ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHAN THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHAN THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Văn Dũng
Các kết quả nêu trong Luận văn này không trùng lặp hay được công bố
trong bất kỳ công trình nào và cũng không trùng với kết quả nghiên cứu của
bất cứ tác giả nào. Các số liệu sử dụng trong Luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn
trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, tháng 9 năm 2016
Học viên
Phan Thị Nga
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
1.Lý do chọn đề tài............................................................................................3
2.Tình hình nghiêm cứu....................................................................................5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................8
5. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu.................................................. 9
6. Đóng góp của luận văn..................................................................................9
7. Kết cấu của luận văn................................................................................... 10
Chương 1:CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015..................11
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội...................................... 11
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.................................................................................11
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội......................................................................14
1.2. Thực trạng nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 2008........................... 18
1.2.1. Quy Hoạch............................................................................................ 19
1.2.2. Hạ tầng kinh tế-xã hội...........................................................................20
2.3.5. Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và giữ gìn
an ninh, trật tự xã hội...................................................................................... 82
Tiểu kết chương 2..........................................................................................85
Chương 3:NHẬN XÉT VÀ KINHNGHIỆM..............................................86
3.1. Nhận xét...................................................................................................86
3.1.1. Ưu điểm.................................................................................................86
3.1.2. Mặt hạn chế...........................................................................................92
3.1.3. Nguyên nhân của hạn chế..................................................................... 94
3.2. Một số kinh nghiệm................................................................................. 96
Tiểu kết chương 3........................................................................................106
KẾT LUẬN..................................................................................................107
PHỤ LỤC.....................................................................................................121
2
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là
đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
của dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước,vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn được
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt. Nhiều
nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn và
nông dân đã được ban hành, tạo ra cơ sở vững chắc và động lực mạnh mẽ để
tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cải thiện và
nâng cao đời sống của nông dân. Chính những chính sách đó mà nền kinh tế
nước ta trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu rất quan trọng,
đời sống nhân dân không ngừng cải thiện.
Dù vậy, nhưng Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, lực lượng lao
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nông thôn mới đã làm
cho bộ mặt nông thôn tỉnh Vĩnh phúc có nhiều đổi thay góp phần vào sự phát
triển toàn diện của tỉnh. Tuy nhiên công tác xây dựng nông thôn mới cũng tồn
tại những bất cập nhất định. Vì vậy, công tác nghiên cứu về sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong việc xây dựng nông thôn mới, nhằm
tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra những kinh nghiệm
góp phần phục vụ cho công tác xây dựng nông thôn mới ở Vĩnh Phúc và các
địa phương khác trong những năm tiếp theo là vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực thực tiễn sâu sắc.Từ những lý do trên tôi quyết định chọn “Đảng bộ tỉnh
Vĩnh phúc lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015” làm
đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam của mình.
4
2.Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, có thể nêu ra những nhóm
công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây:
-
Nhóm công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài:
Trước tiên cần kể đến công trình“Chính sách nông nghiệp trong các
nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nhà xuất bản Nông nghiệp
ấn hành năm 1994, trong công trình này tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ
bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc
nghiên cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước châu Á, châu Phi và
các nước Mỹ - Latinh. Tác phẩm đã đề cập đến vấn đề chính sách phát triển
Công trình “Phát triển nông thôn” do GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên) ,
NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một trong những công trình
nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn. Trong công trình này, tác giả
đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế-xã hội nông
thôn ở Việt Nam như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng
xã hội và xóa đói giảm nghèo, đặc biệt tác giả còn chỉ ra yêu cầu hoàn thiện
hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của nhà nước trong quá trình vận
động của nông thôn
Công trình: “CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn-Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” của Hồng Vinh, Nxb Chính trị quốc gia năm 1998.
Công trình: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của
Bộ Chính trị” của Lê Đình Thắng, NxB Chính trị quốc gia năm 1998.
Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
mới” của PGS. TS Nguyễn Sinh Cúc, NXB Thống kê, năm 2003
Công trình: “ Nông nghiệp nông thôn trước yêu cầu phát triển nhanh
và bền vững” của TSKH Phan Xuân Dũng, tạp chí Cộng sản, số 82, năm
2005.
Công trình: “ Nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam- 20 năm đổi mới và
phát triển” do Đặng Kim Sơn biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2007.
6
Công trình: “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm
Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” của Phùng Hữu Phú Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội năm 2009.
Công trình “Xây dựng NTM những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Vũ
Văn Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2012. Gồm 33 bài viết nêu lên
những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn
nhiên những kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quan trọng để tôi
tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong việc xây dựng
nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015, nêu lên những thành tựu và hạn
chế, nguyên nhân của sự hạn chế, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm
trong công tác lãnh đạo xây dựng nông thôn mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
về xây dựng nông thôn mới từ 2008 đến 2015.
Làm rõ quá trình Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng quan điểm, chủ trương
của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nông thôn mới vào điều kiện địa
phương.
Phân tích các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế, rút một số kinh
nghiệm trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Phúc.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với xây dựng
nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015.
-
Phạm vi nghiên cứu
+
Nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc về
Tài liệu thống kế
-
Nguồn sử liệu qua khảo sát điền dã
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng
phương pháp chuyên ngành và liên ngành, trong quá trình nghiên cứu và trình
bày luận văn, tác giả đã sử dụng hai phương pháp chủ đạo là phương pháp
lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu như: so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp và phương pháp
khảo sát thực tiễn để làm rõ các nội dung đề cập trong luận văn.
6.
Đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa quan điểm chủ trương của Đảng về chủ trương
xây
dựng nông thôn mới.
- Hệ thống, khái quát chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc trong quá trình vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng trong xây
dựng nông nông thôn mới giai đoạn năm 2008 đến năm 2015
- Đúc kết kinh nghiệm góp phần giúp cho cấp ủy, chính quyền tỉnh
Vĩnh Phúc thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung
9
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, phía Bắc
giáp các tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, Phía
Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội. Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số
2 và tuyến đường sắt Hà Nội- Lào Cai , là tỉnh liền kề cảng hàng không quốc
tế Nội Bài, qua đường quốc lộ 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18
thông với cảng nước sâu Cái Lân, là cầu nối giữa trung du miền núi phía Bắc
với thủ đô Hà Nội. Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: thành
phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Lập Thạch, Sông Lô, Vĩnh Tường, Yên
Lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo, Tam Dương với diện tích tự nhiên
1.231,76km2, với dân số trung bình là 1.014.488 người tính đến 31/12/2008.
Theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội về về điều chỉnh địa
giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh,có hiệu lực từ ngày 01/8/2008, toàn
tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh phúc và 4 xã thuộc huyện Lương
Sơn, tỉnh Hòa Bình được sát nhập về Hà Nội. Theo đó tỉnh Vĩnh Phúc mất đi
một phần diện tích nó vừa là thách thức cũng vừa là cơ hội để tỉnh phát triển.
Những yếu tố trên có tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng nông thôn
mới của huyện và nó đặt ra yêu cầu phải tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn
thách thức để tiến hành sự nghiệp xây dựng nôn thôn mới.
Khí hậu của Tỉnh Vĩnh Phúc chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa là từ tháng 5
đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của
Tổng cục khí hậu thủy văn, lượng mưa trung bình năm của tỉnh từ 1.5001.700mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình
11
0
0
12
có thành phần cơ giới nhẹ là chủ yếu nên thuận lợi cho canh tác nhiều loại cây
trồng khác nhau như: cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây rau
hoa, cây dược liệu, cây ăn quả, cây lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Nhóm
đất đồi núi đa phần có tầng mỏng, nhiều đá lẫn ít thuận lợi cho canh tác nông
nghiệp. Tài nguyên khoáng sản Vĩnh Phúc bao gồm: khoáng sản nhiên liệu:
than Antraxit , than nâu, than bùn, nhóm khoáng sản kim loại :Barits, đồng,
vàng, thiếc, sắt…chủ yếu có ở vùng núi Tam Đảo và rải rác ở huyện Tam
Dương, Lập Thạch, Bình Xuyên,nhóm khoáng sản phi kim loại: nhóm này
chủ yếu là cao lanh, ngoài ra còn có Puzolan, nhóm vật liệu xây dựng: gạch,
sét , ngói, cát sỏi, đá… Nhìn chung Vĩnh Phúc là tỉnh có vị trí chuyển tiếp
giữa miền núi và đồng bằng nên nghèo về tài nguyên khoáng sản. Tài nguyên
sinh vật của Tỉnh rất phong phú như cây trồng nông nghiệp có nguồn gốc từ
nhiệt đới đến á nhiệt đới và ôn đới bao gồm như: lúa, ngô, đậu tương, chuối,
na, chè cam , quýt, khoai tây, rau bắp cải…, “tài nguyên rừng có khoảng 32,8
nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất là 10,8 ngàn ha, rừng phòng
hộ là 6,6 ngàn ha, rừng đặc dụng là 15,4 ha, tài nguyên rừng quan trọng nhất
là Vườn quốc gia Tam Đảo với trên 15 ngàn ha” [98, tr.11], tài nguyên thủy
sản chủ yếu là khu hệ đầm, hồ, sông trên địa bàn tỉnh với hàng trăm loại
cá….ngoài các tài nguyên trên tỉnh Vĩnh phúc còn có tài nguyên du lịch gồm
có du lịch tự nhiên: vườn quốc gia Tam Đảo có phong cảnh thiên nhiên đẹp,
khí hậu trong lành, với nhiều loại động thực vật được bảo tồn tương đối
nguyên vẹn, ngoài ra còn có hệ thống hồ đầm phong phú,cảnh quan đẹp vừa
có thể sản xuất vừa có thẻ phát triển du lịch như : Đại Lải, Vân Trục, Đầm
Vạc, Thanh Lanh…Du lịch nhân văn với hàng trăm di tích lịch sử văn hóa
trong đó có nhiều di tích được xếp hạng quốc gia như: di tích Tây Thiên, cụm
đình Hương Canh….
14
tục giảm mạnh, nhưng một số ngành, trong đó có ngành sản xuất linh kiện điện
tử, sản xuất ô tô tăng mạnh nên ngành công nghiệp vẫn tăng trưởng ở cả ba khu
vực tuy mức tăng còn thấp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
nhìn chung vẫn gặp nhiều khó khăn, ... Song với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt
của Tỉnh ủy, Hội đồng nhan dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc đề ra các giải
pháp, cơ chế chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về sản xuất, kinh doanh,
tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường đầu tư; cùng với sự nỗ lực phấn đấu,
quyết tâm của các cấp, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân
trong tỉnh nên tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 của Vĩnh Phúc tiếp tục ổn định
và phát triển; thu ngân sách và thu hút đầu tư đạt cao; các vấn đề an sinh xã hội
tiếp tục được quan tâm và có nhiều tiến bộ; đời sống nhân dân được cải thiện;
tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.“Tổng sản phẩm
trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2015 theo giá so sánh dự kiến đạt 58.876 tỷ đồng,
tăng 6,97% so với năm 2014” [23, tr.1]. Trong đó:
-
Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 4.102,6 tỷ
đồng, tăng 2,70% so với năm 2014, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là
0,20 điểm %; riêng ngành nông nghiệp đạt 3.787 tỷ đồng, tăng 2,69%, đóng
góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,18 điểm %. Trong nông nghiệp, sản
xuất lúa vụ đông xuân thời tiết không thuận lợi, một số diện tích lúa vào thời
kỳ làm đòng gặp thời tiết rét đậm nên xảy ra hiện tượng bớt đầu bông; vụ mùa
do ảnh hưởng của sâu cuốn lá, sâu đục thân trên một số diện tích lúa nên năng
suất, sản lượng chung của cả năm giảm so năm trước. Diện tích, năng suất,
cùng kỳ, đóng góp vào mức tăng trưởng chung của tỉnh là 2,26 điểm %.Cơ
cấu kinh tế năm 2015 của tỉnh Vĩnh Phúc là: Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và
thủy sản) 9,77%; khu vực II (Công nghiệp - xây dựng) 62,12%; khu vực III
(các ngành dịch vụ) 28,11% [23, tr.1].
Văn hóa-xã hội:“Dân số trung bình năm 2014 khoảng 1.029.412 người,
trong đó dân số nam khoảng 508.405 người chiếm 49,39%, dân số nữ 521.007
người chiếm 50,61%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 11%. Tỷ lệ dân số trong độ
tuổi lao động chiếm 60%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 63%, tỷ lệ dân
số làm việc trong khu vực nhà nước chiếm 8,2%, làm việc ngoài nhà nước
chiếm 86,6%, làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,2%”
16
[10, tr. 4].Trong những năm gần đây, mặc dù có sự phát triển kinh tế xã hội
khá nhanh của công nghiệp và dịch vụ kéo theo đó là cơ hội việc làm mới,
nhưng tỉ lệ tăng cơ học không đáng kể. Điều này cho thấy công tác giải quyết
việc làm của tỉnh là rất tích cực,dân số bước vào tuổi lao động ngày càng cao.
Quy mô dân số ở mức trung bình,dân số của tỉnh là tương đối trẻ. Trình độ
học vấn của người Vĩnh Phúc tương đối cao. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu
học và Trung học cơ sở đạt trên 99%, Trung học phổ thông đạt trên 95% .
“Tính đến năm 2014, toàn tỉnh có 561 trường học và cơ sở giáo dục, đào tạo,
trong đó có 550 trường mầm non, tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ
thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; 13 trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp với trên 270.900 học sinh, sinh viên. Trên địa bàn tỉnh có
49 cơ sở dạy nghề (05 trường cao đẳng nghề; 02 trường trung cấp nghề; 09
trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề; 27 trung tâm dạy
nghề; 06 cơ sở dạy nghề); giai đoạn 2010-2014 đào tạo được hơn 132.983
người, hàng năm có khoảng 26.000 người tốt nghiệp đào tạo nghề” [10, tr 4].
Bên cạnh đó, tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp
thấy, nông thôn là nơi sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân,
tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường trong một thể
chế chính trị nhất định, chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô
thị. Tuy nhiên nông thôn ở nước ta hiện nay việc phân công lao động xã hội chưa
cao, trình độ chuyên môn thấp, nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao, đa dạng về điều kiện
tự nhiên, môi trường sinh thái; có quan hệ họ tộc, gia đình khá chặt chẽ với
những quy định cụ thể của từng họ tộc, gia đình, còn những người ngoài họ tộc
cùng chung sống luôn có tinh thần điều kiện giúp đỡ nhau tạo nên tình làng,
nghĩa xóm lâu bền. Trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người ở
nông thôn Việt Nam, các hành vi của mỗi cá nhân thường được đặt trong các
thiết chế xã hội làm cho vai trò của công đồng trở nên mạnh mẽ và cá nhân trở
18
nên nhỏ bé. Vì thế nông thôn được hiểu là nơi lưu giữ bảo tồn những di sản
văn hóa quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản
xuất nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các
danh lam thắng cảnh….
Tuy nhiên, đến nay khái niêm nông thôn được thống nhất với quy định
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không
thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã".
1.2.1. Quy Hoạch
Trước năm 2008, nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã đạt được những
bước phát triển nhất định, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh
tế- xã hội chúng ta cần phải bàn đến vấn đề dân cư và sự phân bố dân cư trong
nông thôn các vùng của tỉnh. Đến năm 2005, dân số toàn tỉnh có 1.169 ngàn
người, trong đó, khu vực nông thôn có 1.004 ngàn người, chiếm 85,9% và