ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
LÊ THỊ NHUNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN KHOÁI CHÂU (HƢNG YÊN) LÃNH
ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN
NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
LÊ THỊ NHUNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN KHOÁI CHÂU (HƢNG YÊN) LÃNH
ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN
NĂM 2014
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN ĐÌNH LÊ
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tạo tiền đề xây dựng nông thôn
mới (2000- 2008) ………………….............................................................19
1.2.1. Chủ trƣơng của Đảng cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn ………………………………………....19
1.2.2. Đảng bộ huyện Khoái Châu lãnh đạo thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (2000- 2008) ……………………..26
Tiểu kết………………………………………………………….…...……36
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN KHOÁI CHÂU LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014 ……..…38
2.1. Quan điểm của Đảng và chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Khoái
Châu về xây dựng nông thôn mới………………..………..................… 38
2.1.1.Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới …...….……….38
2.1.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Khoái Châu về xây dựng nông
thôn mới …..................................................................................................42
2.2. Đảng bộ huyện Khoái Châu chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn
mới ………..................................................................................................48
2.3. Kết quả bƣớc đầu thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện
Khoái Châu …….........................................................................................53
Tiểu kết…………………………………………...............…….…………67
Chƣơng 3: THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN KHOÁI
CHÂU………………………………………………………………….......70
3.1. Thành tựu xây dựng nông thôn mới ở huyện Khoái Châu …….....70
3.1.1. Thành tựu ………………...…………………….........…………….70
3.1.2.Hạn chế, khó khăn trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn
mới ở huyện Khoái Châu ……………………………………….………..91
3.2. Một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng nông thôn mới ở huyện
Khoái Châu……………………………………………………………… 97
: Hội đồng nhân dân
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Quyết định về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông
thôn mới.
Phụ lục 2: Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 2011- 2015
huyện Khoái Châu.
Phụ lục 3: Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hôi
2016- 2020 huyện Khoái Châu.
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân của nước ta là một vấn đề có tính
chiến lược, có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội; là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước trong
quá trình CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong suốt hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhiều chương
trình về nông nghiệp, nông thôn và nông dân được tiến hành, nhờ vậy vấn đề
“tam nông” ở nước ta đã được giải quyết căn bản. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu đã đạt được, nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta vẫn còn
nhiều tồn tại cần giải quyết. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng và Chính phủ đã
ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (năm
2008) nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề “tam nông” ở nước ta.
Để tiến hành triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, 11 xã
trên phạm vi toàn quốc đã được Trung ương chọn để xây dựng thí điểm. Sau 2
năm thực hiện xây dựng thí điểm, kết quả bước đầu rất khả quan, đã định hình
được hình thái nông thôn mới của thời kỳ CNH, HĐH. Trên cơ sở kết quả đó,
chương trình xây dựng nông thôn mới đã được nhân rộng ra quy mô cả nước
của vấn đề đó tôi đã chọn: “Đảng bộ huyện Khoái Châu (Hưng Yên) lãnh đạo
xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014 ” làm đề tài luận văn
thạc sỹ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chủ trương mới của
Chính phủ, nhưng ngay từ khi mới được ban hành nó đã thu hút được sự quan
tâm của không ít nhà nghiên cứu. Đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu,
2
luận văn được đăng trên các báo, tạp chí viết về chương trình xây dựng nông
thôn mới. Chẳng hạn như:
Bài viết “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam” của tác giả Lê Hữu
Nghĩa đăng trên tạp chí Lý luận chính trị, 2008, số 11. Tác giả đã nêu lên
được một số nội dung cơ bản nhất của Chương trình xây dựng nông thôn mới
ở Việt Nam như: nội dung, tiêu chí, quá trình thực hiện và những kết quả
bước đầu. Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy
nhanh hơn nữa quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở nước ta trong
thời gian tới.
Bài viết “Giải pháp xây dựng nông thôn mới đến năm 2010”, Lã
Văn Lý, Tạp chí Quản lý nhà nước, 2007, số 135. Trong bài viết của mình,
phần đầu tác giả cũng giới thiệu khái quát về Chương trình xây dựng nông
thôn mới ở nước ta. Trong phần trọng tâm của bài, tác giả đã đưa ra và phân
tích kĩ những giải pháp để thực hiện xây dựng nông thôn mới đến năm 2010.
Bài nghiên cứu “Kết quả bước đầu và vấn đề đặt ra qua xây dựng
thí điểm mô hình nông thôn mới” của tác giả Tăng Minh Lộc đăng trên Tạp
chí cộng sản, số 57. Tác giả đã nêu ra những kết quả bước đầu của việc thực
hiện xây dựng nông thôn mới ở 11 xã điểm trên cả nước. Đồng thời, tác giả
đã nêu những chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện cũng như những kết
quả, kinh nghiệm lãnh đạo trong xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình từ năm 2001 đến năm 2010.
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía
Tây thành phố Hà Nội” của nghiên cứu sinh Nguyễn Mậu Thái- Học viện
nông nghiệp Việt Nam. Luận án đã nêu những chủ trương, chính sách xây
dựng nông thôn mới , tình hình phát triển kinh tế- xã hội; lý luận, thực tiễn và
bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới; phân tích, đánh giá thực
trạng và kết quả xây dựng nông thôn mới của các huyện phía Tây thành phố
Hà Nội; phân tích các tác nhân tham gia, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
4
xây dựng nông thôn mới và đề xuất một số giải pháp xây dựng nông thôn mới
các huyện phía Tây thành phố Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030…
Đề cập đến vấn đề nông nghiệp nông thôn của tỉnh Hưng Yên, huyện
Khoái Châu có một số cuốn sách, công trình như: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên, tập 3 (1975 - 2005)” xuất bản năm 2009. Cuốn “Hưng Yên - Thế
và lực trong thế kỷ XXI” do Chu Viết Luân chủ biên, xuất bản năm 2005.
Luận văn Thạc sỹ: “Đảng bộ Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ 1997 - 2003” của Đào Thị Vân,
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, 2004. Luận văn
Thạc sỹ: “ Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 2001 đến năm 2013” của học viên
Đoàn Văn Trường, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn- Đại học quốc gia Hà Nội. Cuốn “ Lịch sử Đảng bộ huyện Khoái Châu”
tập 2 (1975- 2010), xuất bản năm 2010...
Những bài viết trên đây mới chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ chủ
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở địa phương của Đảng bộ huyện
Khoái Châu.
Thời gian: Quá trình Đảng bô ̣ huyện Khoái Châu lãnh đạo xây dựng
nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014. Tôi chọn mốc thời gian nghiên
cứu là từ năm 2008 vì đây là năm Đảng và Nhà nước quyết định đưa Chương
trình xây dựng nông thôn mới trở thành chương trình mục tiêu quốc gia.
Không gian: Tại địa bàn huyện Khoái Châu.
6
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu phục vụ cho đề tài là: Văn kiện Đại hội Đảng, các
Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, văn kiện các Đại hội Đảng
bộ huyện Khoái Châu, các nghị quyết, chương trình hành động, thông báo của
Đảng bộ huyện Khoái Châu về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây
dựng nông thôn mới của huyện.
Ngoài ra còn có các sách chuyên đề về nông nghiệp, nông thôn, cũng
như các chỉ thị, báo cáo tổng kết tình hình sản xuất, phát triển kinh tế nông
nghiệp của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Khoái Châu,
Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên qua từng năm, từng
giai đoạn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử,
phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp này. Ngoài ra tác giả
còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp: điền dã khảo sát
thực địa, thống kê, phân tích, tổng hợp…
Châu nằm ở toạ độ 20ᵒ45‟45”- 20ᵒ54‟05” vĩ tuyến bắc 105ᵒ55‟30”- 106ᵒ
02‟15” kinh độ đông, phía Bắc giáp huyện Văn Giang; phía Nam giáp huyện
Kim Động; phía Đông giáp huyện Yên Mỹ và Ân Thi; phía Tây giáp tỉnh Hà
Tây ngăn cách bởi sông Hồng.
Diện tích chung của toàn huyện là 13.086 ha, trong đó đất nông nghiệp
là 8.779 ha, còn lại là đất thổ cư, đường sá, sông ngòi, công trình công cộng,
đình chùa, nhà thờ,… Khoái Châu nằm ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, có
địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình + 3,5 - +4,5, nơi cao nhất
+7 - + 8, nơi thấp nhất dưới +2. Đồng đất Khoái Châu thích hợp với cấy lúa,
trồng rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả. Riêng về cây đay (thời kỳ bao
cấp) Khoái Châu là huyện đứng đầu cả về diện tích, năng suất, sản lượng của
tỉnh Hưng Yên và đồng bằng Bắc Bộ.
Khí hậu Khoái Châu nóng ẩm, nguồn nước dồi dào. Mùa nước to từ
tháng 5 đến tháng 10. Gió có 2 mùa rõ rệt là gió mùa đông bắc từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau kèm theo rét, mưa phùn; từ tháng 6 đến tháng 10 thường
có gió bão, mưa to. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23- 24ᵒC. Mùa hè nhiệt
độ cao nhất vào tháng 5 lên tới 37- 38ᵒC. Tháng 7-8 nhiệt độ xuống còn 2728ᵒC. Mùa đông cá tháng 10- 11 nhiệt độ xuống còn 15- 20ᵒC, có năm tháng
9
12 và tháng 1 năm sau, nhiệt độ xuống thấp 9- 10ᵒC. Số giờ nắng trong năm
bình quân là 1.730 giờ. Lượng mưa hàng năm từ 1800mm đến 2500mm, phân
bố cho một số tháng như sau: tháng 5 mưa từ 90- 150 mm, tháng 6,7 mưa
khoảng 300 mm, tháng 8 mưa từ 280- 330 mm.
Đặc điểm khí hậu trên là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại
cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều nguồn địa lý khác nhau,
tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, du lịch và đó cũng là tiềm năng phát
triển kinh tế- xã hội thuận lợi và góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn
trong thời kỳ CNH, HĐH.
Khoái Châu có hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện, phía Đông có
đường 39A chạy qua 4 xã Dân Tiến, Đồng Tiến, Hồng Tiến, Việt Hoà; đường
199 làm năm 1892, nên dân còn gọi là đường Tây từ xã Bình Minh qua Đông
Tảo, qua Yên Mỹ ra đường 39A; đường 205 từ Văn Giang qua Đông Tảo, Dạ
Trạch, Tân Dân , Ông Đì nh, An Vĩ, thị trấn Khoái Châu, Phùng Hưng, Đại
Hưng, Thuần Hưng, Thành Công đến Kim Động; một nhánh của đường 205
(205C) từ Ông Đình, qua Dạ Trạch, Hàm Tử, đến đê sông Hồng; đường 208
nối với đường 205 từ Thuần Hưng qua Thành Công, Nhuế Dương, đến Kim
Động; đường 206 từ Dân Tiến (39A) qua Tân Dân đến Yên Mỹ; đường 209 từ
Tân Dân (39A), An Vĩ, thị trấn Khoái Châu, Bình Kiều, Đông Kết, Tân Châu,
Đông Ninh ra bến đò Đông Ninh; đường 209 B nối với đường 209 ở ngã ba
quán Táo ( Tân Châu), ra bến đò Tân Châu; đường 204 từ Hồng Tiến (giáp
Ân Thi) qua Việt Hoà, Dân Tiến, Phùng Hưng, Bình Kiều, Liên Khê, Đại Tập
đến bến đò Đại Tập; đường 199B từ đường 199 (Bình Minh) giao với đuờng
195 (đê sông Hồng) qua đền Chử Đồng Tử- Tiên Dung đến đê sông Hồng;
đường 209C từ Đông Kết qua Hàm Tử lên đê sông Hồng [40, tr. 5-9].
1.1.2 Tình hình kinh tế
11
Sau nhiều năm đổi mới, cơ cấu kinh tế của huyện tuy đã có sự chuyển
dịch và có bước phát triển nhất định, bộ mặt nông thôn thay đổ i trên nhiều
lĩnh vực: kinh tế, đời sống văn hoá, xã hội. Nhưng thực trạng kinh tế cho thấy
Khoái Châu vẫn là một huyện nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ
trọng lớn. Sản xuất nông nghiệp có vị trí trọng yếu trong nền kinh tế và có tác
động lớn đến các mặt đời sống nhân dân nhất là địa bàn nông thôn trên toàn
huyện.
Tính đến hết năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện luôn đạt
khá và liên tục, nhịp độ phát triển bình quân trong 2 năm là 7,41%. Cơ cấu
dân đóng góp đã cải tạo và nâng cấp 193,5 km đường giao thông nông thôn,
xây dựng 152 cầu, cống, trong đó có 76,2 km đường và 102 cầu cống được thi
công và hoàn thành trong 1 năm tái lập huyện [40, tr. 211]. Bên cạnh đó các
phương tiện vận tải cơ giới ở nông thôn cũng phát triển mạnh mẽ.
Hệ thống lưới điện của huyện trong những năm qua đã được đầu tư sửa
chữa và xây dựng mới. 100% số xã, thị trấn đã có điện phục vụ sản xuất và
đời sống của nhân dân. Ngành điện lực đã làm xong thủ tục để tiếp nhận,
quản lý lưới điện ở 8/ 25 xã, thị trấn. Mạng bưu chính- viễn thông trên địa bàn
huyện có sự phát triển vượt bậc trong chiến lược chung của ngành tăng tốc để
hiện đại hoá. Bốn tổng đài điện tử đã lắp đặt trang thiết bị viba. 100% số thôn
trong huyện đã có máy điện thoại. Năm 2000 đạt 1975 máy, nâng tỷ lệ máy
trên 100 người từ 0,26 (năm 1996) lên 1,09. Toàn huyện đã có 8 bưu cục và
15 điểm bưu điện văn hoá xã [40, tr. 211].
- Tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh, giá trị sản xuất tiểu thủ công
nghiệp năm 2000 đạt 42 tỷ 240 triệu đồng vượt mức kế hoạch 4,8%, tăng 3,12
lần so với năm 1996. Huyện quan tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp theo
13
hướng khai thác tài nguyên, chế biến nông sản hàng hoá, trang bị công cụ cơ
giới ở những khâu lao động nặng nhọc. Nghề mộc, dệt thảm truyền thống
được khôi phục và đang có đà phát triển. Chính sách phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần phát huy tác dụng huy động vốn đầu tư phát triển tiểu thủ
công nghiệp, trong đó 92% giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp thuộc thành
phần kinh tế hộ gia đình, 8% còn lại thuộc thành phần kinh tế hợp tác và
doanh nghiệp tư nhân [40, tr. 211].
- Thương nghiệp, dịch vụ cũng góp phần tích cực cho tăng trưởng
kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân trên địa bàn huyê ̣n . Mạng lưới bán lẻ,
dịch vụ, cơ khí và điện dân dụng phát triển mạnh. Hợp tác xã dịch vụ phục vụ
Sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 2, sự
chăm lo, đầu tư cho từng gia đình và toàn xã hội đối với sự nghiệp giáo dục
của huyện Khoái Châu có sự chuyển biến mạnh mẽ: chất lượng giáo dục toàn
diện và giáo dục mũi nhọn của huyện được nâng cao, tỷ lệ học sinh thi đỗ đại
học năm 2000 là 21,66%... [40, tr. 214].
Hoạt động khoa học- công nghệ và bảo vệ môi trường trên địa bàn
huyện Khoái Châu trong những năm qua có nhiều bước đổi mới. Việc nghiên
cứu, tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống được đẩy
mạnh, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, y tế. Công tác kiểm tra,
giám sát, đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường được thực hiện thường
xuyên. Vấn đề vệ sinh đô thị, nông thôn được tăng cường, các đơn vị sự
nghiệp môi trường ở huyện được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả.
Các nội dung bảo vệ môi trường được tuyên truyền rộng rãi, bước đầu nâng
cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho doanh nghiệp và nhân dân.
Công tác y tế luôn được huyện quan tâm, chú trọng, huyện đã đầu tư,
tu sửa và nâng cấp bệnh viện huyện, xây dựng nhà phẫu thuật, nhà dược, nhà
thường trú và tu sửa 2 khu vực điều trị. Huyện cũng bổ sung trang thiết bị
15
khám bệnh hiện đại như máy X quang, máy siêu âm, máy xét nghiệm sinh
hoá,… đến hết năm 2000 đã có 12/25 xã được trang bị thêm thiết bị, dụng cụ
y tế, 75% số hộ đã được dùng nước sạch [40, tr. 214].
Các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân tiếp tục
được lồng ghép, thực hiện tốt ở nông thôn, đặc biệt là lĩnh vực trong y tế dự
phòng: 100% trẻ em được tiêm chủng đủ vắc-xin phòng 6 bệnh nguy hiểm;
Việc thanh toán các bệnh xã hội đạt kết quả tốt; Chương trình phòng chống
mắt hột, giải phóng mù loà được thực hiện có hiệu quả; Không có dịch bệnh
xảy ra trên địa bàn huyện; 40% trạm xá đã có bác sĩ; Cuộc vận động dân số,
vùng bị thiên tai lớn.
Việc thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực công tác xã hội tiếp tục có
chuyển biến rõ nét. Các nhu cầu ăn, ở, đi lại, điện, nước, học hành,…của nhân
dân được đáp ứng ngày càng tốt hơn, vì vậy mà trong những năm gần đây trên
địa bàn huyện số hộ giàu đã tăng lên, số hộ nghèo giảm từ 7,8% năm 1996
xuống 5,5% năm 2000 [40, tr. 215]; hầu hết các gia đình đã có phương tiện
nghe nhìn phục vụ cuộc sống.
Những thành tựu mà huyện Khoái Châu đã đạt được trên lĩnh vực văn
hoá- xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình thực hiện chính sách tam nông
của Đảng và lãnh đạo xây dựng NTM trong giai đoạn tiếp theo, làm cho hiệu
quả tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách về xây dựng và phát
triển NTM đạt được cao hơn, người dân nhận thức tốt hơn về ý nghĩa việc
thực hiện chủ trương này.
Cùng với những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế- xã hội, Khoái
Châu là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử. Công cuộc sản xuất, đấu
tranh với thiên tai, giặc dã đã khiến con người nơi đây vừa gan dạ, vừa lạc
quan yêu đời, gắn với một nền văn hoá, văn nghệ dân gian dồi dào và đậm đà
bản sắc dân tộc. Với những truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, người dân
nơi đây đã hình thành được một bản lĩnh, một trí tuệ và kết tinh tạo thành sức
17