đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới 1986 2001 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN VĂN TÀI

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH THỜI KỲ ĐỔI MỚI ( 1986 – 2001 )

Nhận xét của Hội đồng khoa học cấp khoa

LUẬN VĂN THẠC SỸ

(ghi theo các tiêu chuẩn chấm điểm chương trình)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

………………………………………………………………
Mã số: 60.22.56
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS: Trình Mưu
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
Điểm số

Hà Nội - 2007




của ngành du lịch trong giai

đoạn 1996-

2001...............52
Chương 3: Thành tựu và những kinh nghiệm của Đảng trong quá
trình lãnh đạo và phát triển kinh tế du lịch
3.1. Những thành tựu và những hạn chế của kinh tế du dịch trong thời
kỳ đổi mới (1986-2001)..............................................................61
3.2. Những kinh nghiệm bước đầu của Đảng ta trong quá trình lãnh
đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1986 đến năm 2001 và một
số kiến nghị, giải pháp nhằm phát triển du lịch trong thời gian
tới................................................................................................70
Kết luận .............................................................................................83
Danh mục tài liệu tham khảo...........................................................86
Phụ lục ...............................................................................................92


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế, vấn đề xác định và phát triển
ngành kinh tế mang tính mũi nhọn để thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập và
phát triển có ý nghĩa quan trọng. Đây có thể xem là một trong những nhân tố
quyết định cho việc đảm bảo thành công của quá trình mở cửa và hội nhập
kinh tế quốc tế, góp phần quan trọng phát triển kinh tế đất nước tạo thắng lợi
cho sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng và xây dựng và bảo vệ
tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói chung.
Phát triển ngành kinh tế du lịch được Đảng ta xác định là một ngành
kinh tế mũi nhọn nhằm tạo đà, tạo động lực thúc đẩy những điều kiện để hội

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước làm cho dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng dân chủ văn minh”[24,tr.178].
Vì vậy, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng ta đối với ngành du lịch cũng
như lịch sử phát triển của ngành kinh tế này qua từng bước phát triển trong
thời kỳ đổi mới là một vấn đề được đặt ra, từ đó tôi chọn đề tài: “Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới (1986 –
2001)” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề phát triển du lịch và phát triển kinh tế du lịch ở nước ta nói
chung từ sau những năm đổi mới cho đến nay là đề tài thu hút sự quan tâm đặc
biệt của nhà nước, các địa phương, các cơ quan quản lý, lãnh đạo và nhiều nhà
khoa học trong nước.
Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12-1986) của Đảng đã đặt vấn
đề nhanh chóng khai thác thuận lợi của đất nước để mở mang phát triển du lịch
và nó trở thành vấn đề nhận được sự chú ý quan tâm đúng mức của Đảng. Đã
có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng liên quan đến sự phát triển kinh tế du
lịch như chỉ thị 46 CT/TƯ ngày 14-10-1994, thông báo 179 của Bộ chính trị...
Từ năm 1991 khi điều kiện quốc tế thay đổi, sự vận động của kinh tế quốc tế
2


tác động mạnh đến kinh tế nước ta việc phát triển kinh tế du lịch được Đảng ta
xác định là một ngành mũi nhọn cho sự phát triển và hội nhập đất nước. Đặc
biệt là khi quan hệ đối ngoại của nước ta được rộng mở việc Mĩ bỏ lệnh cấm
vận Việt Nam và việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực
càng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của kinh tế du lịch. Nhiều nhà khoa
học đã nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch ở nước ta liên quan đến đề tài
chủ yếu một số công trình sau:
Một số giải pháp nhằm phát triển doanh nghiệp du lịch ở Việt Nam hiện
nay. Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Lân.

càng quan tâm, hoàn thiện hơn chủ trương, biện pháp lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch. Chính vì lẽ đó mà tôi chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới (1986 – 2001)”.
Chúng tôi cho rằng, cần phải nhận thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư
duy kinh tế của Đảng ta trước xu thế hội nhập quốc tế, tạo ra những tiền đề
vững chắc cho sự phát triển kinh tế nước nhà trong quá trình hội nhập. Vì vậy,
việc tìm hiểu nghiên cứu làm rõ đường lối phát triển kinh tế – xã hội trong sự
nghiệp đổi mới nói chung và trong phát triển kinh tế ngành du lịch nói riêng là
nhiệm vụ trách nhiệm chung của mỗi thế hệ với nhiều chuyên ngành khác nhau
nhằm quan tâm chăm lo, đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước trong thời
kỳ mới để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
* Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu tìm hiểu một cách có hệ thống đường lối, chủ trương, chính
sách phát triển kinh tế du lịch của Đảng ta trong xu thế mở cửa và hội nhập
quốc tế từ năm 1986 đến năm 2001. Đó chính là quá trình phát triển nhận thức
tư duy kinh tế nói chung và nhận thức về phát triển kinh tế du lịch nói riêng
trong xu thế hội nhập quốc tế.

4


Từ đó làm rõ những quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế du lịch
và những đóng góp của kinh tế du lịch trong thời kỳ đổi mới.
Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm, kiến nghị và mạnh dạn đưa ra
những giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch những năm đầu thế kỷ XXI.

* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn trình bày một cách có hệ thống và khái quát tình hình kinh tế

Đảng đối với phát triển kinh tế du lịch.
Về thời gian của vấn đề nghiên cứu chỉ giới hạn từ khi đổi mới từ 1986
đến 2001 trong đó được chia thành hai giai đoạn (1986 – 1996) và (1996 –
2001).
5.Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận văn được nghiên cứu dựa trên những
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát
triển kinh tế của Đảng ta trong thời kì mở cửa hội nhập quốc tế, các chủ
trương, kết quả thực hiện của ngành trong thực tiễn.
Nguồn tài liệu chủ yếu của luận văn được sử dụng là các văn kiện Đại
hội của Đảng (VI, VII, VIII, IX), những chỉ thị, nghị quyết, hội nghị của Trung
ương Đảng, Nhà nước, những chủ trương quyết định của Tổng cục du lịch. Các
báo của Tổng cục Du lịch, của các sở du lịch… đều là những tài liệu quan
trọng đối với tôi khi nghiên cứu giải quyết vấn đề đặt ra.
Ngoài ra còn kế thừa, tham khảo các nội dung phương pháp nghiên cứu
của các nhà khoa học đi trước, các công trình khoa học, các sách báo tạp chí.
Những tri thức và phương pháp nghiên cứu này để hoàn thành luận văn của
mình.
Luận văn thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Do
vậy, tôi tuân thủ nguyên tắc phương pháp luận về việc kết hợp phương pháp
6


lịch sử với phương pháp lôgic, kết hợp duy vật biện chứng với duy vật lịch sử.
Đồng thời còn sử dụng một số phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh,
khái quát, thống kê… trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Phân tích một cách có hệ thống và làm rõ nội dung cơ bản của đường
lối phát triển kinh tế du lịch của Đảng ta trong thời kì mở cửa và hội nhập quốc
tế.

rộng cả vùng hải phận và không phận với nhiều vùng kinh tế biển hay những
quần đảo xa hay gần thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nước ta có trên 130 bãi
tắm lớn nhỏ trong đó có 20 bãi tắm đạt qui mô và tiêu chuẩn quốc tế đang từng
bước khai thác mang lại giá trị kinh tế cao nhất là sự kết hợp giữa các bãi biển
với các hòn đảo tạo nên giá trị tổng hợp to lớn.
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiều vùng núi, đồng bằng, hệ
động thực vật phong phú đa dạng. Vùng cao nguyên nước ta xen kẽ là các
thung lũng các cánh động bậc thang gắn với sự cần cù lao động của nhiều dân
tộc anh em. Rừng Việt Nam chiếm 43,8% diện tích đất đai với hệ động thực

8


vật phong phú có hơn 700 loài cây và nhiều loại động vật quí hiếm như voi hổ
báo, sơn dương, sao la… và trên 1 triệu loài chim.
Bên cạnh đó tạo hoá còn ban tặng cho Việt Nam một hệ thống hang
động với những đường nét và cảnh vật kỳ thú mang lại sự hấp dẫn đối với du
khách trong và ngoài nước như những hang Đầu Gỗ, hang Bồ Nâu, hang Trinh
Nữ, Tam Cốc, Bích Động, hang Bắc Pó, hang Lam Sơn, hang Thác Bờ, động
Thuỷ Tiên, động Tam Thanh, động Nhị Thanh... và đặc biệt là quần thể Hạ
Long là di sản văn hoá thế giới. Tiềm năng hang động của Việt Nam đã thu hút
nhiều du khách và đoàn nghiên cứu hang động của nước ngoài như Anh, Ba
Lan, Bỉ, Australia… Đây là điều kiện để quảng bá cho tiềm năng du lịch của
Việt Nam.
Ngoài ra, nhiều ngọn núi ở nước ta còn có những thác nước thơ mộng.
Hệ thống sông ngòi với những mạch nước ngầm, nước khoáng, chế độ thuỷ
văn phong phú thuận lợi cho việc phát triển du lịch bằng đường sông nước.
Thiên nhiên nước ta thực sự là sự ưu đãi to lớn đối với sự phát triển du
lịch của đất nước. Tài nguyên thiên nhiên đó đã trở thành niềm mơ ước khát
vọng của nhiều quốc gia để phát triển du lịch. Tuy nhiên nguồn tài nguyên đó

tạo nên những nét duyên dáng, hài hoà, đặc sắc trong bố cục cũng như trong
phong cảnh. Nhiều kiến trúc tôn giáo mà điển hình là các công trình bằng gạch
mà mang tính nghệ thuật có giá trị cao điển hình là “Tháp Chàm”, thánh địa
Mỹ Sơn, những công trình đó đã cho thấy sự giàu có, giản dị và tính độc lập
của trong nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Đó là các công trình nghệ thuật
mang tính tôn giáo như đình, chùa, đền, miếu, lăng tẩm của các vị vua, chúa,
thành quách… đều là những di vật có sức hấp dẫn lớn đối với mỗi du khách.
Các lễ hội, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền thống của các dân tộc ở
nước ta cũng rất đa dạng mang những nét đặc thù khác nhau. Trong điều kiện
hiện nay nước ta có 54 dân tộc anh em, tuy rằng một số lễ hội đã bị mai một
xong gần đây với chủ trương của Đảng ta là sự phát huy tính đậm đà bản sắc

10


dân tộc, nhiều lễ hội đã được khôi phục quảng bá để thu hút sự khám phá của
du khách.
Bên cạnh đó nét đặc trưng của âm nhạc Việt Nam cũng là di sản rất có
giá trị. Âm nhạc Việt Nam ngoài yếu tố truyền thống còn có sự tiếp thu ảnh
hưởng từ bên ngoài như Trung Quốc, Ấn Độ… Nhiều loại hình âm nhạc truyền
thống độc đáo kiểu tôn thờ tổ tiên hay trong các lễ rước, cúng bái… Các loại
hình âm nhạc dân gian truyền thống được gắn với vùng miền nhất định. Đặc
biệt trong thời gian vừa qua nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO ghi
nhận là di sản văn hoá thế giới.
Ngoài ra nghệ thuật đương đại của nước ta mang nhiều dấu ấn từ các di
sản của quá khứ được chứa đựng trong các ngành nghề thủ công như tranh
thêu đan, khảm trai, sơn mài, gốm... Việt Nam cũng là quốc gia có nghệ thuật
ẩm thực độc đáo với nhiều món ăn đặc sắc mang phong vị Á Đông ngày càng
thu hút sự tìm hiểu khám phá, thích thú của du khách.
Cùng với tài nguyên tự nhiên và nhân văn thì các di tích lịch sử gắn với

sinh thái ít bị ô nhiễm so với nhiều vùng du lịch trên thế giới. Có thể nói rằng
trên tất cả các phương diện vị trí địa lý địa hình, khí hậu thì nước ta là nước
được sự ưu đãi của thiên nhiên, là địa danh hấp dẫn nhiều loại hình khách du
lịch.
Không chỉ vậy, nước ta còn là quốc gia có dân số đông và có cơ cấu dân
số trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn. Hơn nữa cơ cấu lao
động trong các ngành nghề của nước ta hiện nay đang từng bước có sự chuyển
dịch hợp lý. Với lực lượng lao động đông đảo trong bối cảnh cung về lao động
trên thị trường, lao động Việt Nam nói chung và lao động trong ngành du lịch
nói riêng có tính cần cù, ham học hỏi, tiểp thu nhanh với những yếu tố mới
trong tác nghiệp và quản lý. Lao động nước ta có mức lương thấp, nên chi phí
lao động thấp, lực lượng dồi dào. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho du lịch
phát triển. Yếu tố con người trong kinh doanh du lịch ngày càng trở nên quan
trọng khi dịch vụ du lịch đòi hỏi ngày càng cao, giá trị gia tăng của dịch vụ

12


phụ thuộc chủ yếu vào lao động sống, đó là kỹ năng, tinh thần phục vụ, chất
lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên ngày du lịch.
Chính nguồn lao động dồi dào và ngành nghề khá đa dạng là nguồn cung
cấp to lớn cho ngành du lịch về vật tư, hàng hoá, dịch vụ cần thiết. Bên cạnh
đó chất lượng nguồn nhân lực đang từng bước được nâng cao, hiện nay cả
nước có 46 trường và trung tâm dạy nghề du lịch. Trong đó có 28 trường đại
học và cao đẳng có chuyên ngành du lịch và 26 trường trung học chuyên
nghiệp và trung tâm dạy nghề du lịch. Với sự giúp đỡ thiết thực của các nước
và các tổ chức quốc tế như Luxembourg, Tây Ban Nha, Singapore, Đức,...
1.2. Kinh tế du lịch trong nền kinh tế quốc dân.
1.2. 1. Vị trí, vai trò của kinh tế du lịch trong nền kinh tế quốc dân.
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một quốc gia.
Việc kết hợp hai quá trình chuyển dịch đã được coi là một thuộc tính của
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
những nước đang phát triển hiện nay trong đó có nước ta. Quy luật có tính phổ
biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới hiện nay là giá trị ngành
dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội và trong số
người lao động có việc làm.
Phát triển kinh tế du lịch đặc biệt là du lịch quốc tế thực chất là trao đổi
dịch vụ lao động giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp. Trong thời đại
của chúng ta việc phát triển kinh tế, du lịch nói chung nhanh hơn việc xuất
khẩu và sản xuất tổng sản phẩm quốc dân còn về giá trị ngành du lịch thế giới
sẽ đứng vị trí thứ ba sau xuất khẩu dầu lửa và xuất khẩu ô tô.
Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch phát triển rất nhanh. Theo
số liệu của tổ chức du lịch thế giới, hàng năm có tới 3 tỷ người đi du lịch. Điều
đó đòi hỏi các ngành kinh tế gắn liền với hoạt động du lịch như giao thông vận
tải, công nghiệp, thủ công nghiêp, nông nghiệp, ăn uống khách sạn… phải đáp
ứng nhu cầu khổng lồ của 80 triệu người du lịch bình quân mỗi ngày.

14


Việc tăng dòng người du lịch đòi hỏi không chỉ các ngành kinh tế mà về
phương diện lãnh thổ du lịch cũng có tác động nhất định, đặc biệt đối với
những vùng xa xôi nơi có nền kinh tế chậm phát triển nhưng có nhiều tiềm
năng thu hút khách du lịch. Thực tế cho thấy nhiều vùng đất trước đây được
coi là hoang vu hẻo lánh thì giờ đây trở thành khu du lịch nổi tiếng thu hút
nhiều khách du lịch, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể nhờ có việc làm
thêm tăng thu nhập cho gia đình.
Ở Việt Nam du lịch đã được xác định là ngành kinh tế tổng hợp, là một
trong những lĩnh vực kinh doanh đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế quốc

Nam tham gia vào AFTA, ASEAN, nhưng sự tham gia đó vẫn dừng ở phạm vi
hẹp, nhỏ cả về lĩnh vực lẫn quy mô, khối lượng... Trước yêu cầu của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước yêu cầu của phát triển kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta không thể không đẩy nhanh
tốc độ, quy mô hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần
thứ VIII và IX và X đều khẳng định phải đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới với quy mô rộng hơn và trình độ cao hơn.
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thì chúng ta mới tạo ra được
thế đứng mới trên thương trường quốc tế, mới hạn chế được những đối xử
không công bằng.
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta mới tranh thủ được nguồn vốn,
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta mới mở rộng được thị trường
xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm. Mở cửa hội
nhập do đó, không chỉ là để các doanh nghiệp của ta vươn ra, mà còn để các
doanh nghiệp nước ngoài đi vào sản xuất và kinh doanh ở nước ta.
Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu nội sinh của bản thân nền
kinh tế nước ta, chứ không phải do chúng ta bị o ép, bị bắt buộc. Thời cơ đang
đến, yêu cầu của chính bản thân đòi hỏi, không còn sự lựa chọn ưu việt nào
hơn. Vấn đề đặt ra là chúng ta lựa chọn như thế nào để vẫn hội nhập phát triển
mà vẫn bảo toàn trọn vẹn độc lập tự chủ, vẫn hội nhập mà không đánh mất
truyền thống, hội nhập mà an ninh trật tự xã hội được bảo đảm, hội nhập mà xã
hội lành mạnh và phát triển.
18


Chúng ta có nhiều lợi thế để bước vào hội nhập. Nếu biết vận dụng đúng
lợi thế, chúng ta sẽ tạo ra nhiều cơ hội tốt để hội nhập. Chúng ta có thế mạnh
về con người, về lao động với trí thông minh, nhanh nhẹn, chăm chỉ cần cù.

giao dịch thương mại, nhiều khi mất thời cơ, mất hàng, mất tiền. Nghị quyết
Trung ương 3 khoá VI ngày 29-06-1992 về chính sách đối ngoại và kinh tế đối
ngoại nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại. Tiếp đó Nghị quyết Đại
hội VIII (06-1996) chỉ rõ "Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố
môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước... đẩy
nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới".[21,tr.25]
Đến nay, chiến lược về hội nhập kinh tế mới đang được hình thành,
ngày 27- 11-2001 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã
ra Nghị quyết số 07 về hội nhập kinh tế. Phải khẳng định đây là một quốc sách
quan trọng của Đảng ta, nhưng trong 5 năm qua trong quá trình hành động cụ
thể, thì bước tiến còn rất chậm chạp. Thành thử trong hàng loạt các vấn đề liên
quan đến quản lý xã hội, quản lý kinh tế cần phải được nhanh chóng giải quyết
để tạo đà cho hội nhập vẫn chưa được đồng bộ tháo gỡ và phát triển. Ví dụ
như: chúng ta chưa xây dựng đủ mạnh một hệ thống tổ chức kinh tế đối ngoại,
chúng ta chưa chuẩn bị được một đội ngũ cán bộ đủ sức đối đầu và cạnh tranh
trên thương trường. Đặc biệt là việc ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu về
văn hoá, lối sống...
Hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi nội sinh, bức thiết của đất nước
ta. Đây là một công việc hết sức mới mẻ, khó khăn và không ít thách thức. Xây
dựng một chiến lược hội nhập với những kế hoạch cụ thể với một hệ thống tổ
chức chặt chẽ và hệ thống chính sách thông thoáng cởi mở, một đội ngũ cán bộ
giỏi, thạo việc là những điều kiện cần phải có để chúng ta đủ sức hội nhập.
Hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế là một xu hướng tất yếu để phát triển
du lịch trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, đối với du

20


lịch là một ngành kinh tế đối ngoại thì hoạt động du lịch thực hiện hội nhập

Hội nhập kinh tế quốc tế về du lịch theo lộ trình phù hợp với trình độ
phát triển của ngành và đáp ứng yêu cầu các thể chế kinh tế quốc tế mà Việt
Nam tham gia, tranh thủ tối đa ưu đãi của các thể chế kinh tế quốc tế. Hội nhập
kinh tế quốc tế của du lịch phải đảm bảo du lịch phát triển bền vững và hiệu
quả kinh tế - xã hội trong phát triển du lịch.
Trong quá trình hội nhập chỉ thị 46 của Đảng ta cũng đã chỉ rõ Du lịch
là ngành kinh tế tổng hợp mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành,
liên vùng và xã hội hoá cao. Do đó, du lịch có nhiều tác động về nhiều mặt
chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường, an ninh quốc phòng. Vì vậy,
phải đảm bảo phát triển du lịch bền vững, giữ được cảnh quan môi trường, bảo
tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giữ vững an ninh quốc phòng trong
quá trình hội nhập. Yêu cầu và cam kết tự do hoá về dịch vụ du lịch trong các
thể chế thương mại quốc tế thường không đề cập đến những tác động về văn
hoá, xã hội, môi trường, an ninh của du lịch. Do vậy, để đảm bảo phát triển du
lịch bền vững, phải luôn nhận thức đầy đủ tác động nhiều mặt của du lịch trong
đàm phán và thực hiện các cam kết quốc tế về du lịch.
1.3. Những quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng lãnh đạo
phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 1986-1996
1.3.1. Thực trạng của du lịch Việt Nam giai đoạn 1960 – 1986 và
đường lối đổi mới của Đảng.
Nghị định số 26/CP ngày 9/7/1960 của Chính phủ về “Thành lập Công
ty du lịch Việt Nam” là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt
Nam. Lúc đầu chỉ là một công ty với vài ba chi nhánh đặt tại Hải Phòng,
Quảng Ninh, Hoà Bình...
Ngày 27/06/1978 UB thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số
282/NQ-QH khoá VI phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam.
Căn cứ vào nghị quyết trên ngày 23/1/1979. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status