Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006 - Pdf 25

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
________________________________ NGUYễN ĐìNH QUỳNH
ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM LãNH ĐạO HOạT ĐộNG
KINH Tế ĐốI NGOạI Từ NĂM 1986 ĐếN NĂM 2006

LUậN áN TIếN Sĩ LịCH Sử
NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC:
PGS. TS TRầN KIM ĐỉNH
Hà Nội - 2014 Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS. TS Trần Kim Đỉnh.
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan. Các tài
liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Đình Quỳnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 12
Chƣơng 1. ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1995 29
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối

3.1.2. Không ngừng hoàn thiện chủ trương về hoạt động kinh tế đối ngoại 106
3.1.3. Đảng chủ trương phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại đi đôi với giữ
vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế 109
3.1.4. Bảo đảm tính đồng bộ trong chỉ đạo các lĩnh vực của hoạt động kinh tế
đối ngoại, nhưng chú trọng những lĩnh vực trọng điểm 111
3.1.5. Một số hạn chế trong hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện 116
3.2. Một số kinh nghiệm 125
3.2.1. Chú trọng tính thống nhất trong chủ trương về hoạt động kinh tế đối
ngoại với chủ trương cải cách kinh tế 125
3.2.2. Hoạch định chủ trương về hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp với đặc
điểm kinh tế khu vực và thế giới 128
3.2.3. Hoạch định chủ trương về kinh tế đối ngoại gắn với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 131
3.2.4. Bảo đảm nguyên tắc độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa
trong lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại 133
3.2.5. Chú trọng các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền
kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế đối ngoại 136
Tiểu kết chƣơng 3 139
KẾT LUẬN 142
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 145
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC BẢNG QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ban Chấp hành Trung ương
: BCHTƯ
Chủ nghĩa xã hội

7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), cách mạng khoa học - công
nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tạo ra những bước nhảy vọt về chất,
thúc đẩy sản xuất vật chất, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới. Nền sản xuất vật chất và
đời sống xã hội của các nước trong cộng đồng quốc tế diễn ra quá trình quốc tế hóa,
toàn cầu hóa sâu sắc. Toàn cầu hóa kinh tế nổi lên như một xu hướng định hướng,
dẫn dắt quá trình phát triển của thế giới. Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến xu
thế mở cửa và hội nhập của mỗi quốc gia vào cộng đồng quốc tế, đòi hỏi các quốc
gia phải cải cách thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế để có sức mạnh trong cạnh tranh.
Đây là quá trình mang lại những cơ hội và xung lực cho phát triển, đồng thời cũng
đặt ra những thách thức gay gắt đối với nền kinh tế tất cả các nước, trước hết là các
nước đang phát triển và chậm phát triển.
Khi toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan và cách mạng khoa học -
công nghệ trở thành động lực của sự phát triển, thì hoạt động kinh tế đối ngoại
(KTĐN) ngày càng khẳng định là chỗ dựa thiết yếu, kênh truyền dẫn đến nền kinh
tế thế giới nhanh và mạnh nhất.
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong hoàn cảnh một nước
nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, trình độ phát triển
xã hội thấp, do đó, việc tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài có tầm quan trọng đặc
biệt. Phát triển KTĐN trở thành một trong những định hướng lớn của nền kinh tế
quốc dân, qua đó, Việt Nam mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, phát triển các lĩnh vực
dịch vụ và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Nhu cầu đó càng trở nên bức xúc trước
nguy cơ ngày càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với khu vực và thế giới.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng chủ trương tập trung nhiều nguồn lực cho
việc đổi mới, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN. Văn kiện Đại hội Đảng
thời kỳ đổi mới, có phần đánh giá thực tiễn trước khi xác định phương hướng,
nhiệm vụ của hoạt động KTĐN, nêu rõ những tư tưởng chỉ đạo, phương châm và

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động KTĐN
từ năm 1986 đến năm 2006; rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu để vận
dụng vào thực tiễn hiện nay.
9
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những nhân tố tác động và nhu cầu cấp thiết về đổi mới hoạt động
KTĐN; phân tích yêu cầu mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN từ năm
1986 đến năm 2006.
- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo đối với hoạt động KTĐN của Đảng từ
năm 1986 đến năm 2006.
- Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt
động KTĐN những năm 1986 - 2006.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với hoạt động KTĐN, bao gồm những chủ trương về hoạt động KTĐN và
những giải pháp, biện pháp Đảng đề ra trong quá trình hiện thực hóa chủ trương.
3.2. Phạm vi
Về nội dung khoa học:
Luận án tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng đối
với hoạt động KTĐN và những giải pháp, biện pháp lớn của Đảng nhằm thực hiện
chủ trương. Trong đó, nội dung chính của hoạt động KTĐN bao gồm:
Toàn bộ những hoạt động về hợp tác đầu tư với nước ngoài; các hoạt
động ngoại thương, xuất nhập khẩu; các hoạt động hợp tác về khoa
học kỹ thuật, chuyển giao khoa học kỹ thuật - công nghệ với nước
ngoài; các hoạt động dịch vụ nhằm thu ngoại tệ như: du lịch quốc tế,
bảo hiểm quốc tế, vận tải quốc tế [12, tr. 13-14].
Về thời gian: Luận án có mốc mở đầu nghiên cứu là năm 1986 (Đại hội đại

đại, phương pháp lịch đại), phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê
Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực
tiễn, luận án sử dụng các phương pháp lôgíc - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa, trừu
tượng hóa.
Một cách tổng quát, luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp của
khoa học lịch sử, ngoài ra, có kết hợp với các phương pháp liên ngành khác. Các
phương pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận án.
11
5. Đóng góp khoa học của luận án
- Hệ thống hóa, làm rõ những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với
hoạt động KTĐN từ năm 1986 đến năm 2006.
- Dựng lại một cách khách quan thực trạng hoạt động KTĐN Việt Nam
những năm 1986 - 2006 dưới sự lãnh đạo của Đảng; phân tích, chỉ ra thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động KTĐN;
trên cơ sở đó, đúc rút một số kinh nghiệm từ thực tiễn 20 năm Đảng lãnh đạo hoạt
động KTĐN.
- Luận án là tài liệu tham khảo và có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng
dạy về lịch sử KTĐN Việt Nam và những môn học có liên quan.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài, danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
Chương 1. Đảng lãnh đạo đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986
đến năm 1995.
Chương 2. Đảng lãnh đạo mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối
ngoại từ năm 1996 đến năm 2006.
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm.
12
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

13
Nội). Sau khi mô tả và phân tích một số nội dung chủ yếu trong hoạt động KTĐN của
các nước đang phát triển ở châu Á, các tác giả cho rằng, hầu hết các nước đang phát
triển ở châu Á coi chiến lược mở cửa với bên ngoài là một trong những động lực chủ
yếu để tăng trưởng kinh tế, xu hướng tự do hóa KTĐN ngày càng tăng lên (ngoại
thương và đầu tư nước ngoài). Đó đồng thời cũng là cơ sở để các tác giả đi tới kết
luận: Cho dù những dự đoán về tương lai còn rất khác nhau, song nhìn chung đều có
thể nhất trí rằng, xu hướng mở cửa và tự do hóa KTĐN sẽ chi phối những đường nét
căn bản chính sách phát triển kinh tế của mọi quốc gia trong khu vực và đem lại cho
họ niềm hy vọng lớn lao vào sự thịnh vượng kinh tế của kỷ nguyên châu Á.
Trong sách “Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu: Kinh nghiệm của ASEAN”
(Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992), tác giả Mohamed Ariff và Hal Hill đưa ra
quan điểm: Trong gần 3 thập kỷ tồn tại, tuy thời điểm có khác nhau, song nhìn chung
các nước ASEAN lần lượt áp dụng hai chiến lược CNH: CNH thay thế nhập khẩu
vào thập kỷ 60 và CNH hướng về xuất khẩu từ thập kỷ 70. Nhờ những đóng góp của
hoạt động KTĐN mà kinh tế các nước ASEAN tăng trưởng từ 7% đến 9% trong suốt
hai thập kỷ qua. Quá trình trên của các nước ASEAN để lại nhiều kinh nghiệm cho
các nước đang phát triển, đẩy mạnh phát triển KTĐN.
“Chính sách kinh tế đối ngoại của các nước châu Á - Thái Bình Dương thời
kỳ sau Chiến tranh lạnh” là bài báo của tác giả Bùi Tất Thắng (Tạp chí Nghiên cứu
Quốc tế, số 6, 1995). Bài viết cho rằng những thay đổi trong chính sách KTĐN của
các nước trên thế giới nói chung cũng như của các nước khu vực châu Á - Thái
Bình Dương nói riêng “đều bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dẫn đến sụp đổ của
Đông Âu và Liên Xô cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90” [116, tr. 26]. Có thể thấy hai
xu hướng lớn trong việc điều chỉnh chính sách KTĐN của các nước châu Á - Thái
Bình Dương: một là, coi chiến lược mở cửa với bên ngoài là một trong những động
lực chủ yếu của sự tăng trưởng; Hai là, xu hướng tự do hóa các hoạt động KTĐN
ngày càng tăng lên.
Năm 1998, Nxb Đại học Oxford, Anh, xuất bản cuốn “The Role of
Government in East Asian Economic Development: Comparative Institutional

của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực Đông Á cho phép khám phá cấu
trúc tổng thể vốn FDI của từng quốc gia.
Tác giả Masahisa Fujita viết cuốn “Economic Integration in Asia and India”
(Hội nhập kinh tế ở châu Á và Ấn Độ), Nxb Palgrave Macmillan, Mỹ, 2008. Tác giả
Masahisa Fujita là Chủ tịch Viện Kinh tế Phát triển Nhật Bản (JETRO). Theo tác
giả: Trong dòng chảy của toàn cầu hóa kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế về mặt thể
15
chế của EU và Mỹ thực chất không bằng một số nước ở châu Á, bao gồm Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước ASEAN. Ngoài ra, Ấn Độ cũng có những bước
đi mạnh mẽ trong hội nhập kinh tế. Cuốn sách trình bày một tư duy khác về hội
nhập kinh tế châu Á.
Năm 2010, Nxb Routledge, Mỹ, xuất bản cuốn sách “The Future of Asian
Trade and Growth: Economic Development with the Emergence of China” (Tương
lai của tăng trưởng và thương mại châu Á: Phát triển kinh tế với sự xuất hiện của
Trung Quốc) của tác giả Linda Yueh. Cuốn sách phân tích một cách toàn diện các
xu hướng của thương mại và tăng trưởng kinh tế ở châu Á, định hướng phát triển
trong tương lai. Ngoài ra, cuốn sách còn phân tích về tầm quan trọng của chiến lược
phát triển hướng về xuất khẩu ở khu vực châu Á và mô hình của Trung Quốc (đặc
biệt từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001).
Năm 2012, tác giả Anthony D'Costa chủ biên cuốn“Globalization and
Economic Nationalism in Asia” (Toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc trong kinh tế ở
châu Á), Nxb Đại học Oxford, Anh. Cuốn sách cho rằng: Bằng các cách khác nhau
chính phủ châu Á theo đuổi chủ nghĩa dân tộc kinh tế ngay cả khi họ đã hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Cuốn sách phủ nhận quan điểm cho rằng: Trong toàn cầu
hóa, vai trò của Nhà nước trở nên dư thừa, không thể can thiệp vào nền kinh tế. Một
số quốc gia trong khu vực châu Á (bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc,
Singapore, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á) đang rất năng động trong việc định
hình thương mại, đầu tư, công nghệ, công nghiệp và tài chính. Họ cùng minh họa
cho lý do tại sao các nước thực hành chủ nghĩa dân tộc trong kinh tế ngay cả khi họ
nhiệt tình đón nhận tiến trình toàn cầu hóa và tự do hóa.

TBCN phải coi trọng trước hết sự phân công lao động quốc tế XHCN. Điều này thể
hiện sự liên kết giữa các thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Sự hợp
tác này là sự hợp tác anh em, giúp đỡ lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Đó là sự
liên minh kinh tế XHCN với mục đích thúc đẩy quá trình xích lại gần nhau về trình
độ kinh tế của các nước trong cộng đồng. Đó cũng là mối quan hệ về sự phân công
lao động và sự hợp tác với các nước XHCN. Không có sự phân công và hợp tác này
thì không thể sử dụng được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế XHCN thế giới.
Năm 1991, Nxb Sự thật xuất bản cuốn “Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại
Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thế Uẩn chủ biên. Cuốn sách trình bày cô đọng và
súc tích kết quả nghiên cứu của tác giả về KTĐN Việt Nam giai đoạn 1986 - 1990.
Xác định luận cứ khoa học tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý
KTĐN, tạo điều kiện tiếp tục đổi mới sau những bước đi đầu tiên. Trong những
17
năm tới, nhiệm vụ của KTĐN là góp phần đạt cho được mục tiêu “vượt qua những
khó khăn gay gắt trước mắt, tăng cường ổn định chính trị, đưa đất nước cơ bản ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội” [138, tr. 69].
Tác giả Nguyễn Trần Quế trong cuốn “Kinh tế đối ngoại Việt Nam thực tiễn
và chính sách” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991), khẳng định: Đối với Việt
Nam, phát triển KTĐN đúng hướng chẳng những phát huy được lợi thế bên trong
của đất nước, mà còn khai thác được lợi thế về vốn, khoa học, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý… từ bên ngoài để tăng thêm nguồn lực cho phát triển, tạo cơ sở cho
quá trình CNH đất nước. Tác giả làm rõ thêm: “Kinh tế đối ngoại vừa phải phát
triển toàn diện, đa dạng tương xứng với tiềm năng nhiều mặt của đất nước, vừa phải
đi vào trọng điểm trong từng thời kỳ” [104, tr. 131].
“Kinh tế đối ngoại: Nghiên cứu so sánh các nước đang phát triển châu Á -
Thái Bình Dương và Việt Nam” là cuốn sách của tác giả Đỗ Đức Định (Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 1993). Cuốn sách phân tích chiến lược mở cửa của các nước
Hàn Quốc, Ấn Độ , so sánh KTĐN Việt Nam với các nước đang phát triển khu
vực châu Á - Thái Bình Dương. Quá trình thay đổi tư duy và chiến lược, bối cảnh
tiềm năng và hạn chế cùng tác dụng kinh tế trong chính sách đối ngoại của Việt

Việt Nam chủ yếu trên góc độ tiếp nhận ODA, FDI của nước ngoài và quan hệ
thương mại với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các số liệu thống kê, các chính
sách kinh tế và KTĐN của Nhà nước Việt Nam và việc thực thi các chính sách đó
trong khoảng thời gian từ những năm 1980 đến năm 1995.
Năm 1996, tập thể tác giả Lưu Văn Đạt, Dương Văn Long và Lê Nhật Thức
viết cuốn “Đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại”
(Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội) trình bày những luận điểm như: Không đi theo
con đường tự cung, tự cấp; không đơn thuần áp dụng chiến lược thay thế nhập khẩu;
“không dựa hẳn vào sự giúp đỡ quốc tế mà tất yếu phải đi con đường độc lập tự chủ,
sáng tạo, xây dựng nền kinh tế mở cả trong và ngoài nước…” [52, tr. 8]. Việt Nam
mới có thể ứng phó được với mọi thử thách. Cần lựa chọn chiến lược CNH hướng
về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có
hiệu quả, tăng nhanh xuất khẩu, thu hút mạnh đầu tư quốc tế, thâm nhập vững chắc
vào thị trường thế giới. Cần từ bỏ hoàn toàn cơ chế Nhà nước độc quyền về ngoại
thương và chỉ có thành phần kinh tế quốc doanh độc quyền về KTĐN.
“Toàn cầu hóa - cơ hội và thách thức trong tiến trình Việt Nam hội nhập với
kinh tế thế giới và khu vực” là bài viết của tác giả Cao Sỹ Kiêm (Tạp chí Cộng sản,
số 7, 1999). Theo tác giả, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
19
khu vực, quốc tế, Việt Nam có khả năng tiếp cận một số cơ hội cụ thể nhưng cũng
đặt ra những thách thức rất lớn. Những thách thức trên chủ yếu bắt nguồn từ chính
nội lực của nền kinh tế. Điều này chứng tỏ rằng, trong quá trình hội nhập nền kinh
tế Việt Nam dễ bị tổn thương hơn với các nước thành viên.
“Vận dụng kinh nghiệm phát triển kinh tế đối ngoại trong giai đoạn công
nghiệp hóa ở các nước ASEAN vào Việt Nam” (luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu
sinh Hà Xuân Vấn, 2000) góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
phát triển KTĐN trong giai đoạn CNH, thông qua phân tích kinh nghiệm phát triển
KTĐN của các nước ASEAN. Trên cơ sở đó, cùng với thực trạng phát triển của Việt
Nam, nêu những quan điểm có tính chất định hướng và giải pháp chủ yếu để vận
dụng nhằm phát triển KTĐN hiệu quả trong giai đoạn CNH, HĐH ở Việt Nam.

KTĐN, thị trường trong nước và thị trường thế giới, KTĐN trong bối cảnh đổi mới
toàn diện của Việt Nam và xu thế tất yếu khách quan của toàn cầu hóa. Tình hình
trên đặt ra “mối quan tâm đầy đủ của các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ
trong việc phát triển và hội nhập kinh tế đất nước” [12, tr. 211].
“Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay - tình hình và các giải pháp” là bài viết
của tác giả Võ Đại Lược (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1, 2003). Theo
phân tích của tác giả, hiện nay, điều kiện quốc tế đã thay đổi, các quốc gia trong khu
vực đã tiến xa trên con đường hội nhập quốc tế, Việt Nam cần lựa chọn con đường
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo những hướng sau: Coi quan hệ KTĐN là quan
hệ thị trường; xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; khai thông các nguồn vốn
cung ứng cho hoạt động KTĐN; cơ cấu nhập khẩu phải phù hợp với định hướng xuất
khẩu; sửa đổi và ban hành các văn bản về KTĐN phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Trong bài viết “Một số điểm nổi bật về kinh tế đối ngoại của Việt Nam mười
năm qua (1993 - 2002) và những vấn đề đặt ra đối với tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế từ nay đến năm 2010” (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 9, 2003),
tác giả Ngô Văn Lương luận giải như sau: Sự phát triển của hoạt động KTĐN 10
năm qua làm cho nền kinh tế Việt Nam trở thành một mắt khâu quan trọng trong
chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, đây là một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường xuyên
biến động và là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển theo
hướng hội nhập. Vấn đề đặt ra đối với hoạt động KTĐN Việt Nam là Chính phủ cần
có những giải pháp thích hợp để vừa tăng tính thích nghi, vừa hội nhập nhanh với
kinh tế quốc tế theo phương châm đa dạng hóa và đa phương hóa.
Cuốn sách “Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam” do tác
giả Ngô Văn Điểm chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004). Cuốn sách
21
phân tích quan niệm, cơ sở và các đặc trưng chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế, quá
trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. Theo tác giả, trong giai đoạn 1995 - 2004, tổng
vốn đầu tư xã hội năm 2004 tăng gấp 4 lần, trong khi đó do hậu quả của cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ (1997 - 1998), đầu tư nước ngoài chỉ tăng hơn 2 lần. Với xu
thế toàn cầu hóa kinh tế, với môi trường đầu tư được cải thiện, đầu tư nước ngoài

không ngừng tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế
giới. Để tạo điều kiện thuận lợi cho KTĐN Việt Nam phát triển nhanh và vững chắc
trong một môi trường thế giới đang có nhiều biến động và cạnh tranh gay gắt, nhiều
vấn đề thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước cần được khẩn trương nghiên cứu, bổ
sung và hoàn chỉnh.
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” là cuốn
sách của tác giả Trần Xuân Tùng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005). Cuốn
sách đánh giá vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam, nêu lên một
số kiến nghị nhằm giải quyết các vướng mắc, trở ngại để môi trường đầu tư của
Việt Nam có sức hấp dẫn, sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực.
“Phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt Nam trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế” là bài báo của tác giả Nguyễn Thường Lạng, Tạp chí Kinh tế và
phát triển, số 117, 2007. Bài báo cho rằng với việc trở thành thành viên chính thức
của WTO mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội, bên cạnh đó cũng đặt ra những thách
thức tất yếu. Lĩnh vực KTĐN Việt Nam, “một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường
xuyên biến động và là động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam
phát triển” [77, tr. 3] theo hướng hội nhập, hiện nay đang chịu tác động trực tiếp và
hết sức to lớn của quá trình này. Vấn đề là cần có những giải pháp thích hợp để vừa
tăng tính thích nghi, vừa phát triển nhanh lĩnh vực KTĐN theo phương châm đa
dạng hóa, đa phương hóa nhằm phục vụ có hiệu quả công cuộc CNH, HĐH.
Cuốn sách “Kinh tế đối ngoại Việt Nam” của tác giả Phan Huy Đường (Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007) phân tích những đặc điểm cơ bản của nền
kinh tế thế giới, những tiềm năng phát triển KTĐN Việt Nam. Phân chia quá trình
phát triển của KTĐN Việt Nam thành hai giai đoạn (1986 - 1992; 1992 - 2005). Đánh
giá những thành tựu và hạn chế, định hướng và những giải pháp nhằm phát triển
KTĐN Việt Nam trong giai đoạn mới. Tác giả cho rằng: Việt Nam tham gia quan hệ
kinh tế quốc tế dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Do đó, Việt Nam không
thể tham gia một quan hệ kinh tế quốc tế nào mà nó chỉ đem lại thua thiệt và mất mát.
Nhưng cũng phải nêu cao tinh thần cảnh giác, không thể vì lợi ích trước mắt mà làm
23

trong việc thực thi chính sách KTĐN Việt Nam thời gian qua. Các giải pháp tổng
quát nhất mà đa số các tác giả đề cập đến là: Giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế
24
trong quá trình phát triển KTĐN, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế… Các
tác giả cho rằng: Tính khả thi của các chính sách phụ thuộc lớn vào nhận thức, tính
kiên quyết và đồng bộ trong việc triển khai của Nhà nước. Các luận án đề cập đến
KTĐN ở góc độ kinh tế học và kinh tế chính trị, bàn về giải pháp phát triển KTĐN
ở phạm vi chuyên ngành. Có thể thấy một số hướng tiếp cận và những vấn đề
nghiên cứu của các luận án dưới giác độ kinh tế. Các nội dung chủ yếu mà đa số
luận án đề cập là: Phát triển KTĐN phải đồng thời bảo đảm, củng cố quốc phòng,
an ninh; lựa chọn các đối tác phù hợp trong KTĐN; vận dụng kinh nghiệm của các
nước trong khu vực nhưng cũng cần tự lực, tự cường trong phát triển KTĐN nhằm
hướng tới việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam. Các bài nghiên
cứu và đề tài nghiên cứu khoa học chủ yếu tiếp cận KTĐN dưới góc độ kinh tế học,
do vậy, các tác giả tập trung vào những nhiệm vụ và giải pháp như: Nắm vững xu
thế của thời đại; tận dụng thời cơ của toàn cầu hóa, phải thực hiện nhanh và đồng bộ
các giải pháp về nhận thức; xây dựng mô hình kinh tế “mở”; đổi mới kỹ thuật -
công nghệ, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH; nâng sức
cạnh tranh, hướng mạnh về xuất khẩu, điều chỉnh chiến lược xuất, nhập khẩu; thu
hút, sử dụng và quản lý hiệu quả FDI và ODA; xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện luật pháp, chính
sách, cơ chế vĩ mô.
Những tài liệu trên đã giúp nghiên cứu sinh thấy được nhiều nội dung phong
phú và cung cấp những số liệu tương đối khách quan về KTĐN Việt Nam trong 20
năm đổi mới (1986 - 2006).
3. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động kinh tế đối ngoại
“Công tác ngoại giao phục vụ kinh tế trong giai đoạn hiện nay” là bài viết
của tác giả Lâm Đình Ngọc (Tạp chí Cộng sản, số 11, 2001). Tác giả cho biết: Triển
khai Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Hội nghị cán bộ ngành ngoại giao tháng 8 -

thức trong quá trình hội nhập kinh tế đối với Việt Nam. Cơ hội đối với Việt Nam là
dựa vào sự phát triển của nông nghiệp. Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là
năng lực cạnh tranh còn thấp trên cả ba cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản
phẩm. Hai là, định hướng phát triển KTĐN của Việt Nam. Bài viết cho rằng: Chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế là định hướng phổ quát trên tinh thần Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ IX.
Năm 2005, Tạp chí Lịch sử Đảng số 1 đăng bài “Vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc

Trích đoạn Khái quát về hoạt động kinh tế đối ngoại trước năm 1986 Đặc điểm tình hình trong giai đoạn mới Chủ trương đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng Thành tựu Chú trọng các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status