LUẬN văn tốt NGHIỆP ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo THỰC HIỆN xóa đói GIẢM NGHÈO từ năm 2001 đến năm 2006 - Pdf 38

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài (tên luận văn)
XĐGN không chỉ là vấn đề kinh tế thuần tuý, mà nó còn là vấn đề chính trị xã
hội phức tạp, nhạy cảm và mang tính toàn cầu. Với đất nước ta, đang trong quá
trình quá độ lên CNXH nên xoá đói giảm nghèo là một trong những nội dung quan
trọng bảo đảm định hướng XHCN một cách vững chắc vì mục tiêu dân giàu, nước
manh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chính vì vậy xoá đói giảm nghèo để góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và nhà nước ta trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi vấn đề XĐGN là một
vấn đề có tính chiến lược lâu dài và luôn đặt vấn đề này như một nhiệm vụ ưu tiên
hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
Trong những năm qua, với chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, sự giúp đỡ ủng hộ nhiệt tình của cộng đồng quốc tế và sự nỗ lực cố gắng của
nhân dân, nước ta hiện đang dẫn đầu thế gới về XĐGN, là một trong những nước
giảm nghèo thành công nhất, nhất là trong 10 năm gần đây. Trong “Báo cáo phát
triển Việt Nam” năm 2004 của cộng đồng quốc tế về thành tựu XĐGN của nước ta
trong thời gian qua đã khẳng định: Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là
một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau mà trong
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, công tác XĐGN vẫn còn nhiều
khiếm khuyết, hiệu quả chưa thật đồng đều và bền vững, chưa đáp ứng được yêu
cầu đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước. Hạn chế đó ảnh hưởng


2


đảm cho định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ. Ví dụ như tác giả Đinh Văn Ân
với công trình “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam”; tác giả Nguyễn Quang Thái với công trình “Phát triển bền vững ở Việt
Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”. Bên cạnh đó, XĐGN ở Việt
Nam cũng được nhiều cá nhân, nhóm tác giả của các tổ chức quốc tế quan tâm
nghiên cứu.
Mặc dù tiếp cận dưới các góc độ khác nhau nhưng các công trình, bài viết đã
đi sâu nghiên cứu thực trạng, đặc điểm đói nghèo ở Việt Nam; những tác hại hậu
quả của nó đến đời sống kinh tế- chính trị- xã hội của Việt Nam. Nhiều công trình
tìm hiểu chủ trương, chính sách XĐGN của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định
những thành tựu to lớn mà nước ta đã đạt được trong sự nghiệp XĐGN. Từ đó đã
đề xuất một số giải pháp, rút ra những kinh nghiệm bước đầu cho sự nghiệp
XĐGN ở nước ta.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ
thống, toàn diện về quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện XĐGN từ năm 2001 đến
năm 2006. Bởi vậy luận văn sẽ trình bày một cách có hệ thống, chuyên sâu về quá
trình Đảng lãnh đạo thực hiện xoá đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2006.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục Đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn và khẳng định quan điểm nhất quán của
Đảng trong lãnh đạo thực hiện xoá đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2006.
- Phân tích thực trạng, từ đó rút ra một số kinh nghiệm về quá trình Đảng lãnh
đạo thực hiện XĐGN từ năm 2001 đến năm 2006.
* Nhiệm vụ:
- Khẳng định tính tất yếu khách quan của việc Đảng lãnh đạo thực hiện
XĐGN từ năm 2001 đến năm 2006


4



khảo và phần phụ lục.

Chương 1
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2006
1.1. Yêu cầu khách quan về XĐGN
1.1.1. Quan niệm chung về đói nghèo và XĐGN
Đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu chứ không phải là vấn đề riêng của
bất cứ quốc gia, dân tộc nào, đồng thời đói nghèo cũng là vấn đề của cả kinh tế,
chính trị và xã hội, nó không chỉ là vấn đề riêng của kinh tế hay xã hội. Hơn nữa,
nội hàm của khái niệm đói nghèo chỉ mang tính tương đối, nó luôn vận động biến
đổi và mở rộng cùng với sự tăng lên về nhu cầu của xã hội, của con người.Chính vì
vậy, để giải quyết thành công và bền vững vấn đề này thì đòi hỏi trước tiên là phải
có cách tiếp cận, nghiên cứu khoa học.
Đói nghèo được diễn dạt bằng nhiều khái niệm khác nhau. Liên Hợp Quốc
đã đưa ra hai khái niệm chính về nghèo đói: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu để
duy trì cuộc sống. Nghèo tương đối là tình trạng không được hưởng đầy đủ những
nhu cầu cơ bản tối thiểu như ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh y tế và giáo dục.
Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật
chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp nhất định so với sự
sung túc của xã hội đó.


6

Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới tổ chức tại Côpenhaghen (Đan Mạch) năm
1995 đã đưa ra khái niệm cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “ Người nghèo là tất cả
những ai thu nhập thấp hơn 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như


Srilanca: 17USD/ người/ tháng
Bănglađét: 11USD/ người/ tháng
Pakixtan: 6USD/ người/ tháng.
Ngoài ra một số nước còn tính theo lượng kalo/ người/ ngày.
Ví dụ:
Inđônêxia: đầu những năm 80 lấy mức 2100kalo/ người/ ngày
Trung Quốc năm 1990 lấy mức 2150kalo/ người/ ngày.
Ở Việt Nam, cũng đã xác định và điều chỉnh chuẩn nghèo qua các giai đoạn
như sau:
Giai đoạn 1993 - 1995: chuẩn nghèo đói được tính theo thu nhập bình quân
đầu người quy theo số kg gạo/ tháng. Theo đó, hộ nghèo là hộ có bình quân thu
nhập đầu người dưới 20kg/ tháng (với khu vực thành thị), dưới 15kg/ tháng (với
khu vực nông thôn).
Giai đoạn 1996 – 2000: chuẩn nghèo đói vẫn được tính theo thu nhập bình
quân đầu người tính theo kg gạo/ tháng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập 15kg/ tháng
(tương đương 55.000 đồng) đối với vùng nông thôn miền núi, hải đảo; dưới 20kg/
tháng (tương đương 70.000 đồng) đối với vùng đồng bằng, trung du; dưới 25kg/
tháng (tương đương 90.000 đồng) đối với khu vực thành thị.
Giai đoạn 2001- 2005: Chuẩn nghèo được tính theo bình quân thu nhập đầu
người bằng tiền/ tháng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 80.000 đồng/ người/
tháng, đối với vùng nông thôn miền núi, hải đảo; 100.000 đồng/ ngươi/ tháng, đối
với vùng nông thôn đồng bằng; 150.000 đồng/ người/ tháng đối với khu vực thành
thị.
Giai đoạn 2006-2010: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người
từ 200.000 đồng/ tháng trở xuống, đối với khu vực nông thôn; 260.000 đồng/tháng
trở xuống, đối với khu vực thành thị.


8

9

Hiện nay, cùng với những thành tựu về kinh tế chính trị và xã hội mà đất
nước ta đã đạt được qua hơn 20 năm đổi mới, đời sống của các tầng lớp nhân dân
không ngừng được nâng cao, nhu cầu về vật chất và văn hoá tinh thần ngày càng
phong phú. Vì vậy vấn đề XĐGN phải được tiếp cận và giải quyết theo quan điểm
toàn diện. Bởi lẽ trong giai đoạn hiện nay, khái niệm nghèo đói không chỉ được
hiểu theo nghĩa đói về lương thực, thực phẩm, mà phải được hiểu theo nghĩa rộng
hơn- “đói nghèo về con người”. Khái niệm này cho ta thấy một bức tranh rộng lớn
hơn về tình trạng nghèo đói, nó không chỉ đề cập đến vấn đề thoả mãn những nhu
cầu tối thiểu cơ bản của con người để đảm bảo tồn tại, mà còn đề cập đến tình
trạng thiếu những năng lực cơ bản của con người như thiếu học hành, y tế, hạ tầng
cơ sở và thiếu khả năng tham gia vào sinh hoạt các hoạt động kinh tế chính trị của
đất nước. Chính vì vậy, XĐGN hiện nay phải toàn diện, nằm giúp đỡ tạo điều kiện
cho người nghèo, hộ nghèo vươn lên hoà nhập với cộng đồng cùng phát triển, làm
cho họ có đủ năng lực, trí tuệ và nguồn lực để tự mình có thể xoá bỏ được đói
nghèo trong hiện tại, làm giàu bền vững trong tương lai.
Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, với chủ trương phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, bên cạnh những thành tựu thì nước ta đang đứng trước
những nguy cơ thử thách, trong đó vấn đề đói nghèo và phân hoá giàu nghèo là
vấn đề bức xúc đáng được dành sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và toàn xã hội.
Đảng và Nhà nước ta đã và đang tập trung mọi nỗ lực để XĐGN, đó chính là để
đảm bảo vững chắc cho định hướng XHCN, bảo đảm công bằng xã hội, vì mục
tiêu cao nhất mà chúng ta đang phấn đấu đạt tới là chăm lo tới lơị ích, cuộc sống
cho mọi người lao động. Đảng ta luôn xác định, chính sách xã hội của Đảng và
Nhà nước là biểu hiện đặc trưng nhất của bản chất chế độ XHCN và định hướng
XHCN. Mục đích phát triển kinh tế xã hội phải chứa đựng trong đó bản chất nhân
đạo, nhằm giải phóng con người khỏi đói nghèo, lạc hậu, vươn tới tự do và hạnh
phúc. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng




11

và phát triển”[ ]. Điều đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi xã hội loài người tiến
lên CNXH và cuối cùng là CNCS. Bằng sự phân tích khoa học, trong tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã chứng minh được rằng đó không phải là
một ý tưởng, một mong muốn mà đó là kết quả sự vận động khách quan trong
chính bản thân phương thức sản xuất TBCN. Theo Mác và Ăngghen, cũng giống
như những phương thức sản xuất trước đây, phương thức sản xuất TBCN không
phải là vĩnh cửu, nó cũng mang tính lịch sử. Nó sẽ mất đi khi mâu thuẫn giữa
LLSX và QHSX gay gắt đến mức làm bùng nổ cách mạng xã hội. Và một thời đại
mới sẽ bắt đầu- thời đại của CNXH và CNCS. Thời đại mà trong đó “sự phát triển
tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người”[

]. Xã

hội loài người tiến tới xã hội đó là một tất yếu khách quan, nhưng phải được thực
hiện thông qua hoạt động chủ quan của con người. Và chỉ có giai cấp vô sản mới
có thể đảm nhận sứ mệnh lịch sử đó một cách thành công và triệt để nhằm xoá bỏ
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không có bất công, không có đói nghèo, con người
được giải phóng, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Thực chất đó là giải phóng con
người khỏi những bất công trong quan hệ giữa con người với con người cả về mặt
vật chất, văn hoá và tinh thần. Chỉ có CNXH với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ
công hữu về TLSX chủ yếu của xã hội thì những nhu cầu cơ bản của con người
mới được thoả mãn đầy đủ. Nhưng Mác và Ăngghen cũng khẳng định: “Cái xã hội
mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển
trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa
thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi phương diện kinh
tế, đạo đức tinh thần còn mang những dấu ấn của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra” [

đặc biệt là những người nghèo đói, chịu thiệt thòi. Nguyện vọng tha thiết của cả
cuộc đời Người là: Nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng dược học hành. Ngay từ
những ngày đầu khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ cách mạng lâm
thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vừa đựơc thành lập, ngày đêm phải lo đối


13

phó với thù trong giặc ngoài, nhưng Người vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đến việc
chăm lo cuộc sống cho những người lao động nghèo khổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đặc biệt lưu ý đến vấn đề xoá đói. Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập
trung lực lượng để cùng chống ba thứ giặc là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Trong đó giặc đói được Người đặt lên hàng đầu với lý do: Ngày nay, chúng ta đã
xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước ta được độc lập
mà dân ta không được hưởng rự do hạnh phúc, thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì.
Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kiến quốc ngày
10/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa nhấn mạnh đến bổn phận của
Nhà nước là phải chăm lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở và việc học hành:
“Chúng ta tranh được tự do độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc
lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân
được ăn no mặc đủ.
Chúng ta phải thực hiện ngay:
1-

Làm cho dân có ăn.

2-

Làm cho dân có mặc.


]. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục khẳng

định XĐGN là một chủ trương hàng đầu trong chính sách phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Lần đầu tiên XĐGN đã được đặt ra thành một Chương trình quốc
gia.
Với nhận thức đúng đắn đó, trong những năm qua nước ta đã thực sự trở
thành điểm sáng trên thế giới về xóa bỏ đói nghèo, được cộng đồng thế giới ghi
nhận và đánh giá cao. Đó chính là một nội dung quan trọng biểu hiện rõ ràng nhất
bản chất xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng, góp phần bảo đảm vững chắc cho
định hướng XHCN.
1.1.2. Thực trạng đói nghèo ở nước ta trước năm 2001
Theo chuẩn quốc tế và thu nhập bình quân đầu người, Việt Nam được xếp
vào nhóm các nước nghèo trên thế giới. Trước đổi mới, do nền kinh tế bị khủng
hoảng nghiêm trọng nên đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, hiện tượng
không đủ ăn và đói ăn đứt bữa diễn ra phổ biến, nhất là ở những vùng nông thôn
miền núi, vùng sâu vùng xa. Sau khi đổi mới, nhờ có những chủ trương chính sách
đúng đắn, diện mạo nền kinh tế có nhiều chuyển biến, kích thích sản xuất phát
triển, nhất là sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, nhu cầu về lương thực và tiêu dùng
bước đầu được bảo đảm. Tuy nhiên đời sống của nhân dân vẫn rất khó khăn.
Từ năm 1988, khi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế nông nghiệp và nông thôn được ban hành, kinh tế nông nghiệp tiếp tục
được kích thích phát triển mạnh mẽ. Từ đó đến nay, căn cứ vào tình hình thực tế
của đất nước và thế giới, với tư duy đổi mới toàn diện đất nước theo hướng xây


15

dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách tác động đúng đắn,

16

2,55 lần năm 1994 tới 2,63 lần năm 1995, đến năm 1999 là 3,7 lần. Năm 1994, thu
nhập của 20% số hộ có thu nhập cao nhất so với thu nhập của 20% số hộ có thu
nhập thấp nhất cả nước là gấp 6,5 lần, năm 1997 gấp 7 lần, năm 1999 gấp 7,6 lần
và năm 2001- 2002 là 8,1 lần. Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm hộ giàu và nhóm
hộ nghèo cũng có sự khác nhau giữa các khu vực và vùng miền. Rõ rệt nhất là ở
khu vực Tây Nguyên, năm 1994 hệ số chênh lệch giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ
nghèo là 10,1 lần, năm 1996 là 12,8 lần, đến năm 1999 là 12,9 lần. Ở khu vực
thành thị, hệ số này năm 1994 là 7 lần, năm 1999 là 9,8 lần. Ở khu vực nông thôn,
năm 1994 là 5,4 lần, năm 1999 là 6,2 lần.
Từ phân hoá về thu nhập dẫn đến phân hoá trong chi tiêu và tiếp cận với các
dịch vụ văn hoá xã hội. Những người nghèo, hộ nghèo do thu nhập thấp nên chỉ đủ
để đảm bảo những nhu cầu về ăn, mặc, ở. Tỉ lệ chi tiêu cho việc hưởng thụ các giá
trị phi vật chất là rất thấp, thậm chí là không có. Việc tiếp cận các dịch vụ sản xuất,
các dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế, giải trí) cũng rất khó khăn. Chính vì vậy có một
thực tế đang diễn ra là mặc dù kinh tế tăng trưởng cao, nhưng hiệu quả tác động
đến người nghèo lại rất thấp. Theo một số kết quả của các nhà nghiên cứu cho
thấy, nếu kinh tế tăng trưởng 10% thì người nghèo chỉ được hưởng 1/4 trong số đó.
Trái lại, nhóm hộ giàu do có điều kiện về trình độ kỹ thuật, phương tiện, thông tin
nên có thể khai thác và tận dụng những cơ hội do tăng trưởng kinh tế mang lại.
Điều đó cho thấy rõ được sự tác động hai mặt của tăng trưởng kinh tế đối vấn đề
đói nghèo, Một mặt nó góp phần to lớn vào xoá bỏ đói nghèo, mặt khác nó lại làm
tăng thêm khoảng cách giàu nghèo. Và như vậy, nếu khoảng cách đó tăng quá
nhanh thì hiệu quả hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế của người nghèo còn giảm một
cách tương đối. Xét trên phạm vi cả nước, tỷ lệ chi tiêu của 20% số người nghèo
nhất trong khoảng thời gian 5 năm từ 1993- 1998 lại giảm từ 8,8% xuống còn 8%.
Trong khi đó cùng thời gian trên, chi tiêu của 20% số người giàu nhất lại tăng từ
40,4% lên 43,7%. Năm 1992- 1993, các hộ gia đình giàu nhất ở Việt Nam chi tiêu




18

nhiều so với người nghèo ở khu vực thành thị, mức độ đói nghèo là rất gay gắt,
ranh giới giữa đói và nghèo, giữa thoát nghèo và tái nghèo là rất mong manh. Mức
gia tăng về bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn cũng rất lớn, thể hiện ở mức
chi tiêu trung bình giữa thành thị và nông thôn. Năm 1992- 1993, mức chi tiêu
bình quân hàng năm tính theo đầu người ở thành thị cao gấp 1,8 lần so với ở nông
thôn, đến năm 1997- 1998 mức chênh lệch này đã lên tới 2,2 lần. Sở dĩ có sự khác
biệt như vậy là do đặc trưng chung của những người nghèo ở nông thôn là bị cách
biệt về địa lý, họ thường sinh sống ở vùng núi, vùng sâu vùng xa, đường xá và
phương tiện đi lại khó khăn, lại xa các trung tâm cho nên không tiếp cận được với
thị trường và các dịch vụ kinh tế, xã hội. Hơn nữa, thu nhập của các hộ ở nông
thôn chủ yếu là từ nông nghiệp, không như ở thành thị có thu nhập đa dạng hơn.
Trong điều kiện như vậy họ sẽ dễ gặp phải khó khăn lớn nếu một lao động chính
trong nhà bị đau ốm hoặc gia xúc, gia cầm trong nhà bị bệnh, mùa màng bị thất bát
do thiên tai. Trong khi đó ở thành thị, cuộc sống của những người nghèo mặc dù có
vất vả khó khăn, nhưng dù sao họ cũng gần các trung tâm y tế, giáo dục, dễ tiếp
cận thị trường do cơ sở hạ tầng phát triển. Tuy nhiên họ cũng rất dễ trở thành nạn
nhân của các tệ nạn xã hội, các dịch bệnh nguy hiểm, nhất là trẻ em và phụ nữ.
Ngoài ra, phân hoá giàu nghèo giữa các vùng trong cả nước cũng khá rõ nét.
Sự phân hoá đó có sự khác nhau tuỳ vào từng điều kiện tự nhiên và chính sách đầu
tư phát triển kinh tế- xã hội cua từng vùng. Năm 1997- 1998, vùng có tỷ lệ nghèo
cao nhất là vùng trung du Bắc bộ, vùng giàu nhất là vùng Đông Nam bộ, trong đó
có trung tâm thương mại lớn là Thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 8% dân số
được ghi nhận là những người nghèo. Năm 1997- 1998, người dân miền Đông
Nam bộ chi tiêu bình quận nhiều gấp 2,6 lần so với người dân vùng núi và Tỷunng
du Bắc bộ. Từ năm 1992- 1993 đến 1997- 1998, mức chi tiêu ở miền Đông Nam
bộ tăng 80%- tức là nhanh gấp 3 lần so với vùng nghèo nhất.

điều kiện sinh sống của người dân càng thêm khó khăn, đã nghèo lại càng nghèo


20

thêm và trở nên cách biệt hơn so với vùng thành thị và các vùng khác có điều kiện
thuận lợi hơn.
Thứ ba là: Đói nghèo thường tập trung ở nông thôn gắn với tình trạng thuần
nông. Hiên nay cả nước có khoảng 13 triệu hộ sinh sống ở nông thôn, chiếm 75%
tổng số hộ cả nước. Trong đó 80% số người nghèo là nông dân, trình độ học vấn
thấp, trình dộ hành nghề kém, ít có điều kiện tếp cận với các nguồn lực (vốn,công
nghệ, kỹ thuật, thông tin…), khó tiếp cận với thị trường sản xuất kinh doanh và
gặp nhiều khó khăn trong xác định phương hướng sản xuất kinh doanh.
Thứ tư là: Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam tập trung phần lớn ở cộng đồng
dân tộc thiểu số. Số dân của cộng đồng các dân tộc thiểu số chỉ chiếm koang 14%
tổng dân số cả nước nhưng lại chiếm tới 29% tổng số người nghèo của cả nước.
Thứ năm là: ở những vùng có tỉ lệ nghèo đói cao thì trình độ học vấn, chất
lượng giáo dục đào tạo, chất lượng y tế thấp hơn hẳn so với các vùng khác, nhất là
ở Tây Nguyên và trung du miền núi phía Bắc.
Tóm lại, từ thực trạng đói nghèo và để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi trong những năm tới Đảng và
Nhà nước phải tăng cường lãnh đạo chỉ đạo đối với vấn đề XĐGN. Phải có những
chủ trương chính sách phù hợp, kịp thời, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội, xây dựng xã hội công bằng, văn minh, không còn đói nghèo lạc
hậu, ai cuũng được ăn no, mặc ấm, ai cũng được học hành như mong muốn của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1.2. Chủ trương XĐGN của Đảng từ năm 2001 đến năm 2006
1.2.1. Mục tiêu XĐGN
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 2001- 2005, đất nước ta có nhiều thuận
lợi để thực hiện các chính sách xã hội nói chung và XĐGN nói riêng. Trong hoàn

(GDP) là 7%/ năm. Nông nghiệp phát triển mạnh, ổn định, công nghiệp và xây
dựng đạt được nhiều tiến bộ, các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, cơ cấu kinh tế
đã có nhiều bước chuyển tích cực, quan hệ đối ngoại ngày càng sâu rộng… Qua đó
góp phần tích cực vào việc phục vụ đời sống của nhân dân, nhất là những vùng


22

nghèo, xã nghèo. Đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân được cải
thiện đáng kể.
Vậy tại sao nói nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá lại tạo điều kiện thuận lợi
cho công cuộc XĐGN? Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng tác động qua lại giữa
các vấn đề kinh tế và các vấn đề xã hội, cụ thể ở đây là giữa tăng trưởng kinh tế và
XĐGN.Ở góc độ của đề tài chỉ xét một chiều của mối quan hệ này, đó là sự tác
động của tăng trưởng kinh tế đói với XĐGN. Thông thường chúng ta thấy tăng
trưởng kinh tế cao thì sẽ có tác động tích cực tới XĐGN. Thể hiện ở chỗ nhờ tăng
trưởng kinh tế cao Nhà nước sẽ chi ra được một khoản ngân sách lớn để giải quyết
các vấn đề xã hội như giải quyết việc làm tăng thu nhập cho nhân dân, đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng ở những vùng khó khăn, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển
sản xuất vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, không phải ở mọi quốc gia cứ tăng trưởng
kinh tế cao là các vấn đề xã hội được giải quyết triệt để. Điều đó còn phụ thuộc vào
bản chất của chế độ xã hội. Trong xã hội mà có sự thống trị của quan hệ sản xuất
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, dù tăng trưởng kinh tế
có cao đến đâu thì các vấn đề xã hội cũng chỉ giải quyết có giới hạn, không bao giò
vượt quá lợi ích của giai cấp thống trị. Vì mục tiêu của xã hội đó không phải vì con
người và do con người. Đường lối phát triển kinh tế- xã hội chỉ nhằm phục vụ cho
lợi ích của giai cấp thống trị, nhân dân lao động bị bóc lột, trở thành những người
lao động làm thuê và ngày càng bị bần cùng hoá. Ở chế độ đó, đói nghèo có
nguyên nhân sâu xa là từ gốc rễ của chính bản chất gốc rễ của chế độ xã hôi đó. Vì
vậy tự nó không thể giải quyết được đói nghèo lạc hậu. Chỉ có CNXH với quan hệ

hơn năm trước nên đã tạo ra những điều kiện to lớn để nước ta thực hiện công cuộc
XĐGN có hiệu quả. Biểu hiện trực tiếp nhất là nguồn ngân sách chi cho XĐGN
không ngừng được tăng lên cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Hàng năm tỷ lệ
ngân sách mà Nhà nước chi cho các vấn đề xã hội không ngừng tăng, trung bình
mỗi năm chi 28% ngân sách. Đây là tỷ lệ lớn mà ngay cả nhiều quốc gia phát triển
cũng phải đang phấn đấu để đạt tới.


24

Hơn nữa đối với nước ta, tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian qua thể
hiện sự phát triển nhanh và hiệu quả của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đó là kết quả của những chủ trương chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và
Nhà nước cả về đối nội và đối ngoại. Qua đó giải phóng được mọi tiềm năng của
nền kinh tế, phát huy được trí tuệ và sức sáng tạo trong nhân dân, giúp họ vươn lên
phát triển sản xuất lam giàu chính đáng, góp phần XĐGN.
Qua mối quan hệ trên cho ta thấy, tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là xuất
phát điểm, là tiền đề cho XĐGN bền vững, là cơ sở để Đảng và Chính phủ đầu tư
mọi phương diện để XĐGN. Đó là thuận lợi to lớn nhất, chủ yếu nhất tạo khả năng
cho chúng ta thực hiện thành công mục tiêu XĐGN mà Đại hội IX đã đề ra.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, thì trong thời gian qua những đổi mới trong cơ
chế chính sách XĐGN theo quan điểm toàn diện, công bằng, bền vững và hội
nhập; những chỉ số xã hội không ngừng được cải thiện cũng là điều kiện hết sức
thuận lợi cho công cuộc XĐGN. Cơ chế chính sách đúng đắn, phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế xã hội, phong tục tâp quán của tong địa phương là nhân tố tác
động tíc cực nhất, trước tiên nhất tới XĐGN. Cùng với việc nhận thức ngày càng
đúng đắn và toàn diện hơn về vấn đề XĐGN, trong thời gian vừa qua Đảng và Nhà
nước đã không ngừng đổi mới, cải tiến cơ chế chính sách cho phù hợp, đảm bảo
tác động đúng đối tượng, phát huy tính chủ động tích cực của từng địa phương,
từng vùng miền và sự nỗ lực cố gắng của chính những người nghèo, hộ nghèo. Do

Ngoài ra việc xây dựng và nhân rộng được nhiều mô hình XĐGN có hiệu
quả trong nhân dân cũng là một thuận lợi to lớn, thiết thực. Từ khi XĐGN trở
thành một phong trào xã hội, với sự giúp đỡ của các cấp các ngành, nhất là sự giúp
đỡ của đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN, nhiều mô hình XĐGN có hiệu quả đã
xuất hiện, mang lại thu nhập cao cho nhân dân ở những vùng nghèo, xã nghèo.
Nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất nên năng suất lao dộng không ngừng được nâng cao, bước đàu đáp ứng được
những nhu cầu cơ bản về vật chất, văn hoá và tinh thần của những người nghèo, hộ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status