luận văn thạc sĩ: Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển ngành du lịch 2001 2010 - Pdf 34

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: Tiềm năng du lịch Việt Nam và chủ trương của Đảng về phát
triển du lịch đến năm 2000.
1.1. Vai trò của du lịch và tiềm năng du lịch Việt Nam.
1.1.1. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển đất nước
1.1.2. Tiềm năng du lịch của Việt Nam
1.2. Chủ trương của Đảng về phát triển du lịch và thực trạng du lịch
Việt Nam đến năm 2000
1.2.1 Chủ trương của Đảng và thực trạng du lịch Việt Nam 1960-1986
1.2.2 Chủ trương của Đảng và thực trạng du lịch Việt Nam 1986 - 2000
Chương 2: Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển ngành du lịch Việt Nam
thời kỳ 2001-2010
2.1. Chủ trương của Đảng và quá trình lãnh đạo phát triển du lịch
2.1.1. Thời kỳ 2001-2006
2.1.2. Thời kỳ 2006-2010
2.2. Du lịch Việt Nam sau 10 năm phát triển (2006-2010)
2.2.1. Thành tựu
2.2.2. Hạn chế
Chương 3: Kinh nghiệm bước đầu và một số kiến nghị tiếp tục thực hiện
chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam trong tình hình mới.
3.1. Một số kinh nghiệm bước đầu
3.2. Một số kiến nghị đối với việc phát triển ngành du lịch
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


2

MỞ ĐẦU

Với những định hướng đó, trong những năm 1996-2001, ngành du lịch
Việt nam đã có bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu, góp phần
quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước.
Bước vào thế kỷ XXI, để phát huy thế mạnh của ngành du lịch, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX chủ trương “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở
thành một ngành kinh tế mũi nhọn” nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ để khai
thác có hiệu quả tiềm năng, điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội, thúc đẩy hội nhập quốc tế; góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng và xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung.
Thực hiện chủ trương đó, tháng 7/2002, Nhà nước ta đã thông qua
Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam 2001-2010; ngành Du lịch đã triển
khai các Chương trình hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2001-2005 và
giai đoạn 2006-2010.
Trên cơ sở đánh giá khái quát kết quả thực hiện chủ trương phát triển
du lịch của Đảng sau 15 năm đổi mới, Luận văn “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo phát triển ngành du lịch 2001-2010” tập trung nghiên cứu quá
trình sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với ngành du lịch trong 10
năm mở cửa và hội nhập quốc tế gần đây, nêu ra những kinh nghiệm qúy báu,
những phương hướng nhằm tiếp tục phát triển ngành du lịch trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế (2010-2020).
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, ngành du lịch nước ta trở thành
vấn đề được quan tâm của Đảng, nhà nước ta và nhiều nhà khoa học. Đã có
nhiều chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, nhiều công trình khoa học liên quan đến
sự phát triển ngành du lịch ở nước ta.
Có thể nêu một số công trình chủ yếu sau: Nguyễn Đình Hòe (2001)
Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Thu Trang, Công Nghĩa


4

5

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
a. Mục đích
- Trình bày thực trạng của ngành du lịch nước ta và những chủ trương của
Đảng, chính sách của nhà nước về phát triển ngành du lịch trước năm 2001.
- Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo phát triển du lịch trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hội nhập quốc tế
(2001- 2010). Tổng kết nêu ra những bài học và đề xuất các giải pháp về tiếp
tục phát triển ngành du lịch trong thời kỳ mới (2011- 2020).
b. Nhiệm vụ
- Khái quát những chủ trương lớn của Đảng về phát triển ngành du lịch
từ khi đổi mới, nhất là thời kỳ 1996-2000; làm rõ thực trạng du lịch nước ta
những năm cuối thế kỷ XX.
- Làm rõ những chủ trương của Đảng, quá trình Đảng lãnh đạo phát
triển du lịch trong thời kỳ (2001- 2010).
- Tổng kết thành tựu, hạn chế của du lịch Việt Nam (2001- 2010); nêu
những kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp tiếp tục phát triển ngành du lịch
trong thời kỳ mới (2011- 2020).
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Luận văn tập trung làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong việc phát triển
ngành du lịch ở nước ta từ 2001 đến 2010. Đó là quá trình phát triển đường
lối, tổ chức thực hiện đường lối và kết quả của quá trình lãnh đạo của Đảng
phát triển du lịch ở nước ta (2001- 2010).
- Thời gian nghiên cứu rõ sự lãnh đạo của Đảng trong việc phát triển
ngành du lịch ở nước ta chủ yếu từ 2001 đến 2010.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế và văn hóa; căn cứ vào
đường lối phát triển ngành du lịch của Đảng ta trong thời kỳ 2001- 2020.

Chương 3: Kinh nghiệm bước đầu và một số kiến nghị tiếp tục thực hiện phát
triển ngành du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới.


7

Chương 1
TIỀM NĂNG DU LỊCH VIỆT NAM VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐẾN NĂM 2000
1.1. VAI TRÒ CỦA DU LỊCH VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VIỆT NAM
1.1.1. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển đất nước
1.1.1.1. Khái niệm
Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng văn hóa phổ biến ở mọi
quốc gia trên thế giới. Về mặt khoa học, hiện còn những định nghĩa và cách
hiểu khác nhau. Theo ngôn ngữ tiếng Anh du lịch nghĩa đơn giản là dã ngoại:
to tour , theo tiếng Pháp: tour - du lịch nghĩa là dạo chơi, vận động ngoài trời.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn, nhà khoa học Kuns (Thụy sĩ) cho rằng: “Du
lịch là hiện tượng những con người chỗ khác đi đến nơi không phải thường
xuyên cư trú của họ bắng phương tiện vận tải và dùng các dịch vụ du lịch ”
[52, tr. 29]
Hai nhà nghiên cứu con người Mỹ là Mathieson và Wall định nghĩa:
“Du lịch là sự di chuyển tạm thời của con người dân đến ngoài nơi ở và làm
việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi ở và các
cơ sở vật chất tạo ra để đáp ừng nhu cầu của họ ” [61, tr. 11]
Kết luận của Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1963 họp ở
Rooma, Italia khẳng định “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng
và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các
cá nhân và tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa
bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [61, tr. 12].
Nhà nghiên cứu Trần Nhạn định nghĩa “Du lịch là quá trình hoạt động

trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Còn khách du
lịch quốc tế là người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài
vào nước ta du lịch và công dân nước ta, người nước ngoài cư trú tại Việt
Nam ra nước ngoài du lịch.


9

Mục 1. Điều 4 Luật Du lịch năm 2005 còn đưa ra định nghĩa một số
hoạt động liên quan đến du lịch như:
- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường
hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
- Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân
kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan đến du lịch.
- Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích
lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị
nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ
bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
- Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có
tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài
nguyên du lịch.
- Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có vai
trò quan trọng trong hoạt động của đô thị.
- Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài
nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng
nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và
môi trường.
- Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu
tham quan của khách du lịch.

tương lai.
- Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc
văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
- Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc
với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá
truyền thống.


11

- Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân
văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch.
Theo các đinh nghĩa trên, du lịch được hiểu theo hai nghĩa chủ yếu là
hoạt động du lịch và ngành du lịch.
1.1.1.2. Vai trò của du lịch với sự phát triển đất nước
a. Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng
Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội. Hoạt động du lịch
thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân,
mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch
mà gián tiếp đối với các ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập
cho các cộng đồng dân cư địa phương.
Du lịch được xem xét là ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế của nhiều quốc gia. Có nhiều nhà kinh tế dự đoán thế kỉ 21 là thế kỉ
của ngành dịch vụ trong đó phát triển kinh tế du lịch đóng vai trò to lớn. Phát
triển kinh tế du lịch có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát
triển du lịch quốc tế sẽ làm tăng nhanh nguồn thu nhập ngoại tệ cho địa
phương và cho nền kinh tế đất nước. Du lịch là ngành xuất khẩu vô hình còn
là ngành xuất khẩu tại chỗ có hiệu quả kinh tế cao. Phát triển du lịch góp phần
thúc đẩy giải quyết việc làm cho người lao động đồng thời tạo động lực thúc
đẩy các ngành kinh tế có liên quan cùng phát triển cũng như sự phát triển của

thông vận tải, nhất là hằng không; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế cả nước và từng địa phương, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và vươn
lên làm giàu, mở rộng giao lưu văn hóa- thông tin giữa các vùng, miền trong
nước và với nước ngoài.
Điểm mấu chốt là thông qua du lịch đã kích cầu có hiệu quả cho các
ngành kinh tế khác phát triển. Thông qua du lịch các ngành kinh tế xã hội
khác phát triển; mở thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành
khác, thúc đẩy hoạt động thương mại và mang lại hiệu quả cao với hình thức


13

xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch. Thông qua du lịch mà môi trường tự
nhiên được cải thiện tốt hơn lên. Các ngành nông nghiệp, thuỷ sản, giao
thông, xây dựng, viễn thông, văn hoá nhờ phát triển du lịch mà những năm
qua đã có thêm động lực phát triển, diện mạo của nền kinh tế - xã hội được
cải thiện và nâng lên trình độ cao hơn.
b. Du lịch với chính trị, văn hóa, đối ngoại
Không chỉ có ý nghĩa kinh tế, văn hóa, du lịch có ý nghĩa tích cực đối
với các mặt chính trị, xã hội. Sự phát triển kinh tế du lịch sẽ tạo điều kiện
giúp cho du khách ngày càng có sự hiểu biết sâu rộng về đất nước, con người,
truyền thống, lịch sử, văn hoá của các dân tộc trên thế giới. Từ đó làm tăng
cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc nhằm mục đích vì nền hoà
bình và tiến bộ xã hội. Phát triển du lịch góp phần vào việc mở rộng và củng
cố mối quan hệ đối ngoại. Hình ảnh của mỗi nước, thông qua hoạt động du
lịch là thông điệp chuyển tải đến bạn bè thế giới làm tăng sự hiểu biết của
nhân dân thế giới về đất nước.
Thông qua tiếp xúc với con người nơi khác, dân tộc khác, tuy vẫn có
tác động tiêu cực, về lối sống “sính ngoại”, về tác động tiêu cực về môi
trường, về truyền bá văn hóa phẩm độc hại..., nhưng qua du lịch con người lại

1.1.2. Tiềm năng du lịch của Việt Nam
1.1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên.
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi phát triển kinh tế sôi động và có
nhiều tiềm năng du lịch, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
du lịch. Đó là sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên (bãi biển, hang động,
đảo, nước khoáng, lớp phủ thực vật, động vật quý hiếm, nhiều cảnh quan
thiên nhiên độc đáo...là điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch với thời
gian dài ngắn khác nhau.
- Địa hình có ý nghĩa đặc biệt đối với du lịch. Ở nước ta, về đại thể,
các dạng địa hình đặc biệt chủ yếu gồm có địa hình Karst (đá vôi), địa hình


15

bờ biển và địa hình đảo. Địa hình Karst thường tạo nên những điểm du lịch
hấp dẫn.
Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh quan phong phú,
đa dạng, có nhiều bãi tắm tốt còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô nhiễm, độ dốc trung
bình 2 – 30 độ, là một tiềm năng rất có giá trị cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và
vui chơi giải trí, được tập trung chủ yếu ở miền Trung. Các bãi biển nổi tiếng:
Trà Cổ, Bãi Cháy, Cát Bà, Cửa Lò, Vân Phong, Nha Trang, Vũng Tàu…
Nước ta có hơn 3.000 nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều đảo có
cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch: Quan Lạn, Cát Bà,
Phú Quốc, Côn Đảo…
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa nước ta tương đối thích hợp với cuộc sống
con người. Biên độ nhiệt trung bình năm cao nhất không quá 15 độ C. Từ Nha
Trang trở vào khoảng 5 độ C và ở Nam Bộ từ 2 – 3 độ C. Lượng mưa khá lớn
từ 1.500 đến 2.000 mm/năm. Trở ngại chính ảnh hưởng tới du lịch: Bão chủ
yếu ở các miền duyên hải, vùng biển và hải đảo; gió mùa đông bắc vào mùa
đông; gió bụi mùa khô; lũ lụt mùa mưa và một số hiện tượng thời tiết đặc biệt.

nhiên, bao gồm 27 vườn quốc gia, 44 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng
văn hoá, lịch sử, môi trường.
Tài nguyên du lịch nước ta phân bố tương đối tập trung, hình thành các
vùng du lịch điển hình trong toàn quốc. Mỗi vùng du lịch có một sắc thái
riêng, tạo nên các tuyến du lịch xuyên quốc gia, không lặp lại giữa vùng này
với vùng khác. Có nhiều vùng gần các đô thị lớn, các cửa khẩu quốc tế quan
trọng tạo thuận lợi cho việc đi lại, thăm viếng, ăn ở, không làm nhàm chán
khách du lịch.
Nhiều lãnh thổ du lịch của Việt Nam, nếu được qui hoạch và đầu tư
thích đáng sẽ trở thành những trung tâm du lịch lớn, có thể cạnh tranh với các
nước trong khu vực và thế giới. Đó là trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận
(Hà Tây, Ninh Bình, Phú Thọ, Hoà Bình…), vùng biển Hạ Long – Cát Bà –


17

Đồ Sơn (Quảng Ninh – Hải Phòng), vùng Đại Lãnh, Văn Phong, Nha Trang
(Khánh Hoà), đảo Phú Quốc (Kiên Giang), Huế – Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
Minh và đồng bằng sông Cửu Long…
1.1.2.2. Tài nguyên về di tích lịch sử – văn hoá
Di tích lịch sử – văn hoá là tài nguyên quan trọng hàng đầu của du lịch.
Cho đến nay cả nước có khoảng 4 vạn di tích các loại, trong đó có 2.715 di
tích được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng. Đặc biệt đã có những di tích lịch
sử – văn hoá được UNESCO công nhận là di sản của nhân loại: cố đô Huế
(năm 1993), phố cổ Hội An (năm 1999), thánh địa Mỹ Sơn (năm 1999)…
Hoàng Thành Thăng Long… Ngoài ra còn một số di tích khác đang đề nghị
UNESCO công nhận, như chùa Hương (Hà Tây), bãi đá cổ Sa Pa (Lào Cai),
Lễ hội Việt Nam hấp dẫn du khách không kém gì các di tích lịch sử –
văn hoá. Việt Nam là một dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều
quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hoá mang bản sắc

- Văn hoá dân tộc là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Nước ta có 54
dân tộc với những phong tục, tập quán độc đáo, các hoạt động văn hoá – nghệ
thuật đa dạng và rất đặc sắc; nước ta còn có hàng trăm làng nghề thủ công
truyền thống, những món ăn đậm đà bản sắc dân tộc…, những thứ đó khách
du lịch cũng rất yêu thích.
Nước ta còn có 117 bảo tàng, trong đó bảo tàng trung ương 6; bảo tàng
tỉnh và thành phố 79; bảo tàng chuyên ngành 32 (có 24 bảo tàng thuộc lực
lượng vũ trang). Tổng số hiện vật đang lưu giữ là 1.997.701, trong đó 87.515
hiện vật đã được trưng bày và 608.886 hiện đang được kiểm kê khoa học
(gồm cả 489 trống đồng).
Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động có kỹ thuật, thông minh,
bước đầu đã tiếp cận và làm quen với các hoạt động kinh doanh du lịch quốc
tế. Việc phát triển du lịch, trong tương lai sẽ tạo nhiều việc làm cho đất nước.
Với tất cả những thuận lợi đó, có thể khẳng định Việt Nam là một trong
những quốc gia có tiềm năng du lịch rất lớn.


19

1.2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ
THỰC TRẠNG DU LỊCH VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2000
1.2.1 Chủ trương của Đảng và thực trạng du lịch Việt Nam 1960-1986
1.2.1.1. Chủ trương của Đảng
Thời kỳ 1960-1975, trong điều kiện cả nước có chiến tranh, Đảng và
nhà nước ta chưa có điều kiện phát triển du lịch. Tuy nhiên để chuẩn bị lâu
dài, Đảng, nhà nước ta đã quyết định thành lập Công ty du lịch Việt Nam
Ngày 9 tháng 7 năm 1960, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số
26/CP thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương, mở
đầu cho sự hình thành và phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, hoạt động du lịch có bước phát triển

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) khởi xướng
công cuộc đổi mới toàn diện trên đất nước ta xác định. “Nhiệm vụ bao trùm,
mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn
định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần
thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường
tiếp theo”.
Quan điểm mới về kinh tế của Đảng là chuyển trọng tâm từ phát triển
công nghiệp nặng sang thực hiện ba chương trình kinh tế lớn về lương thực,
thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu trong những năm còn lại; coi đó
là nội dung công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Xác định xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, coi
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong phát triển du lịch, Đảng khẳng định: “Đi đôi với đẩy mạnh xuất
khẩu hàng hoá, chúng ta hết sức coi trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để
phát triển các hoạt động thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối, cung ứng tàu biển,
dịch vụ hàng không... Xóa bỏ ngay những chế độ, thể lệ, những thủ tục phiền


21

hà đang gò bó, hạn chế những hoạt động này”. “Phát triển rộng rãi các hoạt
động dịch vụ. Nhanh chóng khai thác các điều kiện thuận lợi của đất nước để
mở mang du lịch bằng nguồn vốn đầu tư trong nước và hợp tác quốc tế”.
Kể từ Đại hội VII, với đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa các quan
hệ đối ngoại với tinh thần "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển", các quan hệ
đối ngoại của nước ta được rộng mở. Việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức
quốc tế và khu vực càng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của ngành du
lịch. Văn kiện Đại hội VII nêu rõ “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, di

tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh.
Về phát triển du lịch, Đại hội VIII khẳng định: “Phát triển mạnh du
lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu
vực”. “Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng
với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh
thái môi trường. Xây dựng các chương trình và các điểm du lịch hấp dẫn về
văn hóa, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh. Huy động các nguồn lực
tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu
vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hóa và chất
lượng dịch vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau. Đẩy mạnh việc
huy động vốn trong nước đầu tư vào khách sạn. Cổ phần hóa một số khách
sạn hiện có để huy động các nguồn vốn vào việc đầu tư cải tạo, nâng cấp.
Liên doanh với nước ngoài xây dựng các khu du lịch và các khách sạn lớn,
chất lượng cao, đòi hỏi nhiều vốn. Chuyển các nhà nghỉ, nhà khách sang kinh
doanh khách sạn và du lịch”.
Thực hiện quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII Pháp
lệnh Du lịch ra đời năm 1999 thể chế hoá đường lối phát triển du lịch của


23

Đảng, là khung pháp lý cao nhất, là bước ngoặt quan trọng khẳng định vai trò
của ngành và tạo điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển đi vào nề nếp và
có định hướng phát triển rõ rệt.
1.2.1.2. Thực trạng du lịch Việt Nam
Thực hiện tư duy mới mà Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI
đề ra ngành du lịch đã có những chuyển biến tích cực tổ chức bộ máy quản lý
thống nhất ở cấp nhà nước là Tổng cục du lịch. Công tác quản lý Nhà nước về
du lịch được tăng cường, qui hoạch tổng thể về du lịch khẩn trương thực hiện

như nhu cầu ngày càng cao của khách mà số cơ sở lưu trú cũng ngày càng
tăng lên về số lượng cũng như chất lượng. Năm 2000 cả nước có 3.050 khách
sạn với tổng số 66.000 phòng phục vụ du khách. Tuy nhiên trong số khách
sạn đó, đến năm 2000 chỉ có chưa đầy 300 khách sạn được xếp hạng (từ 1 đến
5 sao).
Các cơ sở vui chơi giải trí đóng vai trò quan trọng trong việc kéo dài
thời gian lưu trú của khách và tăng hiệu quả kinh doanh. Nhìn chung, đây là
một khâu còn yếu trong các hoạt động kinh doanh du lịch ở nước ta. Các khu
vui chơi giải trí thường có quy mô nhỏ, hình thức đơn điệu, thiếu hấp dẫn và
chưa đủ để phục vụ nhu cầu của dân cư địa phương.
Số lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch tăng nhanh để đáp
ứng nhu cầu của sự phát triển, từ hơn 3,5 vạn năm 1992 lên 15 vạn năm
2001. Tuy nhiên, trừ một số cơ sở ở các thành phố lớn (Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…), còn lại số lượng và nhất là chất lượng lao động
có nhiều hạn chế.
Việc phát triển du lịch có liên quan đến nguồn vốn đầu tư. Ở nước ta
sau khi Luật Đầu tư ra đời, số vốn đầu tư của nước ngoài vào nước ta tăng lên
nhanh chóng. Đối với ngành du lịch, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời kì
1988 – 2000 vào khách sạn, du lịch là 230 dự án với tổng số vốn đăng kí đạt
hơn 7,4 tỉ, trong đó vốn pháp định gần 2,8 tỉ USD.


25

Chương 2
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM THỜI KỲ 2001-2010
2.1. Chủ trương của Đảng và quá trình lãnh đạo phát triển du lịch
2.1.1. Thời kỳ 2001-2006
2.1.1.1. Chủ trương của Đảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status