên cho thấy tác dụng của bảo lãnh ngân hàng. Nghiên
cứu chúng cho phép chúng ta phát huy đầy đủ các chức năng này và vận dụng
một khoản thời gian ngắn nhất.
Ngoài ra bảo lãnh ngân hàng còn góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp
làm ăn nghiêm túc, hoàn thành đúng các hợp đồng đúng theo quy định, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh lãng phí trong sản xuất kinh
doanh, góp phần làm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp.
+ Vai trò của bảo lãnh ngân hàng với ngân hàng.
Mặc dù là một nghiệp vụ còn khá mới mẻ của ngân hàng song bảo lãnh
ngân hàng đã thực sự đem lại những lợi ích to lớn cho ngân hàng.
Với sự tăng trưởng không ngừng về số lượng và chất lượng, sự có mặt
trong hầu hết mọi giao dịch của nền kinh tế, bảo lãnh ngân hàng đã đem về
cho ngân hàng một khoản thu không nhỏ từ phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh chiếm
tỉ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ các ngân hàng hiện đại. Bên cạnh đó, đối
với các khoản bảo lãnh mà hình thức bảo đảm là ký quỹ tại ngân hàng. Ngân
13
hàng có thể sử dụng khoản tiền này để cho vay thu lãi coi như một nguồn vốn
khá ổn định của ngân hàng.
Không những góp phần làm tăng lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng
hóa các loại hình dịch vụ nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung làm
giảm sự phụ thuộc vào tín dụng. Với nhiều loại hình bảo lãnh và phương thức
phát hành bảo lãnh góp phần vào thực hiện chiến lược đa dạng hóa nhằm
giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Xu hướng của các ngân hàng thương mại
hiện nay là tăng tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động dịch vụ trong tổng thu
nhập của ngân hàng, tránh phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động cho vay.
Ngoài ra bảo lãnh còn nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân
hàng đặc biệt là trên trường quốc tế. Nền kinh tế thế giới ngày nay phát triển
theo xu hướng hội nhập, do vậy thị trường thế giới đã trở thành bộ phận
không thể thiếu đối với thương mại và ngoại thương. Bảo lãnh ngân hàng đã
thúc đẩy hoạt động tín dụng quốc tế, thanh toán quốc tế… từ đó góp phần mở
rộng quan hệ đối ngoại của ngân hàng.
cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, tạo cho những ngành này
vay được vốn với mức lãi suất thấp, từ đó vươn lên đứng vững trên thị
trường.
Thứ tư, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần làm trong sạch, lành mạnh
hóa nền kinh tế. Chịu tác động của chức năng bảo đảm và đôn đốc thực hiện
hợp đồng của bảo lãnh ngân hàng, nên các bên tham gia giao dịch sẽ yên tâm
ký kết hợp đồng và nghiêm túc thực hiện, từ đó làm giảm rủi ro cho doanh
nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Cuối cùng, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tăng cường mối quan hệ
thương mại giữa các quốc gia trên thế giới…
15
1.1.4. Phân loại bảo lãnh Ngân hàng
a. Phân loại theo phương thức phát hành
* Bảo lãnh trực tiếp ( Direct guarantee):
Là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh cam kết thanh toán không
huỷ ngang trực tiếp với người thụ hưởng không qua ngân hàng trung gian.
Ngân hàng chịu trách nhiệm trực tiếp với khách hàng, và khách hàng chịu
trách nhiệm trực tiếp bồi hoàn cho ngân hàng.
Loại bảo lãnh này chịu sự chi phối của luật trong nước và khi hết hạn có
thể trực tiếp tất toán với người bảo lãnh mà không cần hoàn trả thư bảo lãnh.
Ưu điểm của loại bảo lãnh này là người được bảo lãnh không phải mất thêm
phí hoa hồng cho ngân hàng đại lý nước ngoài.
* Bảo lãnh gián tiếp ( Indirect Guarantee):
Là loại bảo lãnh mà ngân hàng uỷ nhiệm một ngân hàng thứ hai ở nước
người thụ hưởng hoặc một ngân hàng khác mở tiếp bảo lãnh. Bảo lãnh này có
lợi cho người thụ hưởng do họ được thuận tiện hơn trong giao dịch hoặc đòi
tiền sau này. Ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một
ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh
bên nhận bảo lãnh để bảo đảm việc bên được bảo lãnh thực hiện đúng các
thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận
bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm thỏa thuận về chất lượng
sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện thay.
Loại bảo lãnh này có hiệu lực trong thời gian bảo hành sản phẩm. Số
tiền bảo lãnh thấp hơn nhiều so với bảo lãnh thực hiện hợp đồng thường từ
2% -5% giá trị hợp đồng.