LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo kết hợp sức MẠNH dân tộc với sức MẠNH THỜI đại TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG mỹ (1965 1973) - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kết hợp SMDT với SMTĐ là một vấn đề quan trọng trong quá trình đấu tranh cách mạng
của các đảng mácxít – lêninnít, vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức, vì hoà bình và
tiến bộ xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp SMDT với SMTĐ nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp
để đánh thắng kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần là vấn
đề có tính nguyên tắc chiến lược. Đồng thời, là bài học kinh nghiệm quý của cách mạng Việt
nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó cũng là một cách thức, phương pháp cách mạng đúng đắn
của Đảng ta, góp phần quan trọng dẫn đến thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước.
Vì vậy, nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung về quá trình Đảng
lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp SMDT với SMTĐ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
1965 đến 1973 nói riêng là rất cần thiết. Qua đó, giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về nghệ
thuật lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong quá trình tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ
thù trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhưng rất vẻ vang của nhân dân ta. Đồng thời
nâng cao niềm tin, niềm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng.
Ngày nay, tình hình thế giới đã thay đổi nhiều so với thời kỳ nhân dân ta tiến hành cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tình hình thế giới không ngừng vận động trong những mối
quan hệ hết sức phức tạp, đầy mâu thuẫn, tác động qua lại lẫn nhau. Sự phát triển của cách
mạng khoa học công nghệ và xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế đang ảnh hưởng
mạnh mẽ đối với sự phát triển của cách mạng nước ta. Nhiều vấn đề trong nước và khu vực


đang diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp. Trước tình hình đó, đòi hỏi Đảng cần phải tiếp tục
vận dụng kinh nghiệm lịch sử vào quá trình kết hợp SMDT với SMTĐ. Đúng như Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã chỉ rõ "Trong điều kiện mới càng
phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp SMDT với SMTĐ, sức mạnh trong nước với sức mạnh
quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc XHCN" [22, tr.88].
Qua nghiên cứu vấn đề kết hợp SMDT với SMTĐ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,

Nam và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay. Cuốn Chiến thắng của sức
mạnh tổng hợp sức mạnh dân tộc và thời đại, do Nxb Sự thật xuất bản năm 1985. Cuốn
sách đã nêu lên ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, trong đó có nguyên nhân thắng lợi là sự kết hợp SMDT với SMTĐ. Cũng trong
năm 1985, Nxb Khoa học xã hội xuất bản cuốn Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học. Cuốn
sách đã nêu rõ sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành
quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó có sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại.
Luận văn thạc sĩ của Thái Bình Dương về Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
trong công cuộc đổi mới, tác giả đã nêu được một số nội dung về kết hợp SMDT với SMTĐ


trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nói chung và sự cần thiết kết hợp SMDT với
SMTĐ trong công cuộc đổi mới nói riêng.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Bạo về Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự,
chính trị, ngoại giao giành thắng lợi quyết định trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1969-1973, tác giả đã khái quát quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp đấu tranh quân
sự, chính trị, ngoại giao.
Nhìn chung những công trình được công bố đã đề cập ở các mức độ, góc độ khác nhau
về kết hợp SMDT với SMTĐ. Nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào
đi sâu nghiên cứu Đảng lãnh đạo kết hợp SMDT với SMTĐ trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1973. Tuy nhiên kết quả của các công trình trên là
những tư liệu quý để tác giả kế thừa, vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của
mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn về sự kết hợp SMDT
với SMTĐ; khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp
SMDT với SMTĐ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1973. Rút ra một
số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh đạo kết hợp SMDT với SMTĐ (1965 - 1973),
làm cơ sở vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng trong các
Học viện, Nhà trường quân đội hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: mở đầu, 2 chương, (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục.
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC
VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU
NƯỚC TỪ 1965 ĐẾN 1973
1.1. KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI LÀ YÊU
CẦU KHÁCH QUAN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
1.1.1. Lý luận Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại
Chủ nghĩa Mác ra đời là một thành tựu vĩ đại của nhân loại, là vũ khí lý luận khoa
học và cách mạng soi đường để giai cấp vô sản và các dân tộc trên thế giới vươn lên tự
giải phóng mình.
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, giai cấp vô
sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền và tự mình trở thành dân tộc. Nhưng


sức mạnh đấu tranh của các lực lượng cách mạng ấy lại không bao giờ được tự giới hạn
mình trong phạm vi dân tộc, mà cần phải được đặt trong mối liên hệ quốc tế, theo tinh
thần “vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”. Mặt khác, giai cấp vô sản mang bản chất quốc
tế, đó là cơ sở khách quan của sự liên minh đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp công nhân,
nhân dân lao động ở tất cả các quốc gia dân tộc, theo quan điểm kết hợp SMDT với
SMTĐ tạo thành sức mạnh vô địch chiến thắng chủ nghĩa tư bản.
Kế tục sự nghiệp của Mác- Ăng ghen, V.I.Lê nin là Người hoạt động trong thời kỳ
CNTB đã chuyển sang CNĐQ, khi hệ thống thuộc địa của chúng đã bao trùm cả thế
giới và khi phong trào giải phóng dân tộc đã bắt đầu được khơi dậy. Trong điều kiện
ấy, Lê nin đã phát triển khẩu hiệu chiến lược của Mác- Ăng ghen thành: “vô sản tất cả

Theo Hồ Chí Minh, kết hợp SMDT với SMTĐ trước hết phải đặt cách mạng Việt Nam
trong tiến trình chung của cách mạng thế giới. Bởi vậy, khi lựa chọn con đường cứu nước của
nhân dân Việt Nam theo gương cuộc cách mạng Tháng Mười Nga (1917), Hồ Chí Minh đã
nhận thấy nhiệm vụ chủ yếu của loài người trong thời đại đế quốc chủ nghĩa là phải biết đoàn
kết xung quanh giai cấp công nhân, tiến hành cách mạng vô sản để lật đổ CNTB, xây dựng
CNXH. Do đó, vấn đề dân tộc phải gắn với vấn đề giai cấp, cách mạng giải phóng dân tộc
phải gắn liền với cách mạng vô sản. Vấn đề giải phóng thuộc địa trở thành một vấn đề quốc
tế, không chỉ đối với nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc mà cả với nhân dân chính quốc.


Tuy nhiên, khi gắn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh
vẫn nhấn mạnh đến những mặt riêng về lịch sử- xã hội, kinh tế của mỗi cuộc cách mạng,
những đặc điểm riêng giữa phương Đông và phương Tây để vạch ra chiến lược đấu tranh cho
phù hợp. Trong đó, Người chú ý khai thác những điểm riêng của mỗi dân tộc mà không trái
với đường lối chung của cách mạng thế giới. Cuộc đấu tranh của quần chúng lao động trong
thời đại đế quốc chủ nghĩa dù diễn ra dưới các hình thức khác nhau nhưng đều phải nằm
trong quỹ đạo cách mạng vô sản, đều nhằm vào mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng
giai cấp “chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải
phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” [31,
tr.416].
Cách mạng vô sản phải biết kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp với cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc thì mới có thể thắng lợi. Tuy nhiên, khi chỉ đạo thực hiện ở mỗi
nước lại phải rất linh hoạt. Theo Hồ Chí Minh cách mạng muốn thành công trước hết
phải dựa vào những điều kiện cụ thể của dân tộc mình để làm cơ sở kết hợp phát huy sức
mạnh của thời đại, đồng thời không được xa rời nguyên tắc đấu tranh của cách mạng vô
sản.
Đó thực chất là việc xử lý khéo léo, có hiệu quả mối quan hệ giữa vấn đề “dân tộc” và
“giai cấp”; vấn đề “dân tộc” và “quốc tế” trong tình hình cụ thể của thế giới và trong
nước. Xét về bản chất theo Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng ở các nước thuộc địa “dân tộc
cách mệnh”, cũng thể hiện tính chất giai cấp rõ rệt. Đó là cuộc đấu tranh của đông đảo

Bốn phương vô sản đều là anh em”.
Đây là cơ sở để Hồ Chí Minh đề ra chủ trương xây dựng tình đoàn kết hữu nghị giữa
các dân tộc. Nguyên tắc đoàn kết của Hồ Chí Minh là “có lý, có tình”. Có lý là tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê nin, những nguyên tắc chung trong quan
hệ quốc tế: tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Có tình là trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc chung phải chú
ý đến đặc điểm riêng của mỗi dân tộc, phải thông cảm tôn trọng nhau của những người
cùng chung lý tưởng, khắc phục tư tưởng sô vanh nước lớn, tránh dùng sức ép chính trị,
kinh tế, ngoại giao hoặc vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về mối quan hệ biện chứng giữa các
yếu tố khách quan và chủ quan, Hồ Chí Minh khẳng định kết hợp SMDT với SMTĐ
nhưng phải dựa vào sức mình là chính. Người nói: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh
mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [33, tr.522].
Theo Người, “muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã” [32,
tr.293].
Như vậy, kết hợp SMDT với SMTĐ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lê nin trong hoàn cảnh mới của cuộc đấu
tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội. Nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, là
những nguyên tắc quan trọng cho Đảng, Nhà nước ta xác định đường lối, chính sách đối
nội, đối ngoại đúng đắn, đồng thời là phương hướng lớn của cách mạng Việt Nam được
thể hiện sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


1.1.2. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ đòi hỏi phải kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại.
Sau Hội nghị Giơnevơ (1954), đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, với hai
chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, chuyển sang thực hiện
cách mạng XHCN. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng DTDCND. Tuy nhiệm vụ cách
mạng ở hai miền thuộc hai chiến lược khác nhau, nhưng cùng một mục tiêu là thực hiện
thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên CNXH, cho nên hai nhiệm vụ có mối quan hệ

chuyển quân tập kết ra miền Bắc, do vậy ở miền Nam lúc này chúng ta không còn lực lượng
vũ trang tập trung, không có chính quyền. Trong khi đó, phía địch có đầy đủ sức mạnh về
kinh tế và quân sự, nắm trong tay cả bộ máy ngụy quân, ngụy quyền đồ sộ, chúng ra sức thi
hành chính sách tiêu diệt phong trào cách mạng, gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề “Cách
mạng miền Nam bị địch đàn áp và khủng bố tàn khốc” [1, tr.29].
Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, tình hình quốc tế lúc này không có nhiều thuận lợi
cho cách mạng Việt Nam. Cụ thể là trước hành động mở rộng chiến tranh và trực tiếp đưa
quân Mỹ vào xâm lược Việt Nam, thái độ của Liên Xô là vừa lên án Mỹ và tiếp tục viện
trợ cho Việt Nam, nhưng lo ngại Việt Nam đánh lớn sẽ lôi kéo Liên Xô vào cuộc chiến


tranh sẽ ảnh hưởng đến hòa hoãn Xô - Mỹ. Vì Vậy, Liên Xô tuy có viện trợ quân sự cho
ta, nhưng hạn chế trang bị vũ khí tấn công chiến lược kể cả về số lượng, chất lượng.
Thái độ của Trung Quốc trước những cuộc tấn công ồ ạt của Mỹ vào Việt Nam cũng
rất phức tạp. Một mặt Trung Quốc tuyên bố là “hậu phương vững chắc” của Việt Nam,
nhưng lại nhắc Việt Nam phải “tự lực cánh sinh”; Trung Quốc nói sẽ ủng hộ Việt Nam
“đánh Mỹ đến cùng”, song không muốn Việt Nam đánh lớn, khuyên miền Bắc chỉ ủng hộ
chứ không nên giúp miền Nam... Mặt khác, những người lãnh đạo Bắc Kinh muốn Việt
Nam đứng về phía Trung Quốc chống lại Liên Xô. Nhiều lần Trung Quốc yêu cầu Đảng
ta phải “tỏ rõ lập trường” chống “xét lại” và cho rằng chống Mỹ thì phải đi cùng với
chống “xét lại”, vì “xét lại” cản trở quan hệ Trung – Việt. Tuy nhiên, đòi hỏi ấy không
được Việt Nam đáp ứng.
Về quan hệ của Trung Quốc với hai nước Lào và Cămpuchia, thời gian này cũng có những
vấn đề gây khó khăn cho Mặt trận đoàn kết ba nước Đông Dương.
Đối với Cămpuchia, sau những chuyến đi thăm Trung Quốc của lãnh tụ “Khơmeđỏ”
(Pôn pốt) năm 1965 và 1967 đã gây cho lực lượng cách mạng của Cămpuchia bị chia rẽ
và gây khó khăn cho Việt Nam trong việc tranh thủ Xihanúc cho phép lập các căn cứ hậu
cần ở vùng biên giới. Tuy vậy, bằng chính sách ngoại giao độc lập, Việt Nam vẫn giữ
quan hệ tốt với Xihanúc (ngày13-6-1967 hai bên chính thức lập quan hệ ngoại giao). Còn
ở Lào, mặc dù có nhiều thế lực quốc tế cố tình chia rẽ, nhưng bộ đội tình nguyện Việt

đưa những nhà chính trị được coi là “lỗi lạc”, những tướng lĩnh được xếp vào loại “tài
ba”, những nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm để điều hành cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam.
Có thể nói rằng cùng với việc động viên tới mức cao nhất các lực lượng vật chất,
phương tiện và vũ khí hiện đại (trừ vũ khí nguyên tử), Mỹ đã huy động và sử dụng tối đa
ưu thế về khoa học kỹ thuật vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong tình hình
lực lượng so sánh như vậy, rõ ràng ta phải đánh lâu dài, thực hiện lấy nhỏ thắng lớn, lấy
ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông. Căn cứ vào tình hình so sánh lực
lượng nêu trên, thực tế đòi hỏi ta phải biết kết hợp SMDT với SMTĐ, nhằm tạo nên sức
mạnh tổng hợp của sự kết hợp các yếu tố về kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao... để
đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Nếu như không có sự kết hợp giữa SMDT với SMTĐ,
sức mạnh của nội lực với sức mạnh ngoại lực thì chúng ta khó có thể thắng giặc Mỹ xâm
lược. Ngay như B.Đavitson là một sĩ quan tình báo cao cấp trong quân đội Mỹ đã thừa
nhận: “Đây là một cuộc chiến tranh tổng lực. Cuộc chiến tranh này động viên toàn thể
mọi người, do các nhà cách mạng kiểm soát. Nó sử dụng tuyệt đối mọi hình thức sức
mạnh có thể có” [19, tr.39].
Như vậy, kết hợp SMDT với SMTĐ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói
chung và trong những năm từ 1965 đến 1973 nói riêng là yêu cầu khách quan của cách mạng
Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đòi hỏi.
Chỉ có sự kết hợp ấy, chúng ta mới tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc ta chiến thắng đế
quốc Mỹ xâm lược. Tuy nhiên, kết hợp SMDT với SMTĐ như thế nào đòi hỏi Đảng ta phải
có chủ trương và sự chỉ đạo đúng đắn mới có thể tạo nên sức mạnh đè bẹp quân thù.


1.2. QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC
MẠNH THỜI ĐẠI CỦA ĐẢNG TỪ 1965 ĐẾN 1973
1.2.1. Chủ trương của Đảng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ tuy đẩy lên mức cao nhưng vẫn thất bại.
Chính quyền Sài Gòn suy yếu, khủng hoảng triền miên đang trên đà sụp đổ. Mỹ đứng
trước sự lựa chọn: cam chịu thất bại, bỏ mặc chính quyền Sài Gòn hoặc đưa quân Mỹ vào

ta, của nhân dân ta từ Nam chí Bắc... toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền
phải giữ vững và nêu cao quyết tâm đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu
nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình
huống nào, kiên quyết chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng [36, tr.18, 19].
Quyết tâm chiến lược trên dựa trên sự phân tích khoa học tình hình thế giới, trong
nước.
Đương đầu với sự xâm lược của đế quốc Mỹ, cách mạng Việt Nam có sức mạnh của
nhân dân lao động làm chủ, của một dân tộc quyết chiến quyết thắng. Sức mạnh chiến
thắng của chúng ta chính là sức mạnh của ngọn cờ ĐLDT và CNXH, do Đảng đề ra từ


khi mới thành lập, của đường lối tiến hành đồng thời và phối hợp chặt chẽ hai chiến lược
cách mạng ở hai miền. Đường lối đó là sự kết hợp khéo léo những yêu cầu cơ bản của
nhân dân ta với những mục tiêu của thời đại. Vì thế: “cuộc chiến tranh chính nghĩa của
nhân dân Việt Nam ở cả hai miền càng được sự ủng hộ tích cực và sự giúp đỡ mạnh mẽ
của các nước XHCN, được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của các nước dân tộc chủ
nghĩa và của nhân dân yêu chuộng hòa bình, kể cả nhân dân Mỹ” [36, tr.16].
Mặt khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra trong bối
cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, trong hoàn cảnh đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã bình tĩnh xem xét tìm cách xử lý thích hợp những nhân tố thuận lợi, hạn chế
những khó khăn, phức tạp để vạch ra đường lối đối ngoại linh hoạt mở ra khả năng tận
dụng tối đa SMTĐ. Phương châm trong đường lối quốc tế của Đảng ta là “đoàn kết rộng
rãi với các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên tinh thần giữ vững độc lập tự chủ”. Có
độc lập tự chủ mới mở rộng được đoàn kết quốc tế rộng rãi.
Từ thực tế đường lối kháng chiến chống Mỹ, Đảng đã đề ra phương châm đánh lâu
dài, dựa vào sức mình là chính, song Đảng cũng chỉ rõ cần phải cố gắng đến cao độ, tập
trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời
gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Do vậy, “Chúng ta quyết động viên lực
lượng của nhân dân cả nước tiến hành đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị,
dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tới mức cao nhất sự đồng tình, ủng hộ của

tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; phải công nhận Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam và phải
thương lượng với Mặt trận; phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt
Nam, vấn đề Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết. Đồng thời, dư luận quốc tế ủng
hộ mạnh mẽ bản tuyên bố 5 điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, cực lực lên án
đế quốc Mỹ xâm lược.
Tháng 1 năm 1968, Hội nghị Trung ương 14 (khóa III) đã đánh giá tình hình đế quốc Mỹ
“chuyển hướng từ thế phản công chiến lược sang thế bị động phòng ngự về chiến lược” [36, tr.
62]. Việc đế quốc Mỹ phải chuyển sang thế bị động phòng ngự về chiến lược trong “chiến
tranh cục bộ” ở miền Nam, cộng với sự thất bại cơ bản của chúng trong chiến tranh phá hoại
miền Bắc “là một thất bại lớn về chiến lược của đế quốc Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam” [36, tr.62].
Trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng địch, ta trong nước và trên thế giới,
Bộ Chính trị chủ trương tiến hành “tổng công kích và tổng khởi nghĩa”, “chuyển cuộc
chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành
thắng lợi quyết định”. Mục tiêu chiến lược của “tổng công kích và tổng khởi nghĩa” là
nhằm tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp,
giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và
phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ
chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam. "Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của
Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với
miền Bắc” [28, tr.465]. Đồng thời, Đảng ta đã xác định “Cuộc tổng công kích và tổng khởi


nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức
tạp”[36, tr.71].
Để thực hiện thắng lợi chủ trương đó, Đảng xác định phương châm đấu tranh phải
thực hiện đến mức cao nhất các mặt kết hợp và phối hợp sau đây:
Một là, Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngụy vận, địch vận, thực
hiện cho kỳ được khẩu hiệu “công nông binh liên hiệp”.

chiến tranh xâm lược với quy mô hiện nay trong một thời gian dài và nhất định sẽ thất bại.
Tuy nhiên, bản chất chúng rất ngoan cố, chúng còn có tiềm lực, còn có lực lượng lớn trên
chiến trường, còn giữ được các vị trí và khu vực quan trọng, cho nên chúng mong muốn
xuống thang trên thế mạnh để giải quyết chiến tranh bằng thương lượng với điều kiện có lợi
cho chúng [36, tr. 126].
Từ nhận định đó, Bộ Chính trị chủ trương:
Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền,
phát huy thắng lợi đã đạt được, tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đẩy
mạnh ba mũi giáp công, kết hợp với tiến công ngoại giao, ra sức xây dựng lực lượng


quân sự và chính trị, phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh
mẽ, làm thất bại... âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ
hóa” chiến tranh của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho nguỵ phải suy sụp [36,
tr.134, 135].
Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: các cấp, các địa phương và lực lượng vũ trang cần kiên
quyết đẩy mạnh đấu tranh quân sự, kết hợp với xây dựng và củng cố lực lượng chính trị;
kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với tiến công chính trị nhằm giữ và tạo thế cho
ta.
Tiếp đó, tháng 1-1970, Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam đã họp tại Hà Nội, nhấn mạnh nhiệm vụ cho cách mạng miền Nam trong
năm 1970 và những năm tiếp theo là: “Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân trên cả hai miền... đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị,
kết hợp với tiến công ngoại giao...” [10, tr. 140, 141].
Để tháo gỡ khó khăn tiếp tục đưa cách mạng miền Nam phát triển tiến tới giành thắng lợi
quyết định, chủ trương của Đảng thể hiện trong các Hội nghị của Bộ Chính trị, Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng giai đoạn này là: Đẩy mạnh xây dựng lực lượng cách mạng về
mọi mặt, nhất là lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang. Đẩy mạnh sự kết hợp đấu tranh quân
sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, trong đó lấy phát huy những yếu tố bên trong
là nhân tố quyết định đó là chủ trương nhất quán của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status