TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ HUẤN
ĐẢNG Bộ HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC
LÃNH ĐẠO XÂY DƯNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NÃM 2011 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUÂN TỐT NGHIẼP ĐAI HOC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngưòi hướng dẫn khoa học:
ThS. Phạm Văn Giềng
HÀ NỘI, 2016
“Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy” đó là đạo lí mà nghìn đời nay mỗi người
dân Việt Nam khi sinh ra, lớn lên và trưởng thành luôn khắc ghi ưong lòng.
Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành trước hết là kết quả sau 4 năm
học tập, rèn luyện và nỗ lực phấn đấu của bản thân tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2. Đồng thời đây cũng là thành quả của quá trình dạy dỗ, chăm sóc của
gia đình. Sự dẫn dắt tận tình của nhà trường, cùng sự giúp đỡ chân thành của
thầy cô giáo, bạn bè.
Trước tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thảnh và sâu sắc nhất
tới thầy Phạm Văn Giềng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và gợi mở cho
em những tri thức quý giá trong suốt thời gian e thực hiện khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn, Ưỷ ban nhân dân huyện Sông Lô, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc huyện Sông Lô, cùng các cá nhân đã tạo điều điện và giúp đỡ em
trong việc sưu tầm và chọn lọc tài liệu.
Hội đồng nhân dân
HTX
MTTQ
Hợp tác xã
Mặt trận Tổ Quốc
NTM
Nông thôn mới
UBND
Uỷ ban nhân dân
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thôn
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
6
Từ năm 2011 huyện Sông Lô đã triển khai, áp dụng mô hình NTM của
chính phủ và đạt được một số thành tựu đáng kể trong phát triển nông nghiệp ở
địa phương, nếp sống, mức thu nhập tăng cao so với những năm trước. Người
dân đã áp dụng khoa học kĩ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi. Nhận thức được
những thuận lợi và khó khăn của địa bàn nông thôn Huyện, Đảng bộ đã tập
trung lãnh đạo và đề ra chủ trương, chính sách để giải quyết vấn đề này, một
trong những nhiệm vụ trọng tâm đó là tập trung xây dựng NTM.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng NTM đã đặt ra rất nhiều
vấn đề cả về lí luận và thực tiễn, đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ vị
trí, vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng
NTM. Vì vậy em chọn đề tài “Đảng bộ Huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc lãnh
đạo xây dựng NTM từ năm 2011 đến năm 2015” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là vấn đề không mới. Trong mỗi giai
đoạn khác nhau của cách mạng, vấn đề này lại được đặt ra một cách khác nhau,
mặc dù chúng đều có những mục tiêu chung là làm thay đổi diện mạo nông
thôn, thúc đẩy nông nghiệp phát triển, đưa lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn
minh cho người nông dân. Tuy nhiên NTM trong giai đoạn hiện nay đã và đang
đặt ra rất nhiều điểm mới. NTM và chương trình xây dựng NTM là vấn đề có
tầm quan trọng chiến lược, mang tính thòi sự trong giai đoạn hiện nay. Đây là
một chương trình tổng thể cần huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị ừong đó vai trò lãnh đạo của Đảng là quan trọng nhất, bởi vậy đã có
rất nhiều các công trình đã và đang nghiên cứu.
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với việc phát triển
ữong quá trình xây dựng NTM từ năm 2011 đến năm 2015.
- Trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét, kinh nghiệm để khắc phục những
hạn chế còn tồn tại trong việc xây dựng NTM của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh
Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng Bộ huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đối với việc xây
dựng NTM từ năm 2011 đến năm 2015.
8
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
2011 đến năm 2015.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu khoá luận là dựa trên phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Để phân tích những nội dung cụ thể của bài khoá luận, em đã sử dụng
nhiều phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, so sánh tài liệu có liên quan đến
vấn đề xây dựng NTM của Đảng để xây dựng cơ sở lí luận cho khoá luận.
6. Ý nghĩa của khoá luận
Đề tài làm rõ vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
chương trình xây dựng NTM, phân tích tính cấp thiết của việc tăng cường vai
nhân không liên minh được với giai cấp nông dân thì những cuộc cách mạng vô
sản sẽ trở thảnh bài ca ai điếu, về vấn đề nông dân và nhiệm vụ của người cộng
sản trong sự nghiệp cách mạng nông dân, nông thôn vẫn mang tính thời sự.
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp” viết năm 1894 khi trình bày
những nguyên lý của chính sách nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Ăngghen chỉ ra:
“Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông trước hết phải hướng quyền sở hữu
cá thể và nền kỉnh doanh cá thể vào con đường kinh doanh hợp tác” [16 ừ 280].
Ăngghen còn cho rằng:
Chúng ta kiên quyết đứng về phía người tiểu nông, chúng ta cố tìm đủ mọi
cách làm cho số phận của họ dễ chịu hơn, để cho họ chuyển sang hợp tác xã
được dễ dàng hơn, nếu họ quyết như thế [16.Tr310].
Nhận thức sâu sắc tầm quan ữọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp,
nông thôn, Ăngghen cho rằng: Chúng ta làm như thế là vì chính ngay lợi ích
của Đảng. Vì thế mà sau này, Lênin tiếp tục khẳng định: “Cỏ công nông là có
chính quyền, có tất cả ”[29. Tr 180].
Bàn về con đường cơ bản để cải tạo nông dân, trong “Tuyên ngôn thành
lập Hiệp hội công nhân Quốc tế”. C.Mác đã nhấn mạnh: muốn giải phóng nông
dân, quần chúng lao động, thì càn phải phát triển lao động họp tác trên quy mô
cả nước, bằng con đường kinh tế chứ không phải bằng những biện pháp tội lỗi
với nông dân. Những ngưòi nông dân sau khi thoát khỏi chế độ bóc lột của chủ
1
0
nghĩa tư bản trở thành những người nông dân tự do và được chia ruộng đất
thuộc nhà nước. Nhưng sự thâm nhập của sản xuất hàng hóa vào nông nghiệp,
sự cạnh tranh giữa nông dân, những cuộc đấu tranh giành đất đai, đã dẫn đến
tình trạng phân hóa trong nông dân: giai cấp tư sản nông dân lấn át trung nông
và nông dân nghèo. Đó là vấn đề có tính quy luật. Vì vậy, chừng nào người
cơ bản nhất, cấp thiết nhất của con người là nhu càu ăn, mặc, ở. Trong đó, ăn là
nhu cầu đầu tiên. Chỉ khi nào thỏa mãn các nhu cầu ăn (và mặc, ở) trên một
mức độ nhất định thì người ta mới nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Hồ Chí Minh
viết: sản xuất nông nghiệp trước hết là sản xuất lương thực, là việc cần thiết
nhất cho đòi sống nhân dân, là bộ phận quan ưọng ữong kế hoạch kinh tế của
Nhà nước.
Sau ngày đất nước giành được độc lập, trong thư gửi điền chủ nông gia
Việt Nam ngày 11/4/1946, Hồ Chí Minh đã viết:
Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp.Nền kinh tế của ta lấy canh
nông làm gốc.Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào
nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.Nông dân ta giàu thì nước ta
giàu.Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh [17. Tr 80].
Người đã gắn sự giàu có, thịnh vượng của nông dân, nông nghiệp với sự
giàu có, thịnh vượng của đất nước. Người đã coi nông nghiệp và nông dân là
lực lượng quan ữọng góp phần tạo nên sự giàu có cho đất nước ta.
Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân pháp thắng lợi, miền Bắc
bước vào thòi kỳ khôi phục kinh tế, trong lời kêu gọi nông dân thi đua sản xuất
và tiết kiệm năm 1956, Người vẫn nhắc: “khôi phục sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu”. Sau khi công cuộc khôi phục kinh tế kết thúc thành công, sản xuất trở
lại bình thường, đời sống nhân dân bước đầu ổn định. Đất nước ta bắt đầu bước
vào giai đoạn thực hiện các kế hoạch dài hạn, tiến hành công nghiệp xã hội chủ
nghĩa nhằm đưa nước ta từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh lại
nhắc nhở: Nước ta là một nước nông nghiệp giống như Trung Quốc, Triều
Tiên. Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc
phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính.
1
2
nông nghiệp, nông thôn của nước ta trong giai đoạn mới.
1.1.3.
Một số vấn đề cơ bản về chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1.
Tiêu chí nông thôn mới
Quán triệt nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá X)
ra nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 đã nêu một cách toàn diện quan
điểm của Đảng ta về xây dựng NTM. Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông
dân, nông thôn có vai trò lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng và
cần khai thác một cách có hiệu quả. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, phù họp với điều kiện của từng vùng, từng lmh
vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Xây dựng NTM là
xây dựng kết cấu hạ tầng- xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất họp lý, gắn nông nghiệp vói phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch.
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng chính phủ đã kí Quyết định số 491/QĐ-TTg,
ban hành bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành
5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch, nhóm tiêu chí về hệ thống kinh tế xã hội, nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm tiêu chí về văn hoáxã hội- môi trường và nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị. Theo đó, bộ tiêu chí
đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du
miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam
Tiêu chí 6. Cơ sở vật chất văn hoá.
-
Tiêu chí 7. Chợ nông thôn.
-
Tiêu chí 8. Bưu điện.
-
Tiêu chí 9. Nhà ở dân cư.
-
Tiêu chí 10. Thu nhập.
-
Tiêu chí 11. Hộ nghèo.
-
Tiêu chí 12. Cơ cấu lao động.
-
Tiêu chí 13. Hình thức tổ chức sản xuất.
động có việc làm thường xuyên
Theo đó, thay vì tính theo tỷ lệ lao động ừong độ tuổi làm việc trong lĩnh
1
5
vực nông, lâm, ngư nghiệpthì quy định mới tính theotỷ lệ người làm việc trên
dân số trong độ tuổi lao động.
Đối với chỉ tiêu này, quyết định nêu rõ chỉ tiêu chung và từng vùng là đạt
từ 90% trở lên.
về tiêu chí chợ nông thôn, nội dung "chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng"
được thay thế bằng nội dung "chợ theo quy hoạch, đạt chuẩn theo quy định
- Quyết định cũng sửa đổi nội dung "phổ cập giáo dục trung học" trong
tiêu chí về giáo dục thảnh "phổ cập giáo dục THCS".
- Nội dung tỷ lệ người dân tham gia các hình thức Bảo hiểm y tế trong
tiêu chí số 15 về y tế được sửa đổi thành "Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y
tế" vởi chỉ tiêu chung cho cả nước đạt từ 70% trở lên, chỉ tiêu cho các vùng là
đạt.
1.13.2.
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Trong chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày
28/10/2008 của Chính phủ) đã khẳng định: Chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng NTM với nội dung chính là: Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư
nông thôn theo hướng vãn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc vãn hoá và môi
trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn. Phát triển đồng bộ hệ thống
Bảy là: Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân nông thôn.
Tám là: Xây dựng đòi sống văn hoá, thông tn và truyền thông nông thôn.
Chín là: cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Mười là:Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính
trị - xã hội trên địa bàn.
Mười một là: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.
Chương trình cũng đưa ra vốn và nguồn vốn thực hiện. Một là: vốn ngân
sách nhà nước (trung ương và địa phương), bao gồm vốn từ các chương trình
1
7
mục tiêu quốc gia và chương trình dự án hỗ trợ các mục tiêu đang triển khai và
sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo. Hai là: vốn tín dụng bao gồm
tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại là khoảng 30%. Ba là: vốn
huy động đóng góp của cộng đồng dân cư là 10%.
Chủ thể thực hiện chương trình là người nông dân và cộng đồng dân cư.
Họ được biết, được bàn, được quyết định, được làm, được giám sát và thụ
hưởng, cấp uỷ, chính quyền xã, chi uỷ, trưởng thôn là người trực tiếp chỉ đạo,
tổ chức. Trung ương, tỉnh, huyện giữ vai trò lãnh đạo, hỗ trợ, tập huấn, hỗ trợ
nguồn lực, chỉ đạo, kiểm tra, rút kinh nghiệm, tổ chức thi đua gắn với khen
thưởng.
1.2. Thực tiễn xây dựng nông thôn của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
trước năm 2011
1.2.1.
Khái quát chung về huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1.1.
dốc sụ, thành phần đất ven sông phần lớn là cát pha, liên kết dạng viên xốp,
vùng thấp thích hợp trồng lúa, vùng cao thích hợp trồng màu và cây công
nghiệp ngắn ngày.
Diện tích đất nông nghiệp là 6291,96 ha chiếm 42% diện tích đất tự nhiên;
trong đó đất đất trồng cây hàng năm là 4202,78 ha chiếm 67%, đất trồng cây
lâu năm 1946,97 ha chiếm 31%, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản 147,92 ha
chiếm 2%, diện tích đất nông nghiệp.
Diện tích đất lâm nghiệp là 3921,86 ha chiếm 26% diện tích đất tự nhiên;
trong đó đất rừng trồng là 2795,57 ha, đất rừng phòng hộ 1126,29.
Đất chuyên dụng là 3326,72 chiếm 22% diện tích đất tự nhiên; trong đó
đất xây dựng cơ quan 16,04 ha, đất thủy lọi và mặt nước chuyên dùng 1319,92,
đất di tích lịch sử vãn hóa 14,52 ha, đất quốc phòng an ninh 7,15 ha, đất làm
nguyên liệu vật liệu xây dựng 78,2 ha, đất nghĩa trang, nghĩa địa 97,71 ha, đất
chuyên dùng khác 1760,78 ha.
Đất ở 478,86 ha chiếm 3% diện tích đất tự nhiên.Đất chưa sử dụng 976,55
ha chiếm 6% trên tổng diện tích đất tự nhiên.
Đến thời điểm ngày 31/12/2012, diện tích đất nông nghiệp giảm 83,55 ha
trong đó giảm sang nhóm đất phi nông nghiệp là 83,55 ha.
1
9
Nhìn chung, sự biến động giữa các loại đất trên địa bàn huyện trong
những năm qua là không lớn, diện tích đất nông nghiệp giảm chủ yếu do sử
dụng cho các mục đích phát triển kinh tế của các tổ chức xã hội và các tổ chức
kinh tế trên địa bàn huyện và các dự án phục vụ cho càu về đất ở tại địa
phương.
Khí hậu Sông Lô là vùng tiếp giáp giữa đồng bắc và tây bắc Việt Nam, có
đặc trưng đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hè và
sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn gắn liền với nhau, tác
dụng bổ xung cho nhau cùng phát triển.
1.2.1.2. Điều kiện kinh tể - xã hội huyện Sông Lô
Dân số: Dân số huyện Sông Lô 95.000 người ừong đó dân số trung bình
thành thị 3.277 người, dân số trung bình nông thôn 89.789 người. Mật độ dân
cư trung bình toàn huyện là 567,3 người/km 2. Có nhiều dân tộc cùng chung
sống lâu đời bên nhau như: dân tộc Kinh, Dao, Cao Lan [20].
Lao động: Tính đến năm 2012 tổng số lao động làm việc trong các ngành
kinh tế của huyện là hơn 52.778 người tăng 2.245 người so với năm 2009. Phần
lớn lao động tập trung trong khu vực nông lâm - ngư nghiệp.
Huyện Sông Lô có dân số 93.065 người, trong đó dân số trung bình nông
thôn là 89.789 ngưòi, dân số trung bình thành thị 3.277 người, bằng 3,52% dân
số nông thôn, điều đó cho thấy lao động trong khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ
lệ lớn.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ và hài hòa với tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Sự nghiệp giáo dục - đạo tạo tiếp tục phát triển, có 100% trẻ 5
tuổi ra lớp, giáo dục phổ thông đã có 37/37 trường đạt chuẩn, 100% trường học
đã được kiên cố hóa, tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 95%, giáo viên đứng lớp đạt
chuẩn và trên chuẩn chiếm 99,7%.
Sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân có nhiều tiến
bộ, đã có 17/17 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 15/17 xã có bác sỹ, trẻ em trong
độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin đạt 97,9%. Công tác khám điều
2
1
tri cho người nghèo, đối tượng chính sách được chú trọng, các dịch vụ y tế
ngoài công lập phát triển nhanh và được quản lý chặt chẽ đảm bảo phục vụ cho
nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
trường tiêu thụ nông sản còn hạn chế, vùng nguyên liệu, cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm, năng suất thấp.
Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nghề, giáo dục phổ thông,
dịch vụ y tế chưa đáp ứng yêu càu phát triển của huyện. Nhiều vấn đề trong
quản lí ngành nước, bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên khoáng sản, lâm
sản...Thực hiện chưa hiệu quả. Hạ tầng kinh tế - xã hội, đời sống dân cư ở khu
vực nông thôn còn khó khăn.
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về chương trình xây dựng
NTM, huyện Sông Lô đang cố gắng nỗ lực để trở thành huyện đi đầu của tỉnh
về thực hiện xây dựng NTM nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội...
1.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đồng thòi thấm nhuần tư tưởng
chỉ đạo của Đảng uỷ, Ban thường vụ huyện uỷ đã chỉ đạo các cấp, các ngành
bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là thực hiện công cuộc
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Với những quyết sách họp lí để xây dựng
và phát triển nông thôn đã đưa nông nghiệp, nông thôn huyện đã có những
bước khỏi sắc, đời sống thay đổi lớn so với những giai đoạn trước đó.
Sông Lô là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, có
tổng diện tích đất tự nhiên là 150,32 km 2. Dân số thời điểm 31/12/2010 là
89.771 người.
Từ khi thành lập huyện đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các
dân tộc trong huyện đã đoàn kết, tập trung trí tuệ và các nguồn lực cho phát
triển kinh tế xã hội; nền kinh tế của huyện phát triển nhanh và ổn định, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ sở hạ tầng từng bước được củng
cố, kiện toàn.
2
3
4
48,39%; Công nghiệp và xây dựng: 25,34%, dịch vụ: 26,27%. Cơ sở hạ tầng
từng bước được củng cố, đòi sống của nhân dân ngày càng được cải thiện [27.
Tr 5].
Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm 2010 ước đạt 5.420 ha, tăng 156,2 ha
so với năm 2005; năng suất lúa bình quân hàng năm tăng: Năm 2010 ước đạt
48,6 tạ/ha, tăng 5,76 tạ/ha so với năm 2005; diện tích lạc 732,19 ha; năng suất
đạt 17,3 tạ/ha. Các cây trồng nơi đây thời gian qua cả diện tích và năng suất đều
tăng cho thấy huyện đã biết ứng dụng khoa học công nghệ về cây trồng, phân
bón, thuốc trừ sâu... để nâng cao năng suất cây trồng [27. Tr 6].
Bên cạnh cây lúa, loại cây công nghiệp dài ngày có diện tích và sản lượng
lớn của huyện là cây mía, cây nhãn, vải thiều đem lại giá trị kinh tế cao cho
huyện. Ngoài ra, ở huyện cũng trồng một số cây công nghiệp dài ngày như cam,
chanh nhưng sản lượng không đáng kể, chủ yếu phục vụ nhu cầu cho nhân dân
trong huyện.
Chăn nuôi là thế mạnh của huyện luôn được quan tâm. Các cấp uỷ đảng từ
huyện đến cơ sở chỉ đạo tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc,
gia cầm; so với năm 2006: đàn trâu tăng 2,2%; đàn bò tăng 7,8%; đàn lợn tăng
26,1%; đàn gia cầm tăng 15,5%. Trong những năm gần đây, phong trào chăn
nuôi các loại động vật có giá trị kinh tế cao như nhím, rắn...trên địa bàn huyện
phát triển mạnh, mở ra một hướng đi mới trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành chăn nuôi [27 tr 6],
Đời sổng cư dân nông thôn
Trong thòi gian qua, Huyện đã tập trung phát triển kinh tế đồng thời nâng
cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Bộ mặt xã hội nông thôn ngày càng khởi
sắc, điều kiện sinh hoạt của dân cư tăng cao. Sự phát triển của bưu điện, viễn
thông đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh quốc phòng của huyện và nhu cầu sử dụng của nhân dân.