LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM với QUÁ TRÌNH đổi mới tư DUY KINH tế GIAI đoạn 1979 1986 - Pdf 38

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế là một trong những lĩnh vực rất cơ bản, có tầm quan trọng đặc
biệt đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người . trong xã hội có giai
cấp, cơ sở kinh tế có ý nghĩa quyết định đến kiến trúc thượng tầng chính trị và
tồn tại xã hội. Chính vì vậy, tư duy, đường lối, chính sách kinh tế của mỗi giai
cấp, chính đảng cầm quyền bao giò cũng giữ vị trí nền tảng quan trọng, là nhân
tố xét đến cùng chi phối và quyết định trình độ phát triển kinh tế cua mỗi quốc
gia, dân tộc và mỗi chế độ xã hội.
Đối với Việt Nam, trong quá trình tồn tại và phát triển, chúng ta đã kiến
tạo nên một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước rất đặc trưng của xứ sở
nhiệt đới Đông Nam á. Đặc biệt, từ khi có đảng đến nay, trên cơ sở phát huy
truyền thống, sức sáng tạo của nhân dân trong lao động sản xuất, nền kinh tế
độc lập tự chủ của đất nước ngày càng được xây dựng và củng cố, góp phần to
lớn tạo nên thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ
thuật cho cả nước quá độ lên CNXH.
Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới trên đất nước ta
đã và đang giành được những thành tựu to lớn, rất quan trọng, đưu nước ta ra
khoie khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước sang thời kỳ phát triến mới, thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thắng lợi của cách mang Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân hàng
đầu quan trọng nhất và quyết định nhất là do đảng ta có đường lối độc lập, tự
chủ và sáng tạo. Trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bằng bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng ta đã
thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, hoạch định đường
lối đúng đắn, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đất nước và xu thế thời đại.




3

Đức Bình (2003), Về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt N am, Nxb
CTQG, Hà Nội…
Có những công trình nghiên cứu dưới dạng sách chuyên luận, chuyên
khảo, báo chí, tham luận khoa học đề cập đến vấn đề trên, điển hình như: Hữu
Thọ (1987), Đổi mới tư duy-Nông nghiệp phải thực sự là mặt trận kinh tế hàng
đầu, Nxb Sự thật, Hà Nội; Nguyễn Sinh Cúc (1991), Thực trạng nông nghiệp,,
nông thôn và nông dân Việt Nam 1976-1990, Nxb Thống kê, Hà Nội; Lê Đăng
Doanh (1996), Cơ sở lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt
nam, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học kinh tế, Nxb CTQG, Hà Nội…
Dưới góc độ chuyên ngành Lịch sứ Đảng đã có một số đề tài, luận văn,
luận án nghiên cứu về đổi mới kinh tế và TDKT như: Đoàn Ngọc Hải (1995),
Công cuộc đổi mới với sự phát triển nhận thức về con đường xây dựng CNXH
của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-1994), Luận án Phó Tiến sĩ khoa học
Lịch sử, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Văn Lượng (2001),
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới từng phần, tiến lên đổi mới toàn
diện,, đồng bộ và triệt để thời kỳ 1979-1986, Luận văn cao học, Học viện
Chính trị quân sự; Nguyễn Văn Sự (2006),Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
công cuộc đổi mới đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội từ 1986
đến 1996, Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,
Hà Nội… Song, các công trình đó chủ yếu đề cập tới quá trình đổi mới nói
chung, chưa đi sâu luận giải và làm sáng tỏ quá trình đổi mới TDKT với tư
cách là một vấn đề nghiên cứu cụ thể. Tuy vậy, đó cũng là những tài liệu quý
và là cơ sở khoa học để tác giả kế thừa, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của
mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiêm cứu của đề tài
* Mục đích:

6 ý nghĩa đề tài
-Kêt quả nghiên cứu bước đầu của đề tài có thể lam cơ sở tổng kết qua
trình Đảng lãnh đạo và chỉ đạo hoat động kinh tế trong công cuộc đổi mới


5

-Đề tài sẽ là tài kiệu tham khảo phục vụ nghiên cứu,giảng dạy môn lịch
sử Đảng công sản Viêt Nam trong các nhà trương quân sự
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu,kết luận,danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục,đề tài
kết cấu thành 2 chương,4 tiết
Chương 1
TÍNH TẤT YẾU VÀ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY KINH TẾ CỦA
ĐẢNG TỪ 1979 ĐẾN 1986
1.1 Tính tất yếu đổi mới tư duy kinh tế của Đảng.
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chi Minh về
tư duy kinh tế trong TKQĐ lên CNXH.
TDKT mới, khoa học biện chứng là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong
hoạt động nhận thức và lãnh đạo kinh tế của chính đảng vô sản. Nói đến TDKT
là nói đến trình độ nắm bắt các quy luật kinh tế khách quan, nói đến việc suy
nghĩ theo đòi hỏi của các quy luật đó và áp dụng phù hợp với điều kiện cụ thể
của đất nước; là quá trình tìm tòi sáng tạo các ý kiến mới, các biện pháp và
cách làm mới nhằm mang lại hiệu quả trong thực tiễn.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, trình độ sản xuất vật
chất hay sức mạnh kinh tế là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá trình độ phát triển
của xã hội loài người, đồng thời cũng là nhân tố cơ bản quyết định cuối cùng sự
thắng lợi của một chế độ xã hội nhất định. Và, CNXH muốn chiến thắng được
CNTB, muốn xác lập được sự tồn tại của mình, tất yếu phải tạo ra một năng
suất lao động lớn hơn, phải phát triển một nền kinh tế đạt trình độ cao trên cơ

chế độ tư hữu và sở hữu tư nhân TBCN là một quá trình lịch sử do chính quy
luật khách quan quyết định. Tư tưởng cơ bản đó còn được phản ánh cụ thể
trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, khi trả lời câu hỏi:
“Liệu có thể xoá bỏ chế độ tư hữu ngay lập tức được không?”, Ph. Ăngghen
quả quyết: “Không, không thể được, cũng như không thể làm cho LLSX có tăng
lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu; cho
nên... chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần và chỉ khi nào đã tạo


7

nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi
ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu” [33, 469]. Đối với thời đại sau C.MácPh.Ăngghen sống và đối với các nước trình độ phát triển thấp kém, TDKT trên
đây của các ông vẫn còn sức sống khoa học và giá trị thực tiễn, chỉ khác ở hình
thức, biện pháp thực hiện chủ trương ấy mà thôi. Vì thế lời căn dặn của các ông
rằng “Trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy sẽ dĩ nhiên khác nhau
rất nhiều” [33, 627], đối với mỗi chúng ta hiện nay - vẫn còn có giá trị thực
tiễn quý báu. Đặc biệt, đối với những nước mà nền sản xuất nhỏ là phổ biến,
tiến lên CNXH thì quá trình xoá bỏ tư hữu, cải tạo các thành phần kinh tế càng
lâu dài và phức tạp hơn. Nếu không nhận thức được vấn đề này mà nóng vội
xoá bỏ ngay, xoá bỏ sớm sở hữu và các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư
nhân TBCN - là trái với quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát
triển của LLSX.
V.I.Lênin, lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tiếp tục
sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, đã có những dự báo khoa học và phát
triển TDKT mácxít trong TKQĐ lên CNXH.
Trước hết, theo Lênin, đặc điểm kinh tế nổi bật nhất trong TKQĐ là “còn tồn
tại nhiều thành phần kinh tế”, nghĩa là còn tồn tại cả hai kết cấu kinh tế - xã
hội: TBCN và XHCN. Các thành phần kinh tế này đan xen, hổ trợ, tác động lẫn
nhau cả trong sản xuất và lưu thông, cả trên quy mô sản xuất, trình độ kỷ thuật,

- Xây dựng hệ thống kinh tế và quản lý kinh tế trong TKQĐ.
TDKT mới trong sự nghiệp xây dựng CNXH của giai cấp vô sản còn
được minh chứng sinh động qua thực tiễn nước Nga. Sau Cách mạng Tháng
Mười, Lênin và Đảng Bônsêvích thực hiện “Chính sách cộng sản thời chiến”
(1918- 1920), một giải pháp tình thế để thích ứng với tình trạng không bình
thường của nền kinh tế mà nhờ đó, nước Nga đứng vững được trước vô vàn thử
thách. Song việc áp dụng quá lâu chính sách đó đã chứa đựng những sai lầm về
lý luận mà sau này chính Lênin đã dũng cảm tự phê phán và quyết tâm từ bỏ.
Mùa xuân 1921, TDKT mới của Đảng Bônsêvích Nga được hình thành với việc
áp dụng “Chính sách kinh tế mới” (NEP) thay cho “Chính sách cộng sản thời


9

chiến” vốn chứa đựng nhiều yếu tố không phù hợp và kìm hãm sản xuất, mở
đầu thời kỳ cải cách.
Trong NEP, Lênin đã chỉ ra những sai lầm trước đó của Đảng Bônsêvích trong
lãnh đạo kinh tế, đó là: Đã áp dụng phương thức mệnh lệnh hành chính tập
trung quan liêu, chỉ thiên về ý chí chủ quan và quyền lực nhà nước để xây dựng
cơ sở vật chất kỷ thuật của CNXH theo kiểu trực tiếp, đi ngay tới chủ nghĩa
cộng sản; không tính đến sự chế ước của hoàn cảnh lịch sử của nước Nga lạc
hậu; không chú trọng thực hiện lợi ích của người lao động - mà họ là cả một
biển lớn những người tiểu nông đang mong đợi lợi ích thường nhật hằng ngày
sau cách mạng. Rõ ràng, nhận thức sai quy luật, hoạt động không đúng quy luật
khách quan thì tất yếu nền kinh tế sẽ trì trệ và khủng hoảng sẽ phát sinh.
Lênin đã chỉ rõ: Cần phải chuyển sang mô hình quá độ gián tiếp cho phù hợp
với sự phát triển rút ngắn bằng cách quan tâm đến lợi ích thiết thân của người
lao động, phát triển sản xuất, kinh tế hàng hoá, dùng đòn bẩy lợi ích kinh tế, áp
dụng các biện pháp táo bạo vào mục đích xây dựng CNXH. Tuy nhiên, “chính
sách kinh tế mới không thay đổi kế hoạch kinh tế thống nhất của nhà nước và

lâu dài nhằm xây dựng chế độ mới dân chủ nhân dân theo con đường XHCN.
Quan niệm về sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần còn được Người
phát triển rõ thêm trong hiện thực xây dựng CNXH ở miền Bắc. Người chỉ rõ
đặc điểm “to nhất” của miền Bắc khi đi lên CNXH là từ một nền nông nghiệp
lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN.
Căn cứ khách quan đó quy định tính chất phức tạp, khó khăn của sự nghiệp cải
tạo và xây dựng kinh tế CNXH. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý
đến việc tìm kiếm và lựa chọn hình thức, bước đi phù hợp trong phát triển kinh
tế XHCN: “Chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo
tốc độ nào để tiến dần lên CNXH” [31, 494]. Người đòi hỏi phải có kế hoạch rõ
ràng, kế hoạch lập ra phải chắc chắn và cân đối; chớ đem chủ quan của mình
thay cho thực tế. Về cách làm, “muốn đỡ bớt mò mẫm, muốn đỡ phạm sai lầm,
thì chúng ta phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp dụng những kinh
nghiệm ấy một cách sáng tạo” [31, 494]; chống dập khuôn, giáo điều, chủ quan


11

duy ý chí. Người đưa ra kết luận: Nếu muốn công nghiệp hoá gấp thì là chủ
quan; cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp; làm trái với Liên Xô
cũng là mácxít. Mặt khác, theo Người, chúng ta cũng không máy móc theo kinh
nghiệm của Trung Quốc: “Trước mắt, chúng tôi không định tổ chức “công xã
nhân dân”. Chúng tôi có kế hoạch hợp tác nông thôn, tăng gia sản xuất và cải
thiện hơn nữa đời sống của nhân dân” [38, 308- 309]. Trong chỉ đạo phát triển
kinh tế, Người luôn nhắc nhở phải có cách làm thiết thực, không nên tổ chức
quá to, vì quá to khó làm, mà làm sẽ chệch choạc dễ thất bại.
Trong tiến trình xây dựng cơ sở kinh tế cho CNXH, Hồ Chí Minh coi phát triển
khoa học và kỹ thuật là một trong những điều kiện then chốt để xoá bỏ nghèo
nàn và lạc hậu. Người nhận định rằng: “Thời đại chúng ta bây giờ là thời đại
vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, thời đại

to lớn mang tầm vóc và dấu ấn của một thời đại cách mạng.
- Trước hết, đó là sự bùng nổ và phát triển mau lẹ của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ hiện đại, tạo bước chuyển biến căn bản và thúc đẩy mạnh mẽ
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi toàn cầu.
Cuộc cách mạng này bắt đầu từ giữa thế kỷ XX và phát triển cho đến ngày nay.
Xét đến cùng, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là sự nhảy vọt về
chất trong tiến trình phát triển của LLSX, làm cho khoa học trở thành LLSX
trực tiếp. Năng suất lao động, khối lượng sản phẩm ngày càng cao hơn và chất
lượng tốt hơn, bảo đảm ngày càng nhiều nhu cầu đời sống con người. Hàm
lượng chất xám và trí tuệ khoa học của con người được kết tinh trong sản phẩm
hàng hoá nhiều hơn; lao động trí óc thay thế lao động chân tay, máy móc dần
thay thế sự hiện diện của con người trong quá trình sản xuất. Nói về cuộc cách
mạng này, có người đánh giá như là “sự phát minh ra nông nghiệp trong thời
đại đồ đá mới”, và hậu quả của nó sẽ sâu đậm hơn bất kỳ sự thay đổi xã hội nào
mà chúng ta đã trải qua; làm rung động cả bề mặt và chiều sâu của nhân loại,
tác động một cách toàn diện, sâu sắc và mạnh mẽ không chỉ đến tự nhiên, xã
hội mà ngay cả con người.


13

Dưới sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của cuộc cách mạng đó, “thế giới ngày
nay đang lao vào cuộc chạy đua kinh tế sôi nổi, xu thế quốc tế hoá ngày càng
trở thành xu thế chi phối sự vận động của thế giới không chỉ về mặt kinh tế mà
cả về chính trị- xã hội” [6, 18-19]. Tình hình này dẫn đến sự tác động hai mặt:
Một mặt, sẽ tạo ra những thời cơ, thuận lợi cho những nhiều quốc gia, dân tộc
nếu biết nắm bắt và tận dụng sức mạnh của nó; mặt khác, cũng tạo ra nhiều khó
khăn thách thức gay gắt, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế đối với
những nước kém phát triển, nếu không biết kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh
tế cho phù hợp với xu thế phá triển của LLSX thời đại.

cho các vùng, các khu kinh tế trọng điểm...nhằm khai thác triệt để, có hiệu quả
các lợi thế so sánh của nền kinh tế quốc gia.
Về QHSX, CNTB có sự điều chỉnh toàn diện cả ba mặt của nó là quan hệ sở
hữu, quan hệ tổ chức quản lý và điều chỉnh phân phối sản phẩm lao động; áp
dụng rộng rãi các biện pháp cổ phần hoá, quốc tế hoá về kinh tế; tiến hành điều
chỉnh, sửa đổi một số chính sách xã hội như chú trọng giải quyết việc làm, tăng
tiền lương cho người lao động, sử dụng một phần tài chính cho hoạt động phúc
lợi xã hội và trợ cấp thất nghiệp...
Như vậy, trong thời kỳ mới của xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, CNTB
hiện đại đã nhanh chóng đổi mới tư duy, đường lối và chính sách kinh tế. Nhờ
sự điều chỉnh, thích nghi đó, nền kinh tế TBCN không những đã vượt qua được
khó khăn, trì trệ, khủng hoảng chu kỳ, mà còn hình thành và phát triển một nền
sản xuất hiện đại. Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử CNTB mà trình độ sản
xuất vật chất đạt khối lượng kếch sù và chất lượng cao như thời kỳ này. Mâu
thuẫn xã hội tư bản có phần dịu bớt, chặn đứng cơn bão suy thoái và khủng
hoảng kinh tế chu kỳ, kéo dài thêm sự tồn tại và sức sống của CNTB trên hành
tinh chúng ta. Có thể nói: “Sự điều chỉnh, thích nghi của CNTB được xem là
những gợi suy cho các đảng cộng sản về sự điều chỉnh chiến lược kinh tế – xã
hội của mình cho phù hợp để CNXH đứng vững, phát triển trong điều kiện
mới” [6, 20].


15

- Sự tác động, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế và xu hướng cải cách,
cải tổ ở các nước XHCN.
CNXH hiện thực từ một nước (Liên Xô) trở thành hệ thống thế giới, với lịch sử
tồn tại hơn 70 năm (1917 – 1991), đả trải qua một thời kỳ phát triển huy
hoàng, đạt nhiều thành tựu to lớn, là nhân tố thúc đẩy tiến trình phát triển của
cách mạng thế giới và tiến bộ lịch sử. Tuy nhiên, từ cuối những năm 70 của thế

ra ở các nước XHCN với những tên gọi khác nhau. Trung Quốc là nước XHCN
đầu tiên “dũng cảm” đổi mới TDKT (từ tháng 12/1987 và kéo dài những năm
sau đó), đã mang lại những khởi sắc rất đáng ghi nhận. ở Liên xô, công cuộc
cải tổ kinh tế bắt đầu từ tháng 4/1985 với chiến lược “tăng tốc”; sau đó làn
sóng cải tổ kinh tế lan toả khắp các nước Đông Âu XHCN. Như vậy, cải cách,
cải tổ, đổi mới cả về nhận thức lý luận và hành động thực tiễn, cả về đường lối
chính trị lẫn TDKT đã và đang thự sự là xu thế khách quan đối với hệ thống
XHCN hiện thực. Cải cách, cải tổ, đổi mới nghĩa là “cách mạng”, không đổi
mới nghĩa là “chết”. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Liên Xô tại Đại hội lần thứ XXVII (3/ 1986) nhấn mạnh: Chính tình
hình kinh tế và chính trị cụ thể mà chúng ta đang sống, chính giai đoạn đặc biệt
của quá trình kịch sử mà xã hội xô-viết và toàn thế giới đang trải qua đều đòi
hỏi những người cộng sản phải có tinh thần sáng tạo, đổi mới, phải tìm cách
vượt qua khỏi khuôn khổ những khái niệm quen thuộc nhưng đã lỗi
thời...Chúng ta không thể tiến lên được một bước nào nếu không tập làm việc
theo lối mới, không khắc phục được thói bảo thủ và hũ hậu với mọi biểu hiện
của chúng, nếu mất lòng dũng cảm đánh giá tình hình một cách tỉnh táo, nhìn
nhận sự vật đúng như nó tồn tại [27,11-12].
1.1.3. Tình hình kinh tế nước ta trước năm 1979
Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành
thắng lợi hoàn toàn, mở ra một trang sử mới của cách mạng Việt Nam, kỷ
nguyên cả nước độc lập thống nhất cùng đi lên CNXH. Tuy vậy, bước vào
TKQĐ lên CNXH nước ta chịu sự quy định, chi phối bởi những đặc điểm rất


17

cơ bản, đó là: đất nước đang trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn
phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển
TBCN; hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới để lại

cho nông nghiệp không ngừng tăng lên, đạt mức cao nhất (chiếm tỉ trọng từ 1923%), song năng suất lúa lại giảm đến mức thấp nhất: từ 22,3 tạ/ha (1976)
xuống 19,4 tạ/ha (1977), 17,5 tạ/ha (1978)...[26,49]. Như vậy, tốc độ sản xuất
và năng suất lao động giảm theo thời gian, đó là dấu hiệu của sự trì trệ, đi
xuống của nền sản xuất. Trong bối cảnh đó buộc nhà nước phải nhập khẩu
lương thực ngày càng lớn, tạo thêm gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân. Thực
tiễn khắc nghiệt đó đòi hỏi nông nghiệp phải tìm một hướng đi mới cho phù
hợp và hiệu quả hơn.
Hai là, nền kinh tế quốc dân luôn ở trong tình trạng thường xuyên thiếu hụt,
quy mô giảm sút ngày càng mở rộng.
Đây là một khó khăn lớn của nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ. Nguyên nhân là
do sản xuất tăng trưởng chậm, trong khi nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng
tăng, vì thế hầu hết các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời
sống đều phải nhập khẩu. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là, không chỉ các loại
hàng hoá công nghiệp cao phải nhập ngoại, mà ngay cả các loại hành hoá vốn
là thế mạnh của Việt Nam (gạo, vải mặc, giấy...) cũng mua từ ngoài vào. Tình
cảnh đó tạo nên sự mất cân đối trong cán cân xuất - nhập khẩu, trong đó tình
trạng nhập siêu là phổ biến và chủ yếu. “Tính chung cả nước thời kỳ 19761980, nền kinh tế luôn ở tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng: thu nhập quốc dân
trong nước chỉ bằng 80- 90% thu nhập quốc dân nói chung, toàn bộ quỹ tích
luỹ và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào viện trợ nước ngoài” [24, 16].
Đến năm 1979, tình hình kinh tế nước ta trở nên khó khăn gay gắt hơn bao giờ
hết. Sự trì trệ của nền sản xuất khiến nhiều nhu cầu tối thiểu trong đời sống
nhân dân không được đáp ứng. “Năm 1980 nhập 1576000 tấn lương thực; hàng
hoá tiêu dùng thiếu gay gắt... Bình quân lương thực đầu người năm 1976: 274
kg, năm 1980: 268 kg. Nhiều sản phẩm công nghiệp giảm hoặc tăng không


19

đáng kể” [26, 50]. Bảng so sánh một số sản phẩm những năm 1976- 1980 dưới
đây sẽ cho thấy rõ hơn khó khăn của nền kinh tế đất nước.


36 triệu hộp.
[26, 50]

- Ba là, nền kinh tế lâm vào tình trạng mất cân đối kéo dài, giá cả tăng vọt.
Đó là một điển hình phản ánh sự khó khăn dai dẳng của nền kinh tế nước ta
thời kỳ trước đổi mới. Biểu hiện cụ thể là sự chênh lệch cán cân xuất- nhập
khẩu, sự mất cân đối thu- chi, sự tăng vọt của giá cả tiêu dùng... Theo tính toán
của các chuyên gia kinh tế thì ở nước ta thời kỳ trước năm 1980, nhập gấp 4
đến 5 lần xuất; điển hình năm 1979 nhập 1526 triệu rúp - đôla, xuất 320 triệu
rúp - đôla. So sánh thu chi mất cân đối nghiêm trọng. Giá cả leo thang, năm sau
tăng so với năm trước: Năm 1976: 128%; năm 1987: 117%; năm 1978:
120,9%; năm 1979: 119,4%; năm 1980: 125% [26, 50]. Sản xuất trì trệ. Mỗi
năm giá cả tăng trên dưới 20% trong khi thu nhập quốc dân tăng bình quân
0,4%, như vậy là đạt mức lạm phát cao. Cơn sốt giá cả leo thang từng ngày,
càng về sau càng tụt khỏi sự quản lý của nhà nước. Tốc độ lạm phát tăng nhanh
đã tác động xấu đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đến cuối những năm 70,
nền kinh tế nước ta đã lâm vào cuộc khủng hoảng nặng nề.
- Bốn là, kinh tế đối ngoại lâm vào tình trạng cô lập, khép kín.
Sau tháng 4/1975, Mỹ và phương Tây thực hiện đã thực hiện chính sách bao
vây, cấm vận về kinh tế đối với Việt Nam. Do đó, nhiều nguồn viện trợ lớn mà
các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế đã hỗ trợ giúp nước ta khôi phục và phát
triển kinh tế nay bị cắt giảm rõ rệt. Đây thực sự là một khó khăn lớn đối với
nước ta sau chiến tranh vốn rất cần tài chính để vực nền kinh tế đi lên.


20

Đồng thời với những khó khăn do bị bao vây, cấm vận là tình trạng cô lập của
kinh tế đối ngoại. Chúng ta biết rằng,, chủ yếu được thực hiện với các nước

xã Thổ Tang, Ngũ Kiên (Vĩnh Phú) đầu những năm 70; ở Đồ Sơn (Hải Phòng)
đầu những năm 80. Đó là phong trào “xé rào” của nhiều xí nghiệp quốc doanh
ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm 1979 - 1980... Trong
thương nghiệp, tỉnh Long An đã tiến hành thí điểm cơ chế “một giá” trên toàn
tỉnh, mở đường cho cải cách giá và thương nghiệp trong những năm sau đó.
Như thế, có thể thấy “những kinh nghiệm, phương pháp, cách làm và lối tư duy
cũ đã không đủ để giúp chúng ta giải quyết thành công những nhiệm vụ
mới...Đổi mới tư duy, do đó đang trở thành mệnh lệnh của cuộc sống trong
thời điểm hiện nay của nước ta” [27, 17- 18]. Những quan niệm cũ, hiểu biết cũ
về cơ cấu và các thành phần kinh tế, về cơ chế quản lý và giá cả - tiền lương, về
quan hệ hàng hoá - tiền tệ và kế hoạch - thị trường... đang trói buộc chúng ta,
cản trở sự phát triển kinh tế. TDKT cũ nay rõ ràng là không còn phù hợp với
thực tiễn và yêu cầu cuộc sống. Chủ quan, nóng vội và bảo thủ cũng nảy sinh
từ tư duy lạc hậu đó.
Cách mạng chuyển giai đoạn mới và nhiệm vụ giải phóng mọi năng lực sản
xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng đất nước để phát triển mạnh mẽ LLSX
đòi hỏi bức bách phải có TDKT mới. Bởi vì, có đổi mới TDKT chúng ta mới
dám thừa nhận và thay đổi những chủ trương, chính sách đã bị cuộc sống bỏ
qua, mới hình thành những cách làm đúng đáp ứng yêu cầu cuộc sống đòi hỏi.
Có đổi mới TDKT mới vận dụng đúng đắn quan điểm và chủ trương của Đảng,
với những hình thức và bước đi thích hợp làm cho QHSX luôn luôn phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX ở mỗi thời kỳ [

, ]. Đúng như đồng chí

Trường Chinh nói: “Chỉ có đổi mới cách nghĩ cách làm, đổi mới tư duy, nhất là
TDKT...chúng ta mới có khả năng thoát khỏi tình hình khó khăn gay gắt hiện
nay” [2,66].
1.2. Quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng từ 1979 đến 1986.
1.2.1. Thời kỳ 1979-1981.

nghiệp, nhằm trước hết bảo đảm vững chắc lương thực và thực phẩm, đồng
thời cung ứng nhiều nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản


23

xuất hàng tiêu dùng và tăng nhanh hành xuất khẩu” [t40, 360]. Để làm tốt
nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đó, Chính phủ cần ban hành các chính sách
cụ thể khuyến khích mạnh mẽ sức sản xuất trên các lĩnh vực chủ yếu:
Trước hết, đó là những chính sách thiết yếu trên lĩnh vực nông nghiệp. Theo
đó, cần giữ vững sự ổn định mức nghĩa vụ bán lương thực trong 5 năm; phần
còn lại bán cho Nhà nước với giá thoả thuận và được lưu thông tự do; khuyến
khích các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và gia đình xã viên, nông dân cá thể tận
dụng diện tích ruộng đất, hồ, ao còn bỏ hoang hoặc bỏ hoá. Khuyến khích các
cơ sở quốc doanh, tập thể va gia đình đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, ổn
định mức bán thịt lợn; phần còn lại bán cho Nhà nước với giá thoả thuận hoặc
lưu thông tự do [t40, 362]. Chính phủ cũng cần sửa đổi lại biểu thuế nông
nghiệp nhằm khuyến khích thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích; sửa lại giá
lương thực và giá các nông sản khác cho hợp lý để khuyến khích sản xuất và
mở rộng nguồn thu mua của Nhà nước; khuyến khích xuất khẩu nông sản của
các địa phương và cơ sở sản xuất; sửa đổi các phân phối, ăn chia trong nội bộ
hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định suất định lượng, bảo đảm
nguyên tắc phân phối theo lao động...Về nhiệm vụ cải tạo XHCN đối với nông
nghiệp ở miền Nam, “phải nắm vững phương châm tích cực và vững chắc, hiện
nay phải nhấn mạnh vững chắc. Ở những nơi đã có hợp tác xã hoặc tập đoàn
sản xuất, phải kịp thời cũng cố. Tổ chức nông dân và hợp tác xã hoặc tập đoàn
sản xuất, phải theo đúng ba nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân
chủ” [t40, 363]. Đồng thời chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, cưỡng ép, mệnh
lệnh, làm ồ ạt gây ra thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân.
Trong lĩnh vực công nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng, Nghị quyết chỉ rõ: Phải

chuyển sang cơ chế quản lý mới theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh XHCN.
Cơ chế cũ vốn đã ăn sâu bám rễ lâu dài trong đời sống xã hội và cản trở, kìm
hãm động lực sản xuất bấy lâu nay; giờ đây lần đầu tiên Đảng ta chủ trương
xoá bỏ nó, thực sự là điều kiện tiên quyết và quan trọng để thúc đẩy sản xuất
vươn lên. Từ đây, Đảng thừa nhận sự tồn tại khách quan và vai trò to lớn của
các thành phần kinh tế “phi” XHCN; thừa nhận sự tồn tại của nền sản xuất


25

hàng hoá, tiền tệ và cơ chế thị trường trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta. Hội
nghị cũng đưa ra tiêu chí của một chính sách kinh tế đúng là: Năng suất lao
động tăng; nền kinh tế phát triển cân đối; đời sống nhân dân được cải thiện...Đó
là bước tiến quan trong trong TDKT của Đảng.
Có thể nói, Hội nghị Trung ương 6 là bước “đột phá đầu tiên” mở đầu sự
nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới TDKT nói riêng của Đảng. “Những chủ
trương, giải pháp mà Hội nghị đặt ra không chỉ nhằm khắc phục những khuyết
điểm, sai lầm, khó khăn trước mắt mà cón được ví như những giải pháp chiến
lược của Lênin trong “Chính sách kinh tế mới” (NEP)...Đó chính là sự điều
chỉnh có tính chiến lược từ nội dung, cơ chế, chính sách đến nhịp độ, bước đi
để xây dựng CNXH cho sát với tình hình thực tế” [6,26].
* Chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư (01/ 1981) về khoán sản phẩm đến
nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp.
Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6, Đảng ta tiếp tục có
những đổi mới quan trọng về TDKT nhằm khắc phục khó khăn, vực nền kinh
tế đi lên. Chỉ thị 100 (hay còn gọi là khoán 100) là một điển hình của quyết tâm
đó của Đảng. Nội dung cơ bản của chỉ thị này là vạch ra những nguyên tắc và
chế định mới trong việc cải tiến mạnh mẽ các hình thức khoán đối với xã viên
trong các hợp tác xã nông nghiệp, các đội, tổ đổi công...
Trước hết, chỉ thị nêu rõ mục đích của công tác khoán là: “Khuyến khích hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status