LUẬN án TIẾN sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo đất nước hội NHẬP KINH tế từ năm 1991 đến năm 2001 - Pdf 38

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực Chung của AFTA

CEPT

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH, HĐH

Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

APEC

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FDI

Hiệp hội các nước Đông Nam Á


Tổ chức thương mại thế giới

WTO

Tư bản chủ nghĩa

TBCN

Viện trợ phát triển chính thức

ODA

Xã hội chủ nghĩa

XHCN


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay khu vực hoá, toàn cầu hoá đã trở thành xu thế chung của tất cả các quốc gia trên thế
giới. Quá trình ấy diễn ra hết sức sôi động đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, đây là một tất yếu
khách quan, bắt nguồn từ sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại yếu tố hàng đầu tạo nên bước phát triển đột phá về chất của lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá
kinh tế vừa tạo thời cơ lớn, vừa làm nảy sinh không ít nguy cơ, thách thức nghiêm trọng đối với
sự phát triển ổn định, bền vững của từng quốc gia, cũng như của cả cộng đồng quốc tế. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX nhận định: Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn
ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa thúc đẩy hợp tác,
vừa tăng sức ép cạnh tranh. Từ nhận định đó, Đảng chủ trương HNKTQT và khu vực theo tinh
thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định
hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
HNKTQT là một quá trình đi liền với toàn cầu hoá kinh tế mà trọng tâm là mở cửa kinh tế,

Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - vấn đề và giải pháp, của Bộ ngoại giao,


Vụ hợp tác kinh tế đa phương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002; Quá trình Việt Nam hội
nhập khu vực châu Á - Thái Bình Dương theo đường lối đổi mới của Đảng , của Đinh Xuân Lý,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003; Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập phát
triển của nước ta, của Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004; Việt Nam với tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới, của Phan Thanh Phố, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005. Các công trình trên, đã bàn khá
rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhóm các bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí, tiêu biểu: “Toàn cầu cơ hội và
thách thức trong tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế với khu vực và Thế giới”, của Cao Sĩ
Kiêm, Tạp chí Cộng sản, (4), năm 1999; “Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong quá
trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, của Trung Hiếu, Tạp chí Lý luận Chính trị, (3), năm
2003; “Đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta - quá trình hình thành và kết quả bước
đầu”, của Nguyễn Hoàng Giáp, Tạp chí Lịch sử Đảng, (11), năm 2003; “Xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế”, của Phan Trọng Phức, Tạp chí
Cộng sản, (25), năm 2003; “Vấn đề cần quan tâm trong mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế”, của
Phan Tá, Tạp chí Cộng sản, (33), năm 2003; “Những thành tựu bước đầu của Việt Nam về hội
nhập kinh tế quốc tế”, của Hoàng Xuân Hoà, Tạp chí Lý luận Chính trị, (6), năm 2004; “Một số
vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế”, của Vũ Văn Hiền, Tạp chí Cộng sản, (10), năm 2004. Đã
tiếp cận dưới các góc độ khác nhau trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhóm các luận án, luận văn có các công trình: Công cuộc đổi mới với sự phát triển nhận thức
về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986 – 1994), Luận án
tiến sĩ lịch sử, của Đoàn Ngọc Hải, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 1995; Độc
lập, tự chủ và sáng tạo trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới (1986 – 1996), Luận án tiến sĩ lịch sử,


của Doãn Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 1998; Đặc điểm công cuộc
đổi mới ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ lịch sử, của Tường Thuý Nhân , Học viện Chính trị quốc gia

quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về HNKTQT làm cơ sở lý luận nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn sử dụng là phương pháp lịch sử, phương
pháp lô gích và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó. Đồng thời luận văn sử dụng một số phương
pháp khác như: đồng đại, lịch đại, so sánh, tổng hợp, thống kê...
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng lãnh đạo HNKTQT từ 1991đến
2001; đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo
HNKTQT ở nước ta. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy môn
khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong các trường quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


Chương 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ TỪ 1991 ĐẾN 2001
1.1. Yêu cầu khách quan của việc hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
HNKTQT có liên quan trực tiếp với toàn cầu hoá kinh tế, là quá trình đồng hành với quá trình
toàn cầu hoá kinh tế. Dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế, thì nhu cầu HNKTQT cũng xuất
hiện. Có thể coi HNKTQT và toàn cầu hoá kinh tế là hai mặt của một quá trình, không thể có
toàn cầu hoá kinh tế nếu không có sự tham gia ngày càng nhiều của các quốc gia, dân tộc. Toàn
cầu hoá kinh tế là tất yếu kinh tế và trở thành một quá trình vận động mạnh mẽ của kinh tế thế
giới. HNKTQT là đòi hỏi khách quan và đang là lực hấp dẫn, vẫy gọi đối với mọi khu vực và
mọi quốc gia.
Khi nghiên cứu giai đoạn phát triển thấp của CNTB, giai đoạn đang diễn ra cuộc cách mạng
công nghiệp, C. Mác và Ph. Ăngghen không dùng thuật ngữ “toàn cầu hoá”, nhưng hai Ông đã
phát hiện ra xu thế vận động của nó. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), C. Mác và
Ph. Ăngghen đã đưa ra dự báo rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến
phân công lao động xã hội rộng rãi mở rộng sự trao đổi hàng hoá trên phạm vi thế giới, hình


Như vậy, toàn cầu hoá kinh tế không chỉ là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoá sản xuất,
của tốc độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự thúc đẩy của khoa học, kỹ
thuật và công nghệ hiện đại, mà nó còn là kết quả tất yếu của sự phát triển sâu rộng nền kinh tế
thị trường trên phạm vi toàn thế giới, sự gia tăng phân công lao động quốc tế, sự mở rộng hơn
nữa trong không gian và thời gian các mối quan hệ giao lưu phổ biến của loài người và sự xuất
hiện những vấn đề toàn cầu cấp bách.
Khi CNTB đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, thời kỳ mà sự tác động lẫn nhau đã trở nên
hết sức cấp bách của hai xu hướng thế giới: Một mặt là xu hướng quốc tế hoá, hội nhập kinh tế
và toàn bộ đời sống kinh tế xã hội và mặt khác là xu hướng biệt lập, xây dựng các nhà nước độc
lập. Hai xu hướng trên đã được V.I.Lênin phân tích một cách khoa học và hết sức sâu sắc, tiếp
tục vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử mới. Ngay từ năm 1913,
V.I.Lênin đã ghi nhận rõ ràng sự cách tân của lịch sử thế giới, sự chuyển biến trong sự tác động
lẫn nhau của các xu hướng biệt lập và xích lại gần nhau của các dân tộc ở đầu thế kỷ XX:
Trong quá trình phát triển của CNTB, có hai xu hướng lịch sử trong vấn đề dân tộc. Xu
hướng thứ nhất là: Sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu
tranh chống lại mọi áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc. Xu hướng thứ hai là: Việc
phát triển và tăng cường đủ mọi thứ quan hệ giữa các dân tộc, việc xoá bỏ những hàng rào ngăn
cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản của đời sống kinh tế nói
chung, của chính trị, của khoa học... cả hai xu hướng đó là qui luật phổ biến, của chủ nghĩa tư
bản. Xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế trong lúc chủ nghĩa tư bản mới bắt đầu phát triển, xu
hướng thứ hai là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản già cỗi sắp chuyển thành xã hội xã hội chủ nghĩa
[38, tr. 58].


V.I.Lênin không phủ nhận xu hướng nào, mà thừa nhận sự tồn tại khách quan của chúng và
kêu gọi các nhà chính trị phải tính đến chúng. Xu hướng xích lại gần nhau tuy chưa có tính chất
toàn cầu và V.I.Lênin miêu tả nó bằng khái niệm “quốc tế hoá” nhưng đằng sau xu hướng đó,
V.I.Lênin đã chỉ ra đó là tương lai: “Biến thành xã hội XHCN” và bằng mọi cách phải sử dụng nó
để đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa dân tộc tư sản. Đồng thời, V.I.Lênin cũng chỉ

triển cao độ đòi hỏi phải phá vỡ các rào cản thương mại giữa các quốc gia, xoá bỏ sự hỗ trợ mậu
dịch để các luồng tư bản (vốn), lao động... được tự do lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Như
vậy, giữa quốc tế hoá nền kinh tế và toàn cầu hoá kinh tế có đặc điểm chung đều là kết quả của
sự phát triển lực lượng sản xuất, phân công và hợp tác lao động.
Cùng với toàn cầu hoá, HNKTQT vừa là đòi hỏi khách quan của kinh tế quốc tế nói chung,
vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Hội nhập giúp cho việc mở rộng cơ
hội kinh doanh, thâm nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có
điều kiện thuận lợi để xây dựng kế hoạch và cơ cấu đầu tư, sản xuất kinh doanh, giải quyết việc
làm, phát triển kinh tế trong nước.
Quá trình HNKTQT diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau và nhiều phương thức khác nhau. Tuỳ
theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể, tuỳ theo thời gian và không gian cụ thể mà sự tham gia hội


nhập quốc tế được thực thi theo các cấp độ như: Song phương, tam giác, tứ giác, tiểu khu vực,
khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Các cấp độ hội nhập này được biểu hiện dưới nhiều vẻ khác
nhau, có thể từ thấp tới cao, từ đơn phương, song phương đến đa phương, nhưng cũng có khi hội
nhập tiến hành cùng một lúc với nhiều cấp độ. Về mặt phương thức hội nhập cũng diễn ra rất đa
dạng: Khu vực mậu dịch ưu đãi, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung,
liên minh kinh tế...
Ở cấp độ đơn phương, mỗi nước có thể chủ động thực hiện những biện pháp thuận lợi hoá,
mở cửa trong một số lĩnh vực nhất định mà họ thấy cần thiết vì mục đích phát triển kinh tế của
mình, chứ không nhất thiết phải do sức ép hay quy định của các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế
mà họ là thành viên. Rất nhiều nước đã hành động như vậy, nhất là trong lĩnh vực đầu tư. Ở cấp
độ song phương, nhiều nước đã và đang tích cực đàm phán để ký với nhau các hiệp định song
phương trên cơ sở các nguyên tắc của một khu mậu dịch tự do. Những năm gần đây, xu hướng
này khá phát triển cùng với sự hình thành, mở rộng các khu mậu dịch tự do đa phương. Ở cấp độ
đa phương, nhiều nước cùng nhau thành lập hoặc tham gia vào những định chế, tổ chức kinh tế
khu vực thường vận hành trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng của WTO.
Các tổ chức kinh tế thương mại khu vực đều dựa trên nền tảng, tuân thủ các nguyên tắc của
WTO. Chúng ra đời là nhằm mục tiêu thúc đẩy hợp tác, thực hiện tự do hoá, thuận lợi hoá

tế, các thành viên phải là những nền kinh tế theo cùng một mô típ (cùng mô hình kinh tế thị


trường). Khi hội nhập đạt đến mức cao, đòi hỏi các thành viên phải có trình độ phát triển kinh tế
không quá chênh lệch nhau. Về mặt chính trị - xã hội, sự khác biệt về hệ thống chính trị - xã hội
giữa các thành viên cũng là những cản trở đối với quá trình hội nhập. Khi mức độ hội nhập càng
sâu, thì những đòi hỏi đồng nhất về hệ thống chính trị - xã hội cũng càng cao. Bởi lẽ, hội nhập ở
mức cao, thì các thành viên phải phối hợp và thống nhất chính sách chung không chỉ trong lĩnh
vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực chính trị - xã hội. Thời kỳ chiến tranh lạnh, những đòi hỏi về
mặt kinh tế cũng như về mặt chính trị - xã hội đối với các thành viên của cùng một định chế hoặc
tổ chức kinh tế quốc tế nhìn chung rất chặt chẽ. Lúc đó, sự khác biệt về bản chất của hệ thống
kinh tế, chính trị, xã hội là yếu tố không thể chấp nhận được đối với các thành viên của cùng một
định chế hoặc tổ chức kinh tế quốc tế. Về mặt địa lý, những tổ chức kinh tế khu vực thường bao
hàm yếu tố gần nhau về địa lý giữa các nước. Tuy nhiên, giờ đây, các tiêu chí này ngày càng
không còn là đòi hỏi bắt buộc đối với nhiều định chế, tổ chức khu vực nữa.
1.1.2. Những cơ hội và thách thức của các nước trong hội nhập kinh tế quốc tế
Những cơ hội trong hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hoá và HNKTQT tạo ra những cơ hội mà các nước có thể tận dụng để đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân. Toàn cầu hoá và HNKTQT là
quá trình thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, làm cho các rào cản đối với trao đổi thương mại và
đầu tư bị loại bỏ dần. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để các nước tăng cường buôn bán, trao đổi
quốc tế, thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn nội lực nhằm phát triển
những ngành sản xuất mà mỗi nước có khả năng nhất và hiệu quả nhất. Nhờ toàn cầu hoá, tăng
cường HNKTQT, tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế, các nước, nhất là các quốc
gia đang phát triển, nhận được nguồn vốn bổ sung thông qua FDI, những dây chuyền sản xuất,
công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm, tri thức quản lý kinh tế tiên tiến. Do vậy, có cơ hội tăng tốc sự


phát triển kinh tế, thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, có thêm nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã
hội.

HNKTQT được phân phối không đồng đều, không công bằng không chỉ giữa các nước, mà còn
cả giữa các tầng lớp, bộ phận dân cư, giữa các vùng, địa phương trong từng nước.
Toàn cầu hoá kinh tế và HNKTQT tạo nên thách thức đối với độc lập dân tộc chủ quyền quốc
gia, làm xói mòn quyền lực của Nhà nước nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Quá trình hội nhập kinh
tế đặt ra những vấn đề phải xử lý, liên quan đến độc lập chủ quyền, đến hệ thống chính trị và các
thiết chế xã hội. Tính độc lập của mỗi quốc gia sẽ bị thách thức. Điều này được thể hiện đặc biệt
rõ nét trong lĩnh vực kinh tế. Tham gia vào các tổ thức kinh tế, thương mại khu vực và toàn cầu,
để thu hút đầu tư của các đối tác bên ngoài, các Chính phủ buộc phải nhượng một phần quyền
quyết định, quản lý sản xuất kinh doanh, kiểm soát lưu thông của các dòng tài chính, đầu tư cho
các thể chế quốc tế và các đối tác. Việc các nước mở cửa với bên ngoài, cho phép các đối tác
bên ngoài vào làm ăn, kinh doanh trên lãnh thổ của mình, tạo khe hở, dễ bị các thế lực thù địch
tận dụng để tăng cường hoạt động chống phá, đe dọa an ninh, chủ quyền quốc gia.
Toàn cầu hoá và HNKTQT làm cho nhiều mặt hoạt động và đời sống của con người trở nên
kém an toàn hơn: Từ lĩnh vực kinh tế tài chính tiền tệ, đến lĩnh vực văn hoá xã hội, môi trường.


Trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNKTQT cũng phát sinh hàng loạt vấn đề toàn cầu như: Ô
nhiễm môi trường tự nhiên, bệnh tật hiểm nghèo, xung đột tôn giáo, sắc tộc, mở rộng hoạt động
của tội phạm quốc tế, chủ nghĩa khủng bố...
Ngoài những tác động tiêu cực và thách thức do toàn cầu hoá và HNKTQT gây ra, thì các
nước lựa chọn con đường phát triển theo định hướng XHCN (như Việt Nam chúng ta) tham gia
toàn cầu hoá và tiến hành HNKTQT còn phải đối mặt với một thách thức không nhỏ mang tính
chính trị. Đó là, nguy cơ chệch hướng XHCN.
Từ những phân tích ở trên cho thấy, HNKTQT giờ đây đã trở thành một xu hướng tất yếu,
một điều kiện, tiền đề không thể thiếu cho sự phát triển thịnh vượng của các quốc gia trong cộng
đồng thế giới. Vấn đề đặt ra không chỉ là sự nhận thức rõ ràng xu thế tất yếu ấy, mà điều quan
trọng hơn là xây dựng được chiến lược, đưa ra được hệ những giải pháp phù hợp với tình hình
quốc tế, và điều quan trọng nhất là phải phù hợp với trình độ phát triển của đất nước. Để
HNKTQT thành công, cần phải có không chỉ quyết tâm, ý chí chính trị, mà còn phải có thực lực,
đường lối chiến lược, sách lược hợp lý và đặc biệt là phải kịp thời nghiên cứu, học tập kinh



Trong xúc tiến thương mại, đặc biệt là xúc tiến xuất khẩu, mới thật sự là trọng tâm ưu tiên và
chìa khoá quan trọng cho sự thành công của Nhật trong suốt quá trình HNKTQT ở cả cấp chính
phủ lẫn tập đoàn doanh nghiệp. Phát triển và mở rộng quy mô các quan hệ giữa hoạt động nghiên
cứu khoa học - công nghệ và nghiên cứu tiếp thị - xúc tiến thương mại.
Như vậy, với việc hình thành phát triển và ngày càng mở rộng quy mô, đồng bộ và tự chủ
hơn, tổ chức xúc tiến thương mại ở Nhật Bản cho thấy vai trò tích cực của chính phủ trong việc
kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ với nghiên cứu tiếp
thị xúc tiến thương mại. Điều này càng được thể hiện đậm nét qua việc triển khai những đổi mới
quan trọng về cơ chế quản lý và xúc tiến thương mại nó được đặt ra trong thực tiễn hoạt động
của bộ Ngoại giao và các bộ ngành khác
Tất cả các cơ quan xúc tiến thương mại của Nhật Bản đều là cơ quan phi lợi nhuận, được xếp
vào nhóm các cơ quan sự nghiệp phúc lợi công cộng, trực thuộc chính phủ và không phải là cơ
quan quản lý. Chúng có mạng lưới toả rộng khắp trong và ngoài nước làm nhiệm vụ theo dõi
những thay đổi về chính sách thuế quan, thị hiếu tiêu dùng, sức cạnh tranh, thăm dò, tìm kiếm
đối tác tiềm năng ở nước ngoài, rồi chuyển thông tin về nước phục vụ các doanh nghiệp, đồng
thời làm nhiệm vụ thành lập các phòng trưng bày, triển lãm ở nước ngoài cho sản phẩm xuất
khẩu của Nhật Bản. Các cơ quan này nhận được tài trợ từ nhiều nguồn: Nguồn ngân sách nhà
nước tập trung được cấp trực tiếp, nguồn thu phí hội viên, lệ phí dịch vụ và các hoạt động có thu
khác...
Để tăng cường sức cạnh tranh trong HNKTQT cho khu vực doanh nghiệp, Nhật Bản rất quan
tâm đến việc thành lập các hiệp hội và tổ chức hỗ trợ toàn diện các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
nhất là về tín dụng và bảo lãnh tín dụng, tư vấn, cho doanh nghiệp, đổi mới giáo dục nhận thức


và đào tạo tay nghề cho công nhân, tạo cơ hội phát triển những ngành công nghệ mới, linh hoạt
hoá thị trường lao động.
Tiến hành “mở cửa” toàn diện hơn hầu hết các lĩnh vực hàng hoá, lao động, tài chính, xây
dựng và đầu tư... , cải thiện môi trường pháp lý văn hoá và kinh doanh của mình phù hợp cam

trọng nhập khẩu sản phẩm trung gian giảm dần, do nhiều nước ASEAN đã tự sản xuất được các
sản phẩm trung gian ở trong nước, thay vào đó, tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá có hàm lượng công
nghệ cao như máy móc, thiết bị công nghiệp tăng lên.
Các nước trong khu vực đều coi trọng tự do hoá kinh doanh của khu vực tư nhân và Nhà
nước, chú ý sử dụng linh hoạt các biện pháp ưu đãi về thuế, trợ giúp xuất khẩu và thực thi chính
sách tỷ giá linh hoạt. Phương thức “hàng đổi hàng”, “thanh toán bồi hoàn”, “mua bán trả chậm”
cũng được vận dụng mền dẻo để khắc phục tình trạng khó khăn về thị trường và ngoại tệ nhằm
hỗ trợ tích cực xuất khẩu.
Trong quá trình HNKTQT kết hợp hai chiến lược: “sản xuất thay thế nhập khẩu” với “sản
xuất hướng vào xuất khẩu” để khai thác các khía cạnh tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực
của cả hai chiến lược này. Nhưng xu hướng chuyển dịch trọng tâm từ “thay thế nhập khẩu” sang
“hướng về xuất khẩu” đã thắng thế ở một loạt nước Đông - Nam Á.


Từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước trong khu vực có thể rút ra một số kinh
nghiệm như sau:
Một là, trong cách thức lựa chọn thị trường, các nước này đều đặt trọng tâm ưu tiên vào xây
dựng và phát triển các thị trường có dung lượng lớn, sức tiêu thụ cao ở các nước phát triển nhằm
khai thác tối đa các lợi thế cạnh tranh của mình. Đồng thời, xuất khẩu lẫn sang nhau trong khuôn
khổ AFTA cũng được nhiều nước ASEAN coi trọng.
Hai là, thực hiện chính sách đa dạng hoá thị trường cũng được nhấn mạnh nhằm mục tiêu xác
lập cơ cấu cân bằng giữa các thị trường trong khu vực và toàn thế giới, để vừa mở rộng thị
trường, phát triển ngoại thương, khuyến khích xuất khẩu, vừa tránh được sự phụ thuộc quá mức
vào một thị trường nào đó.
Ba là, một số nước chuyển từ chính sách ưu tiên thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất
khẩu, mở cửa HNKTQT. Nhiều biện pháp được áp dụng đồng bộ: hoàn thiện môi trường pháp
lý, tự do hoá thị trường hối đoái, tự do hoá nhập khẩu; Nhà nước tăng cường hỗ trợ tài chính cho
các tập đoàn doanh nghiệp lớn nhanh chóng vươn mình ra thị trường nước ngoài; ưu đãi tài chính
- tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, miễn thuế cho các hoạt động gia công xuất khẩu,
miễn thuế nhập nguyên liệu, máy móc để gia công, cho vay tín dụng lãi xuất thấp, khuyến khích

doanh; hỗ trợ tăng sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước theo cả hai hướng


khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tích cực hỗ trợ phát triển các tập đoàn
kinh doanh lớn, định hướng hoạt động xuyên quốc gia, xúc tiến các hoạt động thương mại và vận
động đầu tư nước ngoài, đi đôi với khuyến khích các doanh nghiệp trong nước và đầu tư ra nước
ngoài. Đặc biệt, việc cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
sản xuất trong nước hoà nhập với sự phân công lao động và liên kết kinh tế quốc tế đều được các
nước dành sự ưu tiên hàng đầu.
1.1.4. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trước những năm đổi mới toàn
diện đất nước
Kế thừa và vận dụng sáng tạo những tư tưởng trên của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
thực tế Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, coi đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của cách mạng Việt Nam, đặt nền
móng, cơ sở hình thành đường lối chiến lược HNKTQT của ta sau này. Trong thư gửi Tổng thư
ký Liên hợp quốc tháng 12/ 1946 Hồ Chí Minh viết:
Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật
nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình,
b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn
bán và quá cảnh quốc tế.
c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo
của Liên hợp quốc [48, tr.470].
Khi chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, đất nước mới giành được độc lập, với tầm nhìn
xa, trông rộng và bằng tư duy sắc sảo của một lãnh tụ thiên tài, Hồ Chí Minh đã hình thành nên


tư tưởng chiến lược kinh tế mở, đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng, đạt tầm hiện đại, xuyên thế
kỷ XX.
Sau chiến tranh Thế giới thứ hai, thế giới chia làm hai phe XHCN và CNTB. Trước tình hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status