TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA LỊCH SỬ
CHỬ THỊ LAN HƯƠNG
ĐẢNG Bộ HUYỆN LÂM THAO (PHÚ THỌ)
LÃNH ĐẠO XÂY DựNG NÔNG THÔN MỚI
(2010 - 2013)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
■
■■■
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG
HÀ NỘI – 2015
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thả nh và sâu sắc nhất đến Thầy giáo TS Nguyễn
Văn Dũng - người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu thực
hiện đề tài. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày, cô giáo trong khoa
Lịch Sử đã cung cấp kiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại trường. Bên cạnh đó,
tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp huyện Lâm Thao và các cơ quan có liên
quan đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành công t rình nghiên cứu này. Cuối
cùng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động
viên, giúp đỡ tôi.
LỜI CẢM ƠN
giàu có. Nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản
xuất ra. Đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực nguyên liệu cho công
nghiệp và thành thị. Như thể là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp
phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển
mạnh hơn nữa. Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu nước
mạnh
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), nhiều vấn đề đặt ra cho phát triển nông thôn càn được quan
tâm giải quyết như: tăng nhanh giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản trên
một đơn vị canh tác, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị hàng hóa cao và an
toàn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngưòi dân.
Trước những yêu cầu mới, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chương
trình mục tiêu phát triển nông thôn mới nhằm giải quyết tốt những vấn đề
trên và đạt được mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Chính vì vậy, xây dựng nông thôn mới chiếm vị trí chiến lược trong phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Lâm Thao là một huyện trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh Phú
Thọ, mật độ dân cư đông,có mộng đất bằng phẳng, mạng lưới giao thông
thuận tiện,... đã đem lại cho huyện Lâm Thao nhiều lợi thế, tạo điều kiện để
phát triển kinh tế - xã hội.
Những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước cùng với sự chỉ đạo của
tỉnh Phú Thọ và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ huyện Lâm Thao, đã
thúc đẩy nền kinh tế phát triển góp phàn đưa Phú Thọ thoát khỏi tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu và đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp.
Đồng thời, đưa đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa theo kịp xu thế phát triển của các nước trên thế giói.
quá trình xây dựng nông thôn mới (1991-2011) ”, k35 - Lịch sử, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2.
Cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về đề tài: “Đảng bộ
huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (20102013)”.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lâm Thao - Phú Thọ tong
quá trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2013. Làm rõ
những thành tựu đạt được trong quá tình thực hiện xây dựng nông thôn mói.
Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra các
giải pháp để thúc đẩy xây dựng nông thôn mói của huyện trong giai đoạn
hiện nay.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập hợp xử lý các nguồn tài liệu.
Trình bày, phân tích một cách khách quan về sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Lâm Thao trong quá trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2010
đến năm 2013.
3.3.
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo xây
Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm, nghiên cứu
về xây dựng nông thôn mói.
6. Bố cuc khóa luân
•
•
Ngoài phàn mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở để Đảng bộ huyện Lâm Thao lãnh đạo xây dựng
nông thôn mói
Chương 2: Đảng bộ huyện Lâm Thao lãnh đạo xây dựng nông thôn
mới (2010-2013)
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Chương 1 Cơ SỞ ĐẺ ĐẢNG Bộ HUYỆN LÂM THAO LÃNH ĐẠO
XÂY
•
• •
DựNG NÔNG THÔN MỚI
1.1.
1.1.1.
ĐIỀU KIỆN Tự NHIÊN VÀ DÂN CƯ
Điều kiên tư nhiên
•■
Vị trí đia lý
nắng trong ngày trung bình 1,62 giờ [7, tr.12].
Điều kiện khí hậu của Lâm Thao thuận lợi cho việc phát triển các loại
cây trồng, có điều kiện để sản xuất thâm canh, tăng hệ số sử dụng đất.
Tài nguyên đất
Đến năm 2010 diện tích đất của Lâm Thao chia theo các loại mục
đích sử dụng như sau: 9523,17 ha, trong đó có 5486,22 ha đất nông nghiệp
(chiếm 57,61%); có 3961,87 ha đất phi nông nghiệp (chiếm 41,6%) và
75,08 ha đất chưa sử dụng (chiếm 0,79%) tổng diện tích đất tự nhiên của
huyện.
Đất đai của Lâm Thao được chia thành hai nhóm có nguồn gốc phát
sinh khác nhau, đó là: nhóm đất đồng bằng, thung lũng và nhóm đất đồi gò.
Nhóm đất đồng bằng, thung lũng chiếm 93,06% tổng diện tích, được chia
thành 5 loại đất: đất cát chua, đất thung lũng và đất phù sa xen giữa đồi núi;
đất phù sa chua; đất có tầng sét loang lổ và đất phù sa trung tính ít chua.
Nhóm đất này đa dạng, thích hợp với nhiều loại vây trồng khác nhau, đòi
hỏi phải có những biện pháp canh tác phù hợp vói từng loại đất. Nhóm đất
đồi gò (đất địa thành) chiếm 6,94% diện tích, phân bố chủ yếu ở vùng Đông
Bắc của huyện như Tiên Kiên, Xuân Lũng, thị trấn Hùng Sơn,... độ phì
nhiêu, dung tích hấp thụ của đất thấp.
Nhìn chung tài nguyên đất của Lâm Thao rất màu mỡ, phù họp với
phát triển các loại cây trồng hàng năm như lúa, rau màu,...
1.1.2.
Dân cư
Lâm Thao là huyện đồng bằng của tỉnh chính vì vậy dân cư tập trung
đông đúc. Dân số của huyện là 101.425 người (2013). Trong đó nữ là
đạt 1.118,63 ha, giảm 356 ha, năng suất đạt 42,74 tạ/ha. “Sản lượng lương
thực đạt 42.198 tấn, giảm 1.481 tấn so với năm 2008. Trong đó, sản lượng
thóc đạt 37.417,3 tấn, tăng 656,2 tấn, sản lượng ngô đạt 4.780,8 tấn, giảm
2.137 tấn” [16; tr.2].
về chăn nuôi: Tổng đàn trâu, bò đạt 9.078 con, bằng 84,57%; tổng đàn
lợn 35.427 con, tăng 8,4%; đàn gia cầm 396.942 ngàn con, tăng 28,83% so
với cùng kì năm 2008.
về thủy sản: Diện tích nuôi ttồng thủy sản đạt 538 ha, tăng 4 ha so với
năm 2008. Sản lượng nuôi trồng ước tính đạt 1.775,4 tấn, tăng 12,4%; sản
lượng thủy sản khai thác đạt 1.825 tấn, tăng 11,96%.
về lâm nghiệp: Trong năm đã trồng mới thêm được 10 ha rừng, chăm
sóc và bảo vệ tốt 210 ha rừng tập trung, trồng 39 ngàn cây phân tán. Công
tác phòng chống cháy rừng, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo vệ
rừng được triển khai thực hiện chủ động, thường xuyên.
*
Trong công nghiệp - Thủ công nghiệp
Công nghiệp - Thủ công nghiệp tăng trưởng thấp, giá tri ước tính đạt
297,849 triệu đồng, tăng 21,47% so với năm 2008. Các ngành nghề truyền
thống như: ủ ấm, tương,... vẫn được duy trì. Bên cạnh đó đã và đang thực
hiện các thủ tục đề nghị ủy ban nhân dân (UBND) tinh công nhận 3 làng
nghề: làng nghề sản xuất chế biến rắn Tứ Xã, làng nghề xây dựng và sản
xuất vật liệu xây dựng cao cấp Hưng Đạo - Xuân Huy, làng nghề ủ ấm và
sản xuất chăn ga, gối đệm Sơn Vi.
*
xã.
*
về dân số, lao động - xã hội
Công tác kế hoạch hóa gia đình đã tuyên truyền vận động tới nhân
dân thực hiện nghiêm và đã góp phàn giảm số người sinh con thứ 3 trở lên
so với cùng kỳ năm 2008. Công tác lao động và giải quyết việc làm đã tổ
chức đào tạo nghề cho 1.400 lao động đi làm việc trong nước và xuất khẩu
lao động. Chương trình giảm nghèo triển khai có hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo
giảm 0,7% so với năm 2008. Ngoài ra còn tổ chức tốt các hoạt động kỷ
niệm ngày thương binh liệt sỹ, ngày nạn nhân chất độc màu da cam; chế độ
chính sách với người có công,...
Như vậy, vói sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, ban ngành và sự nỗ lực
của nhân dân trong huyện, kinh tế của huyện đã có được nhịp độ phát triển
tốt, các hoạt động xã hội được đảm bảo góp phần cải thiện đời sống cho
nhân dân.
1.2.3. Điều kiện thuận lọi và khó khăn khi tiến hành xây dựng nông
thôn mới
*
Thuẫn lơi
•
•
Hệ thống chính trị tò huyện đến xã được ổn định và giữ vững; các cơ
chế, chính sách của nhà nước, của tỉnh trong triển khai thực hiện xây dựng
hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội (khu công nghiệp, khu đô thị,-..) phục yụ
cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vậy, đất đai đã ít nay lại càng ít hơn.
Bên cạnh đó, đất đai ngày càng bạc màu và thoái hóa dần.
Môi trường có tình trạng bị ô nhiễm bởi một số cơ sở sản xuất, làng
nghề, một số cụm công nghiệp chỉ chú ý đến hiệu quả sản xuất mà không
quan tâm đến xử lý chất thải, nước thải; hệ thống chuồng trại chăn nuôi đại
gia súc được xây dựng chưa hợp vệ sinh còn gần nhà ở, khu dân cư; thuốc
bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp còn nhiều bất cập,...
Ngoài ra, cơ sở hạ tầng nhiều nơi còn kém, hệ thống đường nội đồng,
nhất là đường trục còn chưa được đầu tư đổ bê tông mà chỉ là đường đất đã
dẫn đến khó khăn trong công tác sản xuất nói chung và trong vận chuyển
nông sản nói riêng.
1.3. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DƯNG NÔNG THÔN MỚI
Nông thôn là “phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành
phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân
dân xã” [5, tr.l]. Như vậy, xây dựng nông thôn mới trước tiên nó phải là
vùng nông thôn, không phải là thị tứ, thị ữấn, thị xã, thành phố và khác với
nông thôn truyền thống hiện nay.
“Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông
thôn được đảm bảo; thu nhập, đòi sống vật chất, tinh thần của người dân
được nâng cao” [4, tr.2].
Xây dựng nông thôn mói là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính tri tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới
giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ
nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
xây dựng, phát triển nông thôn mới; là cơ sở để đánh giá công nhận xã đạt
tiêu chuẩn nông thôn mới. Bộ tiêu chí gồm 5 nhóm với 19 tiêu chí đề cập
tới tất cả các vấn đề kinh tế - xã hội như: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch,
giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở văn hóa, cơ cấu lao động, môi
trường, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở, thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo,... Đến
ngày 4/6/2010, Quyết định số 800/Q Đ- TTg về Phê duyệt Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 được
ban hành.
Mục tiêu chung xây dựng nông thôn mới được xác định là: Xây dựng
cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn
với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng
cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung của chương trình xây dựng nông thôn được ban hành bao
gồm 11 nội dung:
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; phát triểnhạ tầng kinh tế
-
xã hội; chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập;
giảm nghèo và an sinh xã hội; đổi mới và phát triển các hình thức
tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; phát triển giáo dục đào
tạo ở nông thôn; phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông
thôn; xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông
thôn, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; nâng cao
chất lượng tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị-xã hội
nước.
Như vậy, những Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ đã nêu ra rất
rõ chủ trương, đường lối xây dựng nông thôn mới. Từ đó, các tỉnh, thành
phố, huyện, xã tiếp tục triển khai phát triển, bổ sung Chương trình sao cho
phù họp với điều kiện, tình hình của địa phương đó và tuyên truyền sâu rộng
đến với quần chúng nhân dân.
Tiểu kết chương 1
Trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thị trường, nhờ có sự sáng suốt,
tầm nhìn chiến lược và phát huy được thế mạnh trong nền kinh tế nước ta,
Đảng và Nhà nước đã hết sức chú trọng đến vấn đề nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Đây là những vấn đề trọng yếu của nước ta trong giai đoạn hiện
tại để có thể phát triển đất nước vững mạnh. Các vấn đề này có mối quan hệ
mật thiết không tách rời nhau.
Dựa ừên phương châm: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn
minh ”, Đảng ta luôn chú ý quan tâm chăm lo cho cuộc sống của người dân.
Nước ta có hơn 90% dân số sống ở nông thôn vì vậy phải đẩy mạnh quá
trình nông thôn hóa, đàu tư nhiều hơn nữa cho các vùng nông thôn. Hiểu
được tàm quan ừọng đó, ta đã đề ra Chương trình xây dựng nông thôn mới
cũng như Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới để làm cơ sở thực hiện và
đề ra những mục tiêu rõ ràng để hướng tới.
Tinh Phú Thọ nói chung và huyện Lâm Thao nói riêng cũng
đã, đang tích cực thực hiện các chủ trương của Đảng về
xây dựng nông thôn mới. Ở mỗi một vùng lại có những đặc
điểm, điều kiện khác nhau do đó cũng phải điều chính cho
phù hợp. Với sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cán bộ
và đặc biệt là sự ủng hộ nhiệt tình của người dân, quá
Chính Phủ.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có trọng tâm, ưọng điểm các mục tiêu
đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng huy động nguồn lực
(tiêu chí nào dễ, ít tiền làm trước); tạo điều kiện để phát triển kinh tế nông
nghiệp theo hướng bền vững, tạo diện mạo mới ttong nông thôn, nâng cao
đời sống vật chât, tinh thần của nhân dân, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản
đạt các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
Nâng cao số lượng, chất lượng từng tiêu chí nông thôn mới của các xã
để đảm bảo thực hiện đúng lộ trình xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch
của ƯBND huyện được phê duyệt.
Nhanh chóng triển khai chương trình, Sơn Dương được chọn là xã thí
điểm xây dựng nônng thôn mới của huyện. Mọi công tác bước đầu được
thực hiện ở xã Sơn Dương sau đó lan ra các xã khác trong toàn huyện Lâm
Thao.
2.1.1.
*
Công tác chỉ đạo, điều hành quản lý
Thành lập và hoạt động của Ban chỉ đạo huyện
Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mói của huyện được thành lập do
Chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban, các Phó chủ tịch UBND huyện làm
phó ban, thảnh viên là trưởng các đoàn thể, thủ trưởng các phòng, ban
chuyên môn thuộc ƯBND huyện, Chủ tịch UBND các xã, các thành viên
theo từng lĩnh vực phụ trách, tích cực tham mưu, chú trọng công tác chỉ
đạo, kiểm tra, đánh giá kết qủa đạt được, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc,
khó khăn, đề xuất các giải pháp trong quá trình thực hiện; tham mưu ƯBND
huyện ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình, văn bản chỉ đạo,
hướng dẫn về công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
có Quyết định 3883/QĐ - UBND ngày 18/11/2009 của UBND tỉnh Phú Thọ
về việc ban hành Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, Kế hoạch xây dựng
nông thôn mới của tỉnh. UBND huyện đã xây dựng ban hành kế hoạch xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 trên địa bàn huyện và nhiều văn
bản chỉ đạo thực hiện chương trình tại các xã. Trong 3 năm thực hiện
Chương trình căn cứ vào điều kiện cụ thể cấp ủy, chính quyền đã chủ động
kiện toàn Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý từ huyện đến xã; Ban Phát triển thôn
đến tận các khu dân cư; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên; chỉ
đạo các xã hoàn thành quy hoạch và cụ thể hóa thành các chương trình, đề
án và tổ chức thực hiện đồng bộ. Chỉ đạo các phòng, ban, các xã quán triệt
các văn bản, chính sách của Nhà nước, của tỉnh và cụ thể hóa thành văn bản
của cấp mình để tổ chức thực hiện.
2.1.2. Công tác tuyền truyền, vận động
Sau khi có Quyết định số 800/QĐ - TTg ngày 04/6/2010 của Thủ
tướng Chính phủ, Nghị quyết số 28/NQ - TU ngày 20/11/2009 của Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông thôn mói của tỉnh Phú Thọ đến năm
2020; Nghị quyết số 196/2009/NQ - HĐND ngày 16/12/2009 của HĐND
tỉnh và kế hoạch số 759/KH - UBND của UBND tinh về triển khai thực hiện
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ đến năm 2020; Ke hoạch
nghiên cứu quán triệt tuyên truyền tổ chức thực hiện Nghị quyết số 28/NQ TU của Ban thường vụ huyện ủy. UBND huyện đã xây dựng kế hoạch trình
Hội đồng nhân dân (HĐND) huyện thông qua Nghị quyết số 18/2010/NQ HĐND về Phê duyệt Kế hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện đến năm
2015, đồng thời tổ chức các hội nghị triển khai phổ biến, quán triệt cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt của huyện, các xã về nội dung Chương trình, các chủ
trương, chính sách của Nhà nước, của tỉnh về xây dựng nông thôn mới.
Đảng bộ huyện đã có sự chỉ đạo đến các phòng ban, đơn vị tổ chức
tuyên truyền sâu rộng tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động của
các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và cộng
đồng dân cư; đã phối họp tốt trong xây dựng chương t rình “Chung sức xây
dựng nông thôn mới; nội dung xây dựng nông thôn mới theo
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ
tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện; chính sách
và kinh nghiệm của một số quốc gia đã thành công về phát triển
nông thôn; nguyên tắc, phương pháp, cơ chế vận hành trong xây
dựng nông thôn mới (nguyên tắc chỉ đạo, cơ chế tài chính, nguyên
tắc và cơ chế huy động nguồn lực, cơ chế quản lý vốn đàu tư xây
dựng cơ bản và vốn sự nghiệp trong Chương trình xây dựng nông
thôn mới); trình tự, nội dung các bước tiến hành xây dựng nông
thôn mới ở cấp xã; kỹ năng, phương pháp chỉ đạo xây dựng nông
thôn mới; phát triển kinh tế và phát triển các hình thức tổ chức sản
xuất có hiệu quả ở nông thôn; quy chế dân chủ ở cơ sở và sự tham
gia của cộng đồng ừong việc tham gia thực hiện Chương trình xây
dựng nông thôn mới; tổ chức họp dân, tổng hợp ý kiến, lập kế
hoạch, giám sát đầu tư; cơ chế giám sát cộng đồng; kỹ năng về
tuyên truyền, vận động người dân và cộng đồng tham gia xây
dựng nông thôn mới; tham quan, nghiên cứu thực địa các mô hình
xây dựng nông thôn mới ừong nước [4, tr.12].
Triển khai chương trình, Ban chỉ đạo cấp huyện đã phối họp với văn
phòng điều phối tình và các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch, tổ chức
được 02 lớp tập huấn cho 245 lượt cán bộ Ban Chỉ đạo, Ban Quản lý xây
dựng nông thôn mới cấp huyện, xã và các trưởng khu dân cư 12 xã. Ban
Tuyên giáo Huyện ủy đã biên soạn tài liệu hỏi đáp về xây dựng nông thôn
mói, tổ chức 2 lớp tập huấn cho các đối tượng là cấp ủy, bí thư chi bộ,
trưởng khu dân cư, một số đơn vị đã phối hợp với Ban Dân vận, ủy ban Mặt
trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên tổ chức được 02 lớp tập huấn cho các cán bộ
chủ chốt làm nòng cốt cho việc tổ chức tập huấn chuyên sâu ở cơ sở. Đã chủ
động, phối họp với các địa phương trong và ngoài tỉnh tổ chức04đoàn học