1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi trên bán đảo Đông
Dương, núi sông liền một dải; nhân dân hai nước cùng có truyền thống cần cù
sáng tạo, đã có mối liên hệ qua lại thân thiết từ lâu đời. Trải qua quá trình đấu
tranh lâu dài, gian khổ, hai dân tộc đã luôn luôn đoàn kết, kề vai sát cánh bên
nhau trong đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi
nước. Hơn 80 năm qua, kể từ ngày có Đảng lãnh đạo, mối quan hệ hữu nghị
đặc biệt giữa hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn
Phômvihản cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp
không ngừng đơm hoa kết trái. Mối quan hệ thủy chung, trong sáng hiếm có
này đã đi suốt chặng đường lịch sử vẻ vang, trở thành tài sản vô giá của hai dân
tộc và nhân dân hai nước; là biểu hiện sinh động của sự kết hợp nhuần nhuyễn
chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, là mẫu mực về
chính sách láng giềng hữu nghị giữa hai nước. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đánh
giá: "Mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào đời đời là niềm tự hào của hai dân tộc
chúng ta. Đó là quan hệ mẫu mực hiếm có, vô cùng trong sáng, rất mực thủy
chung, gian khổ không đổi thay, đạn bom không lay chuyển" [49, tr.120].
Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và quân dân Việt Nam thực hiện
nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào theo quan điểm: giúp nhân dân nước
bạn là tự giúp mình của Chủ tịch Hồ Chí Minh “như một chân lý vĩnh hằng,
thể hiện bản chất cách mạng trong sáng, cao quý của quan hệ dân tộc - quốc tế
trong thời đại mới” [82, tr.16].
Mối quan hệ ấy càng thể hiện rõ nét, sinh động giữa các tỉnh có chung
đường biên giới, từng chung lưng đấu cật nhằm chống lại âm mưu của các thế
lực ngoại xâm, để cùng tồn tại và phát triển, trong đó, có tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn.
Tỉnh Hà Tĩnh gần gũi với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn về địa lý,
cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và có những điểm tương đồng về
dạng hóa quan hệ đối ngoại; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; đặc
biệt là việc thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, các nội dung hợp tác mang
tính chiến lược Việt Nam - Lào đang đi vào chiều sâu, nhiệm vụ xây dựng mối
quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh
Bôlykhămxay và Khămmuộn càng được tích cực đẩy mạnh và tăng cường.
3
Do đó, việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hợp tác
với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ ngày tái lập
tỉnh đến năm 2010, nhằm tổng kết, đánh giá những thành tựu đạt được, chỉ rõ
những hạn chế, khiếm khuyết, qua đó đúc rút những kinh nghiệm trong quá
trình hoạch định chủ trương cũng như trong tổ chức triển khai thực hiện, nhằm
góp phần thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ với hai tỉnh bạn là việc làm cần thiết.
Đồng thời, nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hợp tác
với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong chặng
đường gần 20 năm đổi mới góp phần tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện chính
sách đối ngoại rộng mở của Đảng trên một địa phương cụ thể, có nhiều đặc thù
cả về điều kiện tự nhiên và lịch sử. Trên cơ sở đó, luận án không chỉ làm phong
phú thêm lịch sử hoạt động đối ngoại của Đảng, mà còn góp phần nghiên cứu
toàn diện hơn về lịch sử Đảng bộ địa phương, cung cấp cơ sở lịch sử để giáo dục
và phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân tỉnh Hà Tĩnh với nhân
dân tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn, góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ
hợp tác lâu dài, toàn diện, bền vững giữa hai nước Việt Nam - Lào trong điều
kiện lịch sử mới.
Xuất phát từ ý nghĩa nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh
lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và
Khămmuộn (Nước CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010" làm đề tài
luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
nước bạn Lào cùng chung biên giới;
- Đúc kết các kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
xây dựng và phát triển mối quan hệ quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với
tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến
năm 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quá trình hoạch định chủ trương và lãnh đạo tổ chức
thực hiện nhiệm vụ tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 1991 - 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng
mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay và
Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến năm 2010, trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ,
5
an ninh quốc phòng, công tác biên giới, hoạt động tình nghĩa, giao lưu hữu
nghị nhân dân.
Về không gian: các hoạt động quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn
diện trên địa bàn ba tỉnh: tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Bôlykhămxay và tỉnh Khămmuộn
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng quan hệ
hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà
Tĩnh giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
- Kết quả khảo sát thực tế và phỏng vấn một số nhân chứng lịch sử tại tỉnh
Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn.
5. Đóng góp của luận án
- Qua sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, khảo sát thực tế về ba tỉnh, Luận án
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn
diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn trong thời gian từ
năm 1991 đến năm 2010.
- Đánh giá một cách khách quan thực trạng, những kết quả đạt được,
những khó khăn, hạn chế, bất cập trong quá trình hoạch định chủ trương và
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó, luận án góp phần
giúp cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các tập thể, cá nhân lên quan có
thêm căn cứ khoa học và tư liệu thực tiễn để tham khảo, vận dụng trong quá
trình tham mưu, xây dựng chủ trương cũng như việc tổ chức triển khai thực
hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác giữa
tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn trong thời gian tới.
- Luận án góp phần cung cấp thêm nguồn thông tin, tư liệu để có cái nhìn
toàn cảnh, có hệ thống về quan hệ hữu nghị hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh
Bôlykhămxay và Khămmuộn giai đoạn 1991 - 2010, từ đó góp phần giáo dục
truyền thống, làm phong phú thêm lịch sử Đảng bộ và lịch sử địa phương tỉnh
Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 03 chương nội dung, 6 tiết
7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
nâng cao hiệu quả mối quan hệ, hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước, Bộ
Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X) và Bộ Chính trị Đảng Nhân dân
cách mạng Lào (khóa VIII) đã quyết định tổ chức hợp tác cùng biên soạn công
trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam (19302007)”[68]. Công trình gồm có 6 sản phẩm: “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt
Nam - Lào; Lào - Việt Nam 1930 -2007”; Văn kiện Đảng và Nhà nước; Biên
niên sự kiện; Hồi ký; tập Sách ảnh tư liệu và bộ phim “Bản anh hùng ca quan
hệ Việt - Lào”.
Ðây là công trình có quy mô lớn nhất từ trước tới nay về mối quan hệ đặc biệt
giữa hai nước, được Bộ Chính trị và Ban Bí thư của hai Ðảng trực tiếp chỉ đạo.
Công trình được nghiên cứu, biên soạn công phu, mang tầm vóc lớn lao của mối
quan hệ đặc biệt giữa hai Ðảng, hai Nhà nước, hai dân tộc và nhân dân hai nước,
đúng với quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị Ðảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng
Nhân dân Cách mạng Lào. Công trình đã tái hiện sinh động lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; làm sáng tỏ quy luật tất yếu, khách quan hai dân
tộc phải đoàn kết, nương tựa vào nhau, chống lại kẻ thù chung trong chiến tranh
giải phóng dân tộc trước đây và cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi” trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Công trình đã góp phần tổng kết, phân tích,
đánh giá những đặc điểm của mối “quan hệ đặc biệt” và đúc kết những bài học kinh
nghiệm, đồng thời gợi mở những vấn đề vận dụng vào hiện tại và tương lai. Bộ
sách thuộc công trình đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011,
2012. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về Đảng Cộng sản cầm quyền và xây dựng đảng cầm quyền trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và kinh tế hàng hóa
theo cơ chế thị trường định hướng XHCN ở Lào, phân tích những tương đồng và
khác biệt của công tác xây dựng đảng cầm quyền ở Việt Nam và Lào, cuốn sách đề
ra một số giải pháp nhằm xây dựng đảng cầm quyền ở Việt Nam và Lào, làm sáng
tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng đảng cầm quyền ở hai nước.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về Lào và một số nước trong khu
vực cũng ít nhiều đề cập đến mối quan hệ với Việt Nam như: "Góp phần
biệt, nhiều công trình nghiên cứu đã phản ánh khá toàn diện và sâu sắc tình
đoàn kết chiến đấu cùng những thắng lợi vẻ vang của quân và dân hai nước
trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
xâm lược; quá trình hoạch định, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách
ngoại giao, những thành tựu đã đạt được trong quan hệ hợp tác giữa hai Đảng,
hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, một số công trình nghiên cứu đã đề cập
khá sâu sắc những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm trong quan hệ hợp
tác giữa các ngành, các lĩnh vực của hai nước trong sự nghiệp đổi mới.
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu, các nguồn tài liệu chúng tôi
tiếp cận được, quan hệ hợp tác giữa các địa phương, nhất là các tỉnh có chung
đường biên giới hai nước chưa được đề cập, hoặc chỉ dừng lại ở việc nêu ví dụ
điển hình, một số sự kiện, những vấn đề có tính chất sự vụ, thiếu tính tính toàn
diện, hệ thống. Cho đến nay, chưa có những công trình chuyên khảo, luận án
nghiên cứu một cách hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây
12
dựng quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh
cùng chung biên giới.
Về quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn:
Các bài viết được đăng trên các báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học
ở Trung ương và địa phương đã khai thác, đề cập đến một số nội dung về
quan hệ hợp tác giữa các tỉnh trên các lĩnh vực, nhất là quan hệ hữu nghị hợp
tác, liên minh chiến đấu của quân dân các tỉnh trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hợp tác về chính trị, an ninh, quốc
phòng, đối ngoại... trong thời kỳ đổi mới.
Phần lớn nội dung các bài viết đề cập đến những kết quả đạt được, những
khó khăn, hạn chế, những vấn đề đặt ra hiện nay trong quá trình hợp tác giữa các
cứu, làm sáng tỏ những nội dung sau:
- Cơ sở lịch sử hình thành mối quan hệ quan hệ hợp tác của tỉnh Hà Tĩnh
với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn (điều kiện tự nhiên, lịch sử, truyền thống,
văn hóa... của ba tỉnh).
- Cơ sở lý luận (đặt trong bối cảnh chung của cả nước và đường lối đối
ngoại của Trung ương Đảng) và thực tiễn hình thành chủ trương của Đảng bộ
tỉnh Hà Tĩnh xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn giai đoạn 1991 - 2010.
- Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo xây dựng và phát
triển mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với hai tỉnh bạn theo
tiến trình lịch sử, được phân chia thành hai giai đoạn căn cứ theo phân kỳ các
nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh; Đồng thời, khắc họa quá trình phát triển nhận
thức của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình lãnh đạo thực hiện qua hai giai
đoạn (1991-2000 và 2001-2010).
- Phục dựng bức tranh chân thực về quá trình quán triệt đường lối đối
ngoại của Đảng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều điểm đặc thù, với những
khó khăn và thuận lợi nhất định, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, giáo dục, an ninh - quốc phòng... qua hai giai đoạn từ năm 1991 đến năm
2000 và từ năm 2001 đến năm 2010.
- Từ những tư liệu khai thác được qua khảo sát thực tiễn, tổng kết, nhận
định một cách khách quan những thành công, những hạn chế, khiếm khuyết
trong quá trình hoạch định chủ trương cũng như trong quá trình chỉ đạo thực
hiện của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về lãnh đạo thực hiện xây dựng, phát triển quan
hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn trong gần 20 năm đổi mới
(1991-2010).
14
Từ những thành công, hạn chế khiếm khuyết trong lãnh đạo thực hiện
biên giới giữa tỉnh Hà Tĩnh và Bôlykhămxay, Khămmuộn có 12 cột mốc
quốc giới. Nội biên có 9 xã biên giới thuộc 3 huyện là Hương Sơn, Hương
Khê và Vũ Quang; có 5 Đồn biên phòng (575, 571, 567, 565, 563). Ngoại
biên đối diện có 35 bản thuộc hai huyện Căm Cợt (Bôlykhămxay) và Na Kai
(Khămmuộn); lực lượng vũ trang đóng trên biên giới của bạn có 2 đơn vị
(Đồn 505 - Nậm Phào và Đồn 515 - Ma Ca).
Tỉnh Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 6.055,6 km2. Năm 2010, dân số Hà
Tĩnh khoảng 1,3 triệu người; Đảng bộ tỉnh có gần 8,5 vạn đảng viên, sinh
hoạt tại 771 tổ chức cơ sở đảng, thuộc 12 Đảng bộ huyện, thành phố, thị xã và
7 Đảng bộ trực thuộc [93]; có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ
Chí Minh và 70 km đường sắt chạy dọc theo hướng Bắc - Nam; có Quốc lộ
16
8A và Đường 12 đi sang Lào và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, có cảng biển
nước sâu Vũng Áng, cảng Xuân Hải [134]. Tỉnh Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành
chính trực thuộc, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện, với 261 xã,
phường, thị trấn. Trong đó, có 3 huyện biên giới là: Hương Sơn (47 km biên
giới) gồm 2 xã biên giới Sơn Kim và Sơn Hồng; Vũ Quang (45 km biên giới);
Hương Khê (53 km biên giới) với 5 xã biên giới là Hoà Hải, Hương Vịnh,
Phú Gia, Hương Lâm, Hương Liên.
Tỉnh Bôlykhămxay là một trong 7 tỉnh thuộc vùng Trung Lào, là tỉnh lớn
thứ 10 trong tổng số 17 tỉnh của nước CHDCND Lào, với diện tích 1.599.770
ha, dân số 422.300 người [71,tr.26]. Tỉnh Bôlykhămxay tiếp giáp với Việt
Nam ở phía Đông với đường biên giới dài 165 km; tiếp giáp với Thái Lan ở
phía Tây dọc theo sông Mê Kông với đường biên giới dài 195 km. Trong tổng
số diện tích của tỉnh, 64 % thuộc địa bàn vùng sâu, vùng xa. Địa hình nghiêng
dần từ dãy Phu Luông xuống khu vực sông Mê Kông, với nhiều dãy núi đá
lớn có độ cao từ 300 đến 700m. Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới Bắc
có quốc lộ 13, 12 và 8B đi qua, có hai cửa khẩu là Thà Khẹt - Nakhon
Phannom giáp Thái Lan và Na Phào - Cha lo, tỉnh Quảng Bình - Việt Nam.
Tỉnh Khămmuộn có 9 huyện, thị, gồm 1 thị xã Thà Khẹt (141 bản) và 8 huyện
là Nacai (67 bản), Nhóm Mạ Lạt (71 bản), Hỉn Bun (66 bản), BuaLapha (82
bản), Ma HaXay (89 bản), Xay Bua Thoong (66 bản), Xe Băng Phay (50
bản), Noong Bốc (72 bản) [48, tr.42-32]. Tỉnh Khămmuộn cũng như các tỉnh
miền núi khác của Lào, đồi núi và trung du chiếm 2/3 diện tích đất đai. Tỉnh
Khămmuộn có địa hình dốc, với các núi đá vôi lớn; là tỉnh nằm trong vành đai
khí hậu nhiệt đới nên nhiệt độ trung bình cả năm từ 20 - 340C, với hai mùa rõ
rệt, mùa khô kéo dài 5 đến 6 tháng, lạnh và hanh, độ ẩm thấp, đất đai khô cằn.
Bên cạnh đó, mùa mưa kéo dài 4 đến 5 tháng, là điều kiện thuận lợi cho các
loại cây phát triển, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, ở đây có
rất nhiều loại gỗ quý hiếm như lim, lát hoa, trầm hương và các loại lâm sản quý
hiếm khác. Khămmuộn có hai con sông lớn là Xêbăngphai và Nậm thởn và
một số con sông nhỏ do sông con Xêbăngphai tạo ra, thuận lợi cho việc phát
triển nông nghiệp, thủy điện.
Tuy điều kiện về tài nguyên thiên nhiên có nhiều thuận lợi, nhưng bên
cạnh đó, tỉnh Khămmuộn cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tỉnh Khămmuộn là
một tỉnh có trình độ dân trí còn thấp, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông
và khai thác lâm thổ sản; cơ sở hạ tầng còn rất kém, giao thông đi lại khó
18
khăn. Cho đến năm 2010, tỉnh Khămmuộn vẫn chưa có đường sắt, hệ thống
đường bộ sau nhiều năm khai thác đã xuống cấp nên việc buôn bán trao đổi
hàng hoá, giao lưu cả trong và ngoài tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn, cản trở
rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh.
Nhân tố dân cư và văn hóa xã hội:
Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc. Việt Nam có 54
thuận, cùng chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm, cũng như trong sự nghiệp dựng xây quê hương, đất nước.
Đặc biệt, một bộ phận nhân dân các địa phương vùng biên giới ba tỉnh
còn gắn bó thân thiết với nhau bởi các mối quan hệ thân tộc, thường xuyên
qua lại, thăm viếng, trao đổi hàng hóa, vật dụng phục vụ cuộc sống thường
nhật; chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, giao lưu văn hóa [93].
Trong tiến trình lịch sử, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận
cư dân người Việt Nam di cư sang sinh sống, làm ăn và định cư trên đất Lào,
từng bước hình thành nên cộng đồng Việt kiều ngày càng đông đảo ở một số
địa bàn trên nước bạn. Cộng đồng khá đông đảo người Việt tại Lào đã và đang
nỗ lực đóng góp sức mình góp phần tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, làm
thay đổi bộ mặt của nhiều thành phố, thị trấn và là cầu nối hết sức có ý nghĩa
trong giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các bộ
tộc Lào. Có thể khẳng định rằng, những nhân tố về dân cư nêu trên đã có
những tác động lớn, góp phần tăng cường tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa
nhân dân tỉnh Hà Tĩnh với nhân dân các bộ tộ Lào anh em.
Về văn hóa, hai dân tộc Việt Nam và Lào có nhiều nét tương đồng. Việt
Nam và Lào đều nằm trong vùng ảnh hưởng mạnh của nền văn hoá của hai
quốc gia là Ấn Độ và Trung Quốc. Đặc biệt, Phật giáo có ảnh hưởng rất sâu
đậm trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào.
Trong tiến trình phát triển, mỗi quốc gia đều có truyền thống lịch sử lâu đời và
đã tạo nên những thành tựu và cả những nét khác biệt trong đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội với những phong tục, tập quán tốt đẹp của từng dân tộc. Tuy
nhiên, do gần gũi về địa lý cho nên từ xa xưa giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào
đã có sự bang giao, nhất là các dân tộc ở dọc biên giới của hai nước. Xuất phát
từ những tương đồng, ít nhiều chịu sự chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau về phương
thức sinh hoạt vật chất, cư dân ba tỉnh cùng chung biên giới ngày càng xích lại
gần nhau hơn và tất yếu chịu sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sinh hoạt
văn hóa tinh thần. Ngày nay, nhiều phong tục tập quán, nhất là trong ma chay,
cưới xin, thờ cúng tổ tiên, thần linh... vốn là những nét đẹp văn hóa truyền
từng địa phương nhằm giúp nhau phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.
Từ xa xưa, cư dân Việt Nam và Lào đã có sự giao lưu kinh tế, lúc đầu
chủ yếu ở vùng biên giới, về sau, do yêu cầu ngày càng cấp thiết trong sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước nên đã từng bước hình thành và phát
triển các tuyến đường thông từ Lào sang Việt Nam và ngược lại. Theo trục
21
Đông - Tây, phía bắc tỉnh Hà Tĩnh, có đường Quốc lộ 8A sang Lào, qua cửa
khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, là con đường ngắn nhất nối vùng
Trung Lào và Thượng Lào ra Biển Đông. Tuyến đường này đã và đang là
huyết mạch quan trọng giúp tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn
nói riêng, hai nước nói chung trong việc tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là giao lưu trao đổi hàng hóa, phát triển du lịch, tăng cường hợp
tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Ở phía Nam tỉnh Hà Tĩnh, có Quốc lộ 12 dài
55 km, nối cảng biển nước sâu Vũng Áng (Hà Tĩnh) với Thị xã Thà Khẹt
(Lào), qua cửa khẩu Cha Lo (Quảng Bình). Đây vừa là con đường kết nối
hành lang kinh tế Đông - Tây ngắn nhất, đồng thời mở ra điều kiện thuận lợi
hơn để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế vùng đất đai rộng lớn phía Tây
tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc
phòng an ninh vùng biên giới Việt Nam - Lào nói chung.
Đặc biệt, tỉnh Hà Tĩnh có bờ biển dài với nhiều cảng và cửa sông lớn cùng
với hệ thống giao thông đường thủy rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn
hóa xã hội của tỉnh, đồng thời hỗ trợ đắc lực cho nước bạn Lào, nhất là tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Chính phủ Việt Nam đã có quy hoạch định hướng xây dựng cụm
cảng Vũng Áng với các cảng tổng hợp và cảng chuyên dùng, phục vụ
công nghiệp cơ khí, luyện cán thép, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, hoá dầu
và đặc biệt là để giúp nước bạn Lào “thông ra biển”; xuất, nhập khẩu hàng
nước của nhân dân hai dân tộc và các địa phương qua các thời kỳ lịch sử.
Dưới thời kỳ phong kiến, trong quá trình đấu tranh giành và giữ nền
độc lập, các triều đại phong kiến và nhân dân hai nước đã có mối quan hệ
hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân
tộc, như: giúp đỡ, chi viện về lực lượng, vũ khí, lương thực, tạo địa bàn
đứng chân an toàn, thuận lợi cho quân và dân nước bạn trong những thời
điểm khó khăn, hiểm nghèo.
Có thể khẳng nói rằng: nhận thức phải nương tựa vào nhau tồn tại
bắt nguồn từ yêu cầu sống còn của hai dân tộc, hai quốc gia. Chính
việc nương tựa vào nhau, cùng nhau đoàn kết xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc mình là nội dung cơ bản của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào
- Việt Nam trong suốt thời kỳ cổ, trung đại [68, tr.18-19].
Đầu thế kỷ VIII, đời Khai Nguyên (713 - 741) nhà Đường, đã nổ ra cuộc
khởi nghĩa lớn trên đất Châu Hoan, do Mai Thúc Loan (quê ở làng Mai Phụ, xã
Thạch Bắc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay) khởi xướng và lãnh đạo.
23
Khi cuộc kháng chiến lan rộng, chính quyền đô hộ bị đập tan ở nhiều nơi thì
cùng lúc đó, quân Chăm Pa, Chân Lạp kéo đến tiếp ứng [23, tr.110].
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vào đầu năm 1425, khi nghĩa quân tiến
vào vùng đất Hà Tĩnh, nhân dân khắp nơi vùng dậy cùng đóng góp sức người,
sức của vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong đó, nhân dân các dân tộc thiểu
số và nhiều tù trưởng Ai Lao vùng này đã đem hàng ngàn quân cùng voi
chiến theo Lê Lợi chống quân xâm lược.
Đặc biệt, lịch sử của hai dân tộc Việt Nam - Lào anh em đã ghi lại những
trang sử vẻ vang của nhân dân vùng đất Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn cùng đoàn kết gắn bó keo sơn, kề vai sát cánh bên nhau trong
cuộc đấu tranh trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Từ những ngày đầu khi chính quyền cách mạng non trẻ của hai nước
đang phải lo giải quyết những công việc bộn bề, thực dân Pháp đã chớp thời
cơ ra sức đẩy mạnh xâm chiếm vùng biên giới phía Tây Hà Tĩnh. Ngày
7/9/1945, bộ đội Hà Tĩnh đã phối hợp với quân dân Lào và Bôlykhămxay tấn
công quân Pháp tại Lạc Xao, Căm Cợt, Na Pê, giải phóng nhiều thôn xóm
khác dọc Quốc lộ 8A [24, tr.15,17]. Tại đây, quân và dân Hà Tĩnh đã giúp
Lào vừa xây dựng lực lượng, bảo vệ chính quyền, vừa phối hợp tấn công quân
Pháp tại nhiều vị trí xung yếu mà chúng đóng quân [38], [25, tr.40].
Ngày11/11/1945, Uỷ ban nhân dân Cách mạng huyện Hương Sơn và
đại diện lực lượng vũ trang kháng chiến Lào đã ký một Hiệp ước thân
thiện. Hai bên quyết tâm giúp đỡ nhau cùng chung sức phòng thủ biên giới,
góp phần củng cố tình hữu nghị vốn có lâu đời giữa nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
với nhân dân Lào nói chung và nhân dân tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn
nói riêng [24, tr.17, 45].
Trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh Hà Tĩnh
được giao nhiệm vụ vận chuyển, tiếp tế phục vụ cho các chiến trường. Trong
đó, ngoài trực tiếp phục vụ chiến trường Bình Trị Thiên, tỉnh Hà Tĩnh đã trực
tiếp tiếp tế chi viện cho chiến trường Trung Lào [25, tr.45]. Từ năm 1952 1953, ngoài tham gia phục vụ các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc và chiến
dịch Điện Biên Phủ, tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục chi viện nhiều lương thực, thực
phẩm, thuốc men cho chiến trường Lào, trong đó có 16 đại đội trực tiếp phục
vụ trên Quốc lộ 8A sang Trung Lào. Toàn tỉnh đã huy động 30.632 dân công
đi chiến dịch. Ngoài lực lượng dân công, tỉnh Hà Tĩnh đã huy động 1.500
thanh niên trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu tại mặt trận [115].
25
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiệm vụ chi viện cho
các chiến trường, trong đó có chiến trường Lào đã được thực hiện một cách
kịp thời, có hiệu quả, trong đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hà