ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------***----------
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG LAN
ĐẢNG BỘ HUYỆN BÌNH LỤC (HÀ NAM)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
Chuyên ngành: Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: TS. Lê Quỳnh Nga
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới
TS. Lê Quỳnh Nga - người Cô đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn tác giả trong
suốt quá trình làm luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy Cô trong khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi
tác giả đã học.
Cám ơn các cán bộ Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, các cơ quan
ban ngành của huyện Bình Lục và đã tạo điều kiện cho tác giả có được tài liệu
thực hiện Luận văn.
Cám ơn gia đình, bạn bè, người thân đã luôn động viên, khuyến khích
tác giả trong quá trình học tập và làm luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
3.2. Kinh nghiệm lịch sử ................................................................................. 51
3.2.1 Bám sát đặc điểm , tình hình địa phương để đề ra các biện pháp ,
tiêu chí phù hơ ̣p đồ ng thời giải quyế t đồ ng bô ̣ vấ n đề nông nghiê ̣p , nông
dân và nông thôn ........................................................................................... 51
3.2.2. Xây dựng đô ̣i ngũ cán bô ̣ có phẩ m chấ t đa ̣o đức , tinh thầ n trách
nhiê ̣m, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý thực tiễn là những nhân tố
quan tro ̣ng ảnh hưởng đế n kế t quả xây dựng NTM ở huyê ̣n Biǹ h Lu
.............
53
̣c
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 55
KẾT LUẬN .................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 58
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTV
: Ban thường vụ
CN – TTCN
: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH
góp của kinh tế nông thôn vào nền kinh tế quốc dân chiếm khoảng hơn 20%
GDP và chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên
các chính sách phát triển nông nghiệp thường thiên về phát triển ngành mà
chưa chú ý đến vai trò của chủ thể, động lực chính của sự phát triển nông
nghiệp và nông thôn đó là nông dân. Phần lớn các chính sách chưa quan tâm
xử lý tổng thể và hợp lý giữa các vùng, giữa các lĩnh vực trong ngành, giữa
nông thôn và thành thị, chưa đặt ra và giải quyết triệt để các mối quan hệ giữa
các yếu tố chính trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đây là
nguyên nhân chủ yếu khiến cho sau nhiều thập kỷ nền nông nghiệp của ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường vẫn chưa đạt được bước nhảy vọt trong sự
chuyển biến về nông nghiệp, nông thôn.
Trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng 1991
đã xác định: “phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
phát triển toàn diện kinh tế nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để
ổn định kinh tế xã hội” [24, tr.63]. Đặc biệt nghị quyết đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn mạnh: “hiện nay và trong nhiều năm tới
đây vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược quan trọng.
Việc xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế, nông nghiệp và
nông thôn thực hiện chương trình mới nhằm xây dựng các làng ấp, xã, bản có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh xanh, sạch, đẹp gắn với việc hình thành
1
các khu dân đô thị hóa. Phát huy dân chủ, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ
các tệ nạn xã hội ở nông thôn” [31, tr.195 – 196]. Mặc dù chủ trương xây
dựng và phát triển nông thôn mới được Đảng ta đưa ra khá sớm nhưng kết
quả thực hiện xây dựng và phát triển trong cả nước nói chung và của Hà
Nam nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Trong quá trình thực
hiện chủ trương đổi mới nông thôn trên mỗi địa bàn thực hiện luôn tồn tại
trong lịch sử như vấn đề Nhà nước quản lý nông thôn trong các thế kỷ XVI XVIII; Nhà Nguyễn với vấn đề nông thôn thế kỷ XIX; Phát triển nông thôn
trong thời kỳ Pháp thuộc (1945 - 1954); Cơ cấu quản lý làng xã Việt Nam từ
1954 - 1975. Công trình còn đề cập mô hình phát triển làng xã nông thôn Việt
Nam ở các vùng cụ thể nhất là Nam bộ, Bắc bộ. Công trình đã cung cấp
những số liệu quan trọng về vai trò Nhà nước, tính cộng đồng, tính bền vững
của mô hình làng xã Việt Nam; những nhân tố tác động đến sự hình thành
thiết chế làng xã và mô hình hoạt động.
Ngoài ra còn có hàng loạt các công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh
nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài. Theo hướng này, các
nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở nước ta như: PGS.TS Chu Hữu Quý;
GS.TS Nguyễn Thế Nhã cũng đã có những công trình nghiên cứu rất công
phu và có giá trị bàn luận về vấn đề này.
Điểm chung nhất của các công trình này là sau khi phân tích thực tiễn giải
quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính sách
phát triển nông nghiệp, nông thôn các tác giả đều gợi mở, nêu lên những kinh
nghiệm để có thể vận dụng giải quyết vấn đề thực tiễn ở Việt Nam.
+ “Phát triển nông thôn” do GS. Phạm Xuân Nam (Chủ biên), Nxb
Khoa học xã hội ấn hành 1997, là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát
triển nông thôn. Trong công trình này tác giả đã phân tích sâu sắc một số nội
dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như: dân số, việc làm,
3
lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý tài nguyên
thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo. Trong lúc phân
tích những thành tựu, yếu kém trong phát triển nông thôn ở nước ta, các tác
giả chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của
Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn.
+ “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và
+ “Xây dựng nông thôn mới vùng chiêm trũng” các tác giả Nhật Tân,
Tạp chí Cộng sản số 23, năm 2007. Trong bài viết tác giả nghiên cứu những
khó khăn, thuận lợi trong quá trình xây dựng Nông thôn mới ở vùng đồng
bằng chiêm trũng. Bên cạnh đó còn có những bài đăng trên tạp chí, các báo
của Trung ương và địa phương cũng đề cập tới vấn đề liên quan NTM.
Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ
liệu rất quan trọng cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển nông
thôn, nông nghiệp, nông dân nước ta trong thời kì đổi mới.Tuy nhiên chưa có
một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về huyện Bình Lục xây dựng Nông thôn mới
từ năm 2008 đến năm 2014. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các tài liệu trên,
kết hợp với phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình phát triển kinh tế nông
nghiệp của huyện, tác giả đã tập hợp xây dựng một cuốn tài liệu viết về quá
trình xây dựng NTM ở huyện Bình Lục giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014
mang tên: “Đảng bộ huyện Bình Lục (Hà Nam) lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014”.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu làm rõ vấn đề Nông thôn mới ở huyện Bình Lục dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014.
Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Đề tài nghiên cứu nêu lên tình hình xây dựng NTM ở huyện Bình Lục
từ năm 2008 đến năm 2014. Hệ thống hoá các chủ trương của Đảng về phát triển
5
kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời kì đổi mới đã được Đảng bộ huyện kịp
thời nắm bắt và vận dụng sáng tạo vào đặc điểm riêng của huyện.
+ Trình bày quá trình lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới ở huyện dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện.
sử địa phương trong quá trình viết lịch sử Đảng bộ của huyện trong giai
đoạn đổi mới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung luận
văn chia làm 3 chương.
Chƣơng 1: Bình Lục và những điều kiện lịch sử.
Chƣơng 2: Lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện
Bình Lục từ năm 2008 đến năm 2014.
Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
7
Chƣơng 1
BÌNH LỤC VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ
1.1. Điều kiêṇ tƣ ̣ nhiên
Bình Lục là một huyện đồng bằng chiêm trũng nhất của địa bàn tỉnh Hà
Nam nằm cách thành phố Phủ Lý khoảng 17km về phía đông nam của tỉnh
nằm dọc trên tuyến đường 21A cũ. Từ xưa kia Bình Lục luôn được biết đến là
mảnh đất trũng nhất của tỉnh là “cái rốn nước” hoặc những cái tên đùa vui
như “quê hương danh giá đất ông Cò”. Với những tên gọi trên ta phần nào có
thể thấy về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, khí hậu của huyện và cũng từ đó
hình thành và tác động đến tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội và đời sống
của nhân dân trong huyện.
Về vị trí địa lý
Bình Lục nằm ở chính giữa và phía đông nam của tỉnh Hà Nam. Phía
Đông Bắc và phía Bắc giáp huyện Lý Nhân với ranh giới là nhánh nhỏ của
sông Châu Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Duy Tiên ranh giới là dòng
chính sông Châu Giang, phía Tây giáp huyện Thanh Liêm, các huyện này đều
thuộc tỉnh Hà Nam. Riêng phía Nam và Đông Nam huyện giáp tỉnh Nam
số 12.868 người .
Về thổ nhưỡng, khí hậu
Do điề u kiê ̣n tự nhiên của Bình Lục nằm trong vùng đồng bằng tích tụ
chiêm trũng đất thôi chua yếm khí xen đồi sót do hệ thống sông bị sụt võng
Vì vậy đồng ruộng nơi đây có đặc điểm là thấp và bằng phẳng và thường chiụ
ảnh hưởng thiên tai vào mùa mưa và ha ̣n hán
vào mùa kh ô. Theo Ngô Vi
Viễn khi làm Tri phủ Bình Lục năm 1934 trong lúc soạn Địa chí Bình Lục
ông đã viết về vùng đất này. “Hàng năm từ tháng 6 hoặc 7 đến tháng 11 hay
tháng Chạp ta tùy theo mùa mưa nhiều hay ít to hay nhỏ nước ngập đường đi
nông hay sâu chỉ có đi thuyền là tiện và nhanh chóng hơn cả” [36, tr.40 – 41].
Với địa hình huyê ̣n có rất nhiều con sông nhỏ chạy qua như sông Đào,
sông Châu Giang, Ninh Giang, Luyện Giang, Dương Giang và sông Mới. Với
hê ̣ thố ng sông ngòi dày đă ̣c ta ̣o nên ma ̣ng lưới thủy lơ ̣i nô ̣i đồ ng vững chắ c
9
cung cấ p nước tưới cho cây trồ ng và vâ ̣t nuôi trong từng thời vu ̣ . Lịch sử hình
thành của mảnh đất này đã đượ c chứng tỏ bằ ng những di chỉ khảo cổ hô ̣ mà
các nhà khảo cổ học đã tim
̀ thấ y ở nơi đây . Trong các đơ ̣t tim
̀ kiế m khai quâ ̣t
tại một số nơi được cho là bằng chứng của loài người sinh sống đầu tiên các
nhà khảo cổ đã thu thập là những bãi sú vẹt đào được ở một số cánh đồng đặc
biệt ở “Đống Xa” thuộc Phú Đa vào thời kì Văn Lang – Âu Lạc cách ngày
nay 2000 năm.
Trong ca dao huyện Bình Lục ngày nay khi miêu tả về đời số ng kinh tế –
văn hóa của nhân dân:
mưa. Mưa thường tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 trong năm chiếm 80 –
90% [36, tr.48]. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhìn chung khí
hậu và thời tiết Bình Lục thuận lợi cho nông nghiê ̣p và các loa ̣i cây trồng vật
nuôi sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên do đặc điểm địa hình và lượng mưa
phân bố không đồng đều nên một số nơi trong địa bàn huyện thường xảy ra
hạn hán vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa nhất là các xã: Bối Cầu, An Đổ,
Hưng Công.
1.2. Điều kiện dân cƣ, kinh tế - xã hội
Thành phần dân cư ở huyện Bình Lục chủ yếu là người Kinh chiếm trên
90% dân số. Dân cư nơi đây thường là những người đã sinh sống từ rất nhiều
thế hệ trước họ có duyên, họ gắn bó và họ nhìn mảnh đất nơi đây trưởng
thành qua từng giai đoạn với những thăng trầm lịch sử. Hà Nam là mảnh đất
hiếu học,nơi hội tụ những anh tài tinh hoa của nền giáo dục Việt Nam. Chưa
có điều kiện để kiểm kê số liệu chính xác về số người đỗ Tiến sĩ đương đại,
dưới đây chỉ viết về 53 vị đỗ Tiến sĩ và 3 vị đỗ Tiến sĩ (Tiến sĩ võ). Theo ghi
chú của địa bạ của huyện số người đỗ cao làm quan trong triều như Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Khắc Hiếu, Trình Thuấn Du, Nguyễn Bảng.. Với đức tính
cần cù chịu khó, nhân dân huyện Bình Lục luôn có truyền thống cách mạng,
yêu nước, anh dũng đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Từ những năm tháng
kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhân dân huyện đã cung cấp cho chiến
trường miền Nam Việt Nam cả người và của. Huyện Bình Lục cùng với miền
11
Bắc đã trở thành hậu phương vững chắc cho miền Nam Việt Nam hoàn thành
sứ mạng lịch sử thống nhất đất nước.
Hiện nay theo những báo cáo thống kê về tình hình phát triển kinh tế trên
địa bàn huyện trước năm 2008 cho thấy 90% dân số thuộc cơ cấ u kinh tế khu
vực nông thôn và 75% lao động làm việc trong các ngành kinh tế nông
nghiệp, 15% lao động trong ngành tiểu thủ công nghiệp và 10% trong kinh
bình đã và đang được xây dựng , củng cố và hoàn thiện ; hê ̣ thố ng ma ̣ng lưới
kênh mương tưới tiêu thủy lơ ̣i nô ̣i đồ ng hiê ̣n có đã và đang phát huy tác du ̣ng
đảm bảo cho khâu tưới tiêu trên diê ̣n rô ̣ng . Các trạm bơm cũ được nâng cấp
sữa chữa và xây dựng thêm những trạm bơm mới, công tác bổ sung nâng cao
chất lượng của cán bộ khuyến nông của địa bàn huyện được tăng cường.
Hàng năm lãnh đạo huyện, Ban tổ chức UBND huyện tổ chức các đợt học tập,
nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ ở từng cơ sở.
Biểu hiện tình kình kinh tế của huyện trên các lĩnh vực cụ thể như sau:
Trong liñ h vực công nghi ệp và tiểu thủ công nghiệp Đảng bộ huyện
rất chú
trọng phát triển dần làm chuyển dịch cơ cấu chung của toàn ngành kinh tế
theo hướng giảm dầ n tỉ tro ̣ng ngành nông nghiê ̣p và nâng dầ n ngành công
nghiê ̣p, dịch vụ. Đồng thời t iế n hành giải quyế t viê ̣c làm cho lực lươ ̣ng lao
đô ̣ng dư thừa ở điạ phương.
Tỉ lệ nam nữ thanh niên từ 18 – 25 tuổ i chưa có viê ̣c làm hiê ̣n ta ̣i chiế m
số lươ ̣ng lớn. Trên điạ bàn đã xuấ t hiê ̣n một số trung tâm công nghiệp dệt may
Đức Giang, sản xuấ t thức ăn gia súc , gia cầ m An Mỹ, mây giang đan Bình
Sơn thu hút nhiề u đố i tươ ̣ng lao đô ̣ng ở điạ . Hòa nhập theo không khí chung
của cả nước nhân dân trong huyện đang từng bước đổi mới theo hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát triển và nâng cao đời sống cho nhân
dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Cho đến trước năm 2008 Bình
Lục vẫn là một huyện “thuần nông” với màu xanh chủ đạo của đồng lúa đâu
đó quanh huyện thấp thoáng những bóng dáng của các cô chú công nhân
nhưng nó chỉ là nét điểm trên nền xanh chủ đạo của màu lúa.
Tình hình giáo dục của huyện có nhiều chuyển biến tích cực và gắn kết
chă ̣t chẽ hơn với yêu cầ u phát triể n kinh tế – xã hội. Chấ t lươ ̣ng giáo du ̣c toàn
Trước kia tra ̣m y tế các xã là ta ̣m bơ ̣ chưa đươ ̣c quan tâm thì đế n nay Đảng bô ̣
huyê ̣n đã đă ̣c biê ̣t quan tâm tới chấ t lươ ̣ng cuô ̣c số ng của người dân bằ ng viê ̣c
cho tu sửa, bổ sung trang thiế t bi ̣cho tra ̣m y tế các xã , phường. Phong trào thể
dục thể thao cũng ngày đươ ̣c huyê ̣n quan tâm với những ngày hô ̣i thể thao với
nhiề u loa ̣i hình và tổ chức thi đấ u giữa các ban ngành
, điạ phương ta ̣o nên
không khí thể thao sôi nổ i trong điạ bàn huyê ̣n . Hoạt động văn hóa, thông tin
phát triển ngày càng đa dạng , nô ̣i dung và hiǹ h thức có n hiề u đổ i mới góp
phầ n đáp ứng nhu cầ u hưởng thu ̣ văn hóa , nâng cao đời số ng tinh thầ n cho
nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kế t xây dựng đời số ng văn hóa” từng
14
bước đi vào chiề u sâu . Nhiề u giá tri ̣văn hóa đươ ̣c bảo tồ n và phát huy. Đế n
nay có khoảng 85 % số phường và làng đươ ̣c xế p loa ̣i đa ̣t chuẩ n văn hóa.
Công tác phát thanh, báo chí truyền hình tuyên truyền cho việc xây dựng
Nông thôn mới , các chính sách chủ trương của Đảng cũng được quan tâm và
thực hiê ̣n đề u đă ̣n . Phong trào thi đua loa ̣i bỏ những hủ tu ̣c la ̣c hâ ̣u , xây dựng
đời số ng văn hóa mới đâ ̣m đà bản sắ c dân tô ̣c
, chố ng suy đồ i , khắ c phu ̣c
những lê ̣ch la ̣c trong lố i suy nghi ̃ của người dân đã diễn ra thường xuyên.
Hoạt động khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường có những bước đổi
mới. Viê ̣c nghiên cứu , tiế p thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và o sản xuất và
đời số ng đươ ̣c đẩ y ma ̣nh nhấ t là trong liñ h vực sản xuấ t nông nghiê ̣p
, y tế.
quốc lần thứ VI (1986) chủ trương phát triển toàn diện đất nước trên tất cả các
lĩnh vực trong đó chú trọng phát triển công nghiệp nặng. Đồng thời ra sức
phát triển hợp lý đồng đều cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp. Xây dựng
Nông thôn mới là chủ trương mới của Đảng được đề ra từ năm 2008 và đang
được từng bước thực hiện đạt kết quả cao.
Sau những năm tiến hành đổi mới Đảng đã lãnh đạo nhân dân những
bước đi đúng đắn, vững chắc đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các
mặt của đời sống xã hội. Huyện Bình Lục cũng là một minh chứng điển hình
cho kết quả của sự thay đổi đó. Hoạt động kinh tế -xã hội – chính trị - an ninh
của huyện được thay đổi nhanh chóng làm tiền đề cho Bình Lục bắt tay vào
thực hiện nhiệm vụ mới trong giai đoạn tiếp theo.
16
Chƣơng 2
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN BÌNH LỤC TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
2.1. Chủ trƣơng của Trung Ƣơng Đảng và Đảng bộ tỉnh Hà Nam về
xây dựng nông thôn mới
2.1.1. Chủ trương của Đảng về xây dựng nông thôn mới
Có thể thấy chủ trương về xây dựng nông thôn mới đã được đề cập đến
trong các kỳ đại hội của Đảng từ rất sớm. Bước vào thời kỳ đổi mới nước ta
đã không ngừng thay đổi trong việc bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cho phù
hợp với tình hình của đất nước. Người đi tiên phong cho vấn đề này là Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong một số bài báo, tạp chí tư tưởng của Người cũng được
thể hiện rõ: trong bài “Con đường phía trước” với bút danh C.K đăng trên báo
Nhân dân số 2143 ngày 20/01/1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Nước ta
vốn là mô ̣t nư ớc nông nghiệp lạc hậu đó là chỗ bắt đầu đi của chúng ta.. Đời
sống nhân dân chỉ có thể dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một
̀ h neo đơn, người già, gia điǹ h thương binh liê ̣t sỹ [33, tr.15].
Xây dựng NTM là n hiê ̣m vu ̣ chung của toàn thể nhân dân không phải là
của riêng ai , là nhiệm vụ lâu dài nên mọi người phải nêu cao tinh thần làm
chủ. Người chỉ rõ NTM là nông thôn đươ ̣c ta ̣o lâ ̣p nên bởi nhiề u gia điǹ h mới
, xã hội tốt thì gia đì nh càng tố t mà có nhiề u gia đình tố t thì mới ta ̣o nên xã
hô ̣i tố t. Những ý kiế n chỉ dẫn trên của Người như ngo ̣n đuố c sáng trong đêm
tố i giúp ta tìm ra những đường đi mô ̣t cách đúng đắ n nhấ t [33, tr.20].
Như vâ ̣y đố i với quan điể m của Hồ Chí Minh thì xây dựng NTM là phát
triể n trên tấ t cả các liñ h vực từ xây dựng đời số ng vâ ̣t chấ t cho nhân dân ấ m
no ha ̣nh phúc đế n xây dựng đời số ng văn hóa tinh thầ n hiê ̣n đa ̣i tiên tiế n
,
người phu ̣ nữ đươ ̣c giải phóng, đươ ̣c hưởng quyề n bình đẳ ng.
Thực tiễn cho thấy trước thời kì đổi mới vấn đề nông nghiệp, nông dân
và nông thôn chưa thực sự được đặt đúng vị trí của nó. Trong suốt một thời
gian dài trong lịch sử công nghiệp nặng luôn được đặt lên vị trí hàng đầu và
được ưu tiên phát triển. Trong đại hội IV 12/1976 và đại hội V năm 1982 đã
dần chỉ ra những sai lầm và chuẩn bị đầy đủ những điều kiện tiền đề cần thiết
cho công nghiệp và nhấn mạnh: “Tập trung sức mạnh phát triển nông nghiệp
18
coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất
XHCN ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số
ngành công nghiệp nặng quan trọng. Kết hợp nông nghiệp, công nghiệp với
sản xuất hàng tiêu dùng và công
nghiệp nặng trong cơ cấu công – nông
Về mu ̣c tiêu Nghi ̣quyế t chỉ rõ : “Mu ̣c tiêu tổ ng quát và lâu dài của công
nghiê ̣p hóa hiê ̣n đa ̣i hóa nông nghiê ̣p nông thôn là xây dựng mô ̣t nề n nông
nghiê ̣p sản xuấ t hàng hóa lớn, hiê ̣u quả vè bề n vững, có năng suất, chấ t lươ ̣ng
và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học , công nghê ̣
tiên tiế n, đa ̣p ứng nhu cầ u trong nước và xuấ t khẩ u , xây dựng nông thôn ngày
càng giàu đẹp, dân chủ công bằ ng văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hê ̣
sản xuất phù hợp , kế t cấ u ha ̣ tầ ng kinh tế – xã hội phát triển ngày càng hiện
đa ̣i” [27, tr.94 – 95].
Về nô ̣i dung tổ ng quát Nghi ̣quyế t Trung Ương Năm đưa ra
2 nô ̣i dung
tổ ng quát đó là công nghiê ̣p hóa nông nghiê ̣p và hiện đa ̣i hóa nông thôn mà
theo đó nội dung được thể hiện như sau:
CNH nông nghiê ̣p đươ ̣c coi là mô ̣t quá triǹ h chuyể n dich
̣ cơ cấ u kinh tế
nông nghiê ̣p theo hướng sản xuấ t hàng hóa , gắ n với công nghiê ̣p chế biế n và
thị trường ; thực hiê ̣n c ơ khí hóa , thủy lợi hóa , ứng dụng các thành tựu của
khoa ho ̣c ki ̃ thuâ ̣t và công nghê ̣ hiê ̣n đa ̣i vào các khâu sản xuấ t nông nghiê ̣p
nhằ m nâng cao năng suấ t lao đô ̣ng , chấ t lươ ̣ng hiê ̣u quả ca ̣nh tranh của nông
sản hàng hóa trên thị trường.
HĐH nông thôn đươ ̣c Nghi ̣quyế t xác đinh:
̣ “Là quá trình chuyể n dich
̣ cơ
cấ u kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ tro ̣ng giá tri ̣sản phẩ m và lao
đô ̣ng các ngành công nghiê ̣p và dich
̣ vu ̣ ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao
đô ̣ng nông nghiê ̣p” [27, tr.96 –97].
Nhận thức được vấn đề đầu tiên của việc xây dựng Nông thôn mới là