TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
TRẦN THỊ HUẤN
ĐẢNG BỘ HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. Phạm Văn Giềng
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
“Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy” đó là đạo lí mà nghìn đời nay mỗi ngƣời
dân Việt Nam khi sinh ra, lớn lên và trƣởng thành luôn khắc ghi trong lòng.
Khoá luận tốt nghiệp này đƣợc hoàn thành trƣớc hết là kết quả sau 4 năm
học tập, rèn luyện và nỗ lực phấn đấu của bản thân tại trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2. Đồng thời đây cũng là thành quả của quá trình dạy dỗ, chăm
sóc của gia đình. Sự dẫn dắt tận tình của nhà trƣờng, cùng sự giúp đỡ chân
thành của thầy cô giáo, bạn bè.
Trƣớc tiên cho phép em đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
tới thầy Phạm Văn Giềng, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và gợi mở
cho em những tri thức quý giá trong suốt thời gian e thực hiện khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn, Uỷ ban nhân dân huyện Sông Lô, Uỷ ban
CNH, HĐH
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
MTTQ
Mặt trận Tổ Quốc
NTM
Nông thôn mới
UBND
Uỷ ban nhân dân
THCS
Trung học cơ sở
THPT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng Sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Trong
quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,
HĐH) đất nƣớc, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn đƣợc Đảng ta
xác định là nhiệm vụ quan trọng nhất. Chính vì vậy nghị quyết Đại hội đại
biểu lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã xác định: “ phát triển nông, lâm, ngƣ
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn
mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định kinh tế, xã hội”[10]. Đặc
biệt nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:
“hiện nay và trong nhiều năm tới đây vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn có tầm chiến lƣợc quan trọng”, “xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch
phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn” [11].
Thực hiện Nghị quyết TW 7 khoá X về “nông nghiệp, nông dân và nông
thôn” thủ tƣớng chính phủ đã ban hành “bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới” (quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009) và “chƣơng trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” tại quyết định số 800/QĐ - TTg ngày
06/04/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả
nƣớc. Cùng với quá trình thực hiện chủ trƣơng của Đảng về phát triển nông
thôn, huyện Sông Lô đã tiến hành xây dựng mô hình nông thôn mới (NTM)
xây dựng làng, xã, có cuộc sống ấm no, văn minh, môi trƣờng trong sạch.
Sông Lô là một huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc, đời sống nhân dân còn
gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, cơ sở vật chất, hạ tầng còn thấp kém.Trong cơ
cấu kinh tế, nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn, dân cƣ chủ yếu tập trung ở vùng
nông thôn.Vì vậy việc giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn lại càng trở
nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
1
2
Vĩnh Phúc (2009-2015). Cuốn sách khái quát quá trình Đảng bộ Huyện Sông
Lô, tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo trong giai đoạn trên.
Tuy nhiên vấn đề “Đảng bộ Huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo
xây dựng NTM từ năm 2011 đến năm 2015” là hoàn toàn mới mẻ chƣa có
một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn, đề tài nghiên
cứu làm rõ vị trí, vai trò, nội dung, phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với
chƣơng trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
nhằm góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định an ninh chính trị,
xây dựng đời sống văn hoá nông thôn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích đề ra, đề tài cần tập trung thực hiện những vấn đề
cơ bản nhƣ:
- Làm rõ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về vai trò, nội dung, phƣơng
thức lãnh đạo của Đảng về chƣơng trình mô hình xây dựng NTM.
- Trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
trong quá trình xây dựng NTM từ năm 2011 đến năm 2015.
- Trên cơ sở đó đƣa ra một số nhận xét, kinh nghiệm để khắc phục
những hạn chế còn tồn tại trong việc xây dựng NTM của huyện Sông Lô,
tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng Bộ huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đối với việc
xây dựng NTM từ năm 2011 đến năm 2015.
1.1. Lý luận chung về xây dựng nông thôn
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng nông thôn
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình tổ chức,
động viên và tập hợp lực lƣợng đều nhận thức rõ vị trí, vai trò và khả năng
cách mạng to lớn của giai cấp nông dân trong sự nghiệp cách mạng do giai
cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng cộng sản lãnh đạo. Chính trong quá
trình đó, cả C.Mác, Ph.Ăngghen và VI.Lênin đều có những nghiên cứu rất có
giá trị về nông nghiệp. Đặc biệt là về chỉ đạo tổ chức và phát triển kinh tế hợp
tác trong nông nghiệp.
Nông dân, nông thôn là vấn đề rất quan trọng trong liên minh công
nông.Vì vậy Mác -Ăngghen cho rằng trong cuộc cách mạng nếu giai cấp
công nhân không liên minh đƣợc với giai cấp nông dân thì những cuộc cách
mạng vô sản sẽ trở thành bài ca ai điếu, về vấn đề nông dân và nhiệm vụ của
ngƣời cộng sản trong sự nghiệp cách mạng nông dân, nông thôn vẫn mang
tính thời sự.
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp” viết năm 1894 khi trình bày
những nguyên lý của chính sách nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Ăngghen chỉ
ra: “Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông trước hết phải hướng quyền sở
hữu cá thể và nền kinh doanh cá thể vào con đường kinh doanh hợp tác” [16
tr 280]. Ăngghen còn cho rằng:
Chúng ta kiên quyết đứng về phía ngƣời tiểu nông, chúng ta cố tìm đủ
mọi cách làm cho số phận của họ dễ chịu hơn, để cho họ chuyển sang hợp tác
xã đƣợc dễ dàng hơn, nếu họ quyết nhƣ thế [16.Tr310].
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp,
nông thôn, Ăngghen cho rằng: Chúng ta làm nhƣ thế là vì chính ngay lợi ích
5
của Đảng. Vì thế mà sau này, Lênin tiếp tục khẳng định: “Có công nông là có
Lênin là một trong “những biện pháp cấp tốc, cƣơng quyết nhất, cấp thiết để
cải thiện đời sống của nông dân và nâng cao năng lực sản xuất của họ”.
1.1.2.Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn ở Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và đề cao vai trò của nông dân,
nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp cách mạng:
Phát triển nông nghiệp là việc cực kì quan trọng. Muốn phát triển công
nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc,
làm chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để tiêu thụ
hàng hóa công nghiệp làm ra [17,tr 180].
Hồ Chí Minh coi phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn
giải quyết mọi vấn đề xã hội. Nông nghiệp giải quyết nhu cầu quan trọng
nhất, cơ bản nhất, cấp thiết nhất của con ngƣời là nhu cầu ăn, mặc, ở. Trong
đó, ăn là nhu cầu đầu tiên. Chỉ khi nào thỏa mãn các nhu cầu ăn (và mặc, ở)
trên một mức độ nhất định thì ngƣời ta mới nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Hồ
Chí Minh viết: sản xuất nông nghiệp trƣớc hết là sản xuất lƣơng thực, là việc
cần thiết nhất cho đời sống nhân dân, là bộ phận quan trọng trong kế hoạch
kinh tế của Nhà nƣớc.
Sau ngày đất nƣớc giành đƣợc độc lập, trong thƣ gửi điền chủ nông gia
Việt Nam ngày 11/4/1946, Hồ Chí Minh đã viết:
Việt Nam là một nƣớc sống về nông nghiệp.Nền kinh tế của ta lấy canh
nông làm gốc.Trong công cuộc xây dựng nƣớc nhà, Chính phủ trông mong
vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.Nông dân ta giàu thì
nƣớc ta giàu.Nông nghiệp ta thịnh thì nƣớc ta thịnh [17. Tr 80].
Ngƣời đã gắn sự giàu có, thịnh vƣợng của nông dân, nông nghiệp với sự
giàu có, thịnh vƣợng của đất nƣớc. Ngƣời đã coi nông nghiệp và nông dân là
lực lƣợng quan trọng góp phần tạo nên sự giàu có cho đất nƣớc ta.
Cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chống thực dân pháp thắng lợi, miền Bắc
bƣớc vào thời kỳ khôi phục kinh tế, trong lời kêu gọi nông dân thi đua sản
7
8
không phải trong một nền kinh tế thuần nông mà là trong một nền kinh tế hiện
đại, với sự phong phú về ngành nghề, đa dạng về sản phẩm….Theo Ngƣời:
Sản xuất phải toàn diện, sản xuất thóc là chính, đồng thòi coi trọng hoa màu,
cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi, thả cá và nghề phụ.
Nhƣ vậy, qua các quan điểm trên đây có thể thấy C.Mác, V.Lênin, Hồ
Chí Minh luôn đề cao vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Và
trên cơ sở những quan điểm đó, Đảng ta đã tiếp thu, vận dụng một cách có
sáng tạo trong quá trình đề ra đƣờng lối, chủ trƣơng cho việc xây dựng và
phát triển nông nghiệp, nông thôn của nƣớc ta trong giai đoạn mới.
1.1.3. Một số vấn đề cơ bản về chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1. Tiêu chí nông thôn mới
Quán triệt nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 7 (khoá X)
ra nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 đã nêu một cách toàn diện quan
điểm của Đảng ta về xây dựng NTM. Nghị quyết khẳng định nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vai trò lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn phải đƣợc giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta còn là khu vực giàu tiềm
năng và cần khai thác một cách có hiệu quả. Phát triển nông nghiệp, nông thôn
và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng,
từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Xây dựng
NTM là xây dựng kết cấu hạ tầng- xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch.
Ngày 16/4/2009, Thủ tƣớng chính phủ đã kí Quyết định số 491/QĐ-TTg,
ban hành bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí và đƣợc chia
- Tiêu chí 19. An ninh, trật tự xã hội đƣợc bền vững.
10
Ngày 20/2/2013 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành quyết định 342/QĐTTg sửa đổi 5 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết
định số 491/QĐ-TTg. Theo đó, 5 tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia và NTM
bao gồm: tiêu chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí 10 về thu nhập, tiêu chí 12
về cơ cấu lao động, tiêu chí 14 về giáo dục, và tiêu chí 15 về y tế. Cụ thể:
- Tiêu chí số 12 về “cơ cấu lao động”đƣợc đổi thành tiêu chí “tỷ lệ lao
động có việc làm thường xuyên”.
Theo đó, thay vì tính theo tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh
vực nông, lâm, ngƣ nghiệpthì quy định mới tính theotỷ lệ ngƣời làm việc trên
dân số trong độ tuổi lao động.
Đối với chỉ tiêu này, quyết định nêu rõ chỉ tiêu chung và từng vùng là
đạt từ 90% trở lên.
Về tiêu chí chợ nông thôn, nội dung "chợ đạt chuẩn của Bộ Xây
dựng" đƣợc thay thế bằng nội dung "chợ theo quy hoạch, đạt chuẩn theo
quy định".
- Quyết định cũng sửa đổi nội dung "phổ cập giáo dục trung học" trong
tiêu chí về giáo dục thành "phổ cập giáo dục THCS".
- Nội dung tỷ lệ ngƣời dân tham gia các hình thức Bảo hiểm y tế trong tiêu
chí số 15 về y tế đƣợc sửa đổi thành "Tỷ lệ ngƣời dân tham gia Bảo hiểm y tế"
với chỉ tiêu chung cho cả nƣớc đạt từ 70% trở lên, chỉ tiêu cho các vùng là đạt.
1.1.3.2. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Trong chƣơng trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày
28/10/2008 của Chính phủ) đã khẳng định: Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng NTM với nội dung chính là: Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân
Năm là: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả
ở nông thôn.
12
Sáu là: Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn.
Bảy là: Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cƣ dân nông thôn.
Tám là: Xây dựng đời sống văn hoá, thông tn và truyền thông nông thôn.
Chín là: Cấp nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn.
Mười là:Nâng cao chất lƣợng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính
trị - xã hội trên địa bàn.
Mười một là: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.
Chƣơng trình cũng đƣa ra vốn và nguồn vốn thực hiện. Một là: vốn ngân
sách nhà nƣớc (trung ƣơng và địa phƣơng), bao gồm vốn từ các chƣơng trình
mục tiêu quốc gia và chƣơng trình dự án hỗ trợ các mục tiêu đang triển khai
và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo. Hai là: vốn tín dụng bao
gồm tín dụng đầu tƣ phát triển và tín dụng thƣơng mại là khoảng 30%. Ba là:
vốn huy động đóng góp của cộng đồng dân cƣ là 10%.
Chủ thể thực hiện chƣơng trình là ngƣời nông dân và cộng đồng dân cƣ.
Họ đƣợc biết, đƣợc bàn, đƣợc quyết định, đƣợc làm, đƣợc giám sát và thụ
hƣởng. cấp uỷ, chính quyền xã, chi uỷ, trƣởng thôn là ngƣời trực tiếp chỉ đạo,
tổ chức. Trung ƣơng, tỉnh, huyện giữ vai trò lãnh đạo, hỗ trợ, tập huấn, hỗ trợ
nguồn lực, chỉ đạo, kiểm tra, rút kinh nghiệm, tổ chức thi đua gắn với khen
thƣởng.
1.2. Thực tiễn xây dựng nông thôn của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
trƣớc năm 2011
1.2.1. Khái quát chung về huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Sông Lô là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc tỉnh Vĩnh Phúc, có tổng
nhiên; trong đó đất đất trồng cây hàng năm là 4202,78 ha chiếm 67%, đất
trồng cây lâu năm 1946,97 ha chiếm 31%, đất có mặt nƣớc nuôi trồng thủy
sản 147,92 ha chiếm 2%, diện tích đất nông nghiệp.
Diện tích đất lâm nghiệp là 3921,86 ha chiếm 26% diện tích đất tự nhiên;
trong đó đất rừng trồng là 2795,57 ha, đất rừng phòng hộ 1126,29.
14
Đất chuyên dụng là 3326,72 chiếm 22% diện tích đất tự nhiên; trong đó
đất xây dựng cơ quan 16,04 ha, đất thủy lợi và mặt nƣớc chuyên dùng
1319,92, đất di tích lịch sử văn hóa 14,52 ha, đất quốc phòng an ninh 7,15 ha,
đất làm nguyên liệu vật liệu xây dựng 78,2 ha, đất nghĩa trang, nghĩa địa
97,71 ha, đất chuyên dùng khác 1760,78 ha.
Đất ở 478,86 ha chiếm 3% diện tích đất tự nhiên.Đất chƣa sử dụng
976,55 ha chiếm 6% trên tổng diện tích đất tự nhiên.
Đến thời điểm ngày 31/12/2012, diện tích đất nông nghiệp giảm 83,55 ha
trong đó giảm sang nhóm đất phi nông nghiệp là 83,55 ha.
Nhìn chung, sự biến động giữa các loại đất trên địa bàn huyện trong những
năm qua là không lớn, diện tích đất nông nghiệp giảm chủ yếu do sử dụng cho
các mục đích phát triển kinh tế của các tổ chức xã hội và các tổ chức kinh tế trên
địa bàn huyện và các dự án phục vụ cho cầu về đất ở tại địa phƣơng.
Khí hậu Sông Lô là vùng tiếp giáp giữa đồng bắc và tây bắc Việt Nam,
có đặc trƣng đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mƣa nhiều vào mùa hè
và hanh khô vào mùa đông. Khí hậu đƣợc chia làm bốn mùa rõ rệt: xuân - hạ thu - đông.
Nhiệt độ trung bình năm từ 22 -230c (cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và lạnh vào
tháng 12, 1, 2). Nhiệt độ cao nhất là 400c, thấp nhất là 4 - 70c. Số giờ nắng trung
bình 6 - 7h/ngày vào mùa hè, 3 - 4h vào mùa đông. Tổng số giờ nắng là 1.450 1.550 giờ. Lƣợng mƣa trung bình năm từ 1.500 - 1.700mm, tập trung chủ yếu từ
tháng 6 đến tháng 8, tháng cao nhất lên đến 355mm (tháng 8), thấp nhất chỉ có
8,3mm (tháng 12). Mƣa lũ tập trung gây ngập úng vùng trũng, sạt lở vùng gò
Phần lớn lao động tập trung trong khu vực nông lâm - ngƣ nghiệp.
Huyện Sông Lô có dân số 93.065 ngƣời, trong đó dân số trung bình nông
thôn là 89.789 ngƣời, dân số trung bình thành thị 3.277 ngƣời, bằng 3,52%
dân số nông thôn, điều đó cho thấy lao động trong khu vực nông thôn vẫn
chiếm tỷ lệ lớn.
16
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ và hài hòa với tốc độ tăng
trƣởng kinh tế. Sự nghiệp giáo dục - đạo tạo tiếp tục phát triển, có 100% trẻ 5
tuổi ra lớp, giáo dục phổ thông đã có 37/37 trƣờng đạt chuẩn, 100% trƣờng
học đã đƣợc kiên cố hóa, tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 95%, giáo viên đứng lớp đạt
chuẩn và trên chuẩn chiếm 99,7%.
Sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân có nhiều tiến
bộ, đã có 17/17 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 15/17 xã có bác sỹ, trẻ em trong
độ tuổi đƣợc tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin đạt 97,9%. Công tác khám
điều trị cho ngƣời nghèo, đối tƣợng chính sách đƣợc chú trọng, các dịch vụ y
tế ngoài công lập phát triển nhanh và đƣợc quản lý chặt chẽ đảm bảo phục vụ
cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Đời sống văn hóa, thể thao ở cơ sở phát triển mạnh, công tác tuyên
truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng nếp sống văn minh, gia đình
văn hóa đƣợc triển khai thƣờng xuyên và sâu rộng bằng nhiều hình thức khác
nhau, tỷ lệ hội gia đình văn hóa đạt 76,1%, thôn, làng văn hóa đạt 54,9%. Các
hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, lễ hội truyền thống đƣợc bảo
tồn và ngày càng phát triển. Công tác xã hội hóa việc bảo tồn các di tích và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đƣợc trú trọng thƣờng xuyên.
Công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, khuyến khích làm giàu
đƣợc tập trung chỉ đạo và đạt kết quả tốt. Nhiều chƣơng trình, chính sách
đƣợc thực hiện cho ngƣời nghèo nhƣ: dạy nghề cho ngƣời nghèo, vay vốn tạo
NTM, huyện Sông Lô đang cố gắng nỗ lực để trở thành huyện đi đầu của tỉnh
về thực hiện xây dựng NTM nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội…
1.2.2.Tình hình xây dựng nông thôn của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc đồng thời thấm nhuần tƣ tƣởng
chỉ đạo của Đảng uỷ, Ban thƣờng vụ huyện uỷ đã chỉ đạo các cấp, các ngành
bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là thực hiện công cuộc
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Với những quyết sách hợp lí để xây dựng
và phát triển nông thôn đã đƣa nông nghiệp, nông thôn huyện đã có những
bƣớc khởi sắc, đời sống thay đổi lớn so với những giai đoạn trƣớc đó.
18
Sông Lô là huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, có
tổng diện tích đất tự nhiên là 150,32 km2. Dân số thời điểm 31/12/2010 là
89.771 ngƣời.
Từ khi thành lập huyện đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các
dân tộc trong huyện đã đoàn kết, tập trung trí tuệ và các nguồn lực cho phát
triển kinh tế xã hội; nền kinh tế của huyện phát triển nhanh và ổn định, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tích cực, cơ sở hạ tầng từng bƣớc đƣợc củng
cố, kiện toàn.
Về phát triển nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp đƣợc xác định là nhiệm vụ trọng tâm, ban
thƣờng vụ huyện uỷ đã tập trung cao độ trí tuệ, kinh nghiệm chỉ đạo quyết liệt
để duy trì tốc độ phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định an ninh lƣơng thực và
không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.
Ban chấp hành, ban thƣờng vụ huyện uỷ đặc biệt quan tâm chỉ đạo toàn
diện phát triển nông nghiệp, nông thôn, triển khai sâu rộng Nghị quyết số 03NQ/TU của Tỉnh uỷ về nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông
dân giai đoạn 2006- 2010, định hƣớng đến năm 2020; Chỉ đạo thực hiện có
Bên cạnh cây lúa, loại cây công nghiệp dài ngày có diện tích và sản
lƣợng lớn của huyện là cây mía, cây nhãn, vải thiều đem lại giá trị kinh tế cao
cho huyện. Ngoài ra, ở huyện cũng trồng một số cây công nghiệp dài ngày
nhƣ cam, chanh nhƣng sản lƣợng không đáng kể, chủ yếu phục vụ nhu cầu
cho nhân dân trong huyện.
Chăn nuôi là thế mạnh của huyện luôn đƣợc quan tâm. Các cấp uỷ đảng
từ huyện đến cơ sở chỉ đạo tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia
súc, gia cầm; so với năm 2006: đàn trâu tăng 2,2%; đàn bò tăng 7,8%; đàn lợn
tăng 26,1%; đàn gia cầm tăng 15,5%. Trong những năm gần đây, phong trào
chăn nuôi các loại động vật có giá trị kinh tế cao nhƣ nhím, rắn...trên địa bàn
20