Luận án tiến sĩ triết học khâu trung gian trong sự phát triển xã hội và ý nghĩa phương pháp luận của nó đối với quá trình đổỉ mới kinh tế ở việt nam hiện nay - Pdf 15

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã đạt đợc
những thành tựu rất quan trọng. Một trong những thành tựu đó là sự đổi
mới nhận thức về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở nớc ta. Đi lên CNXH
từ một nớc còn lạc hậu về kinh tế, tất yếu phải thực hiện sự quá độ gián
tiếp. Để thực hiện sự quá độ gián tiếp đó, đòi hỏi chúng ta phải ra sức tìm
tòi và sử dụng đúng đắn những hình thức kinh tế trung gian, tìm ra những
"chiếc cầu nhỏ" xuyên qua chủ nghĩa t bản nhà nớc để tiến lên CNXH. Do
đó, cần thiết phải tìm hiểu và nghiên cứu khâu trung gian trong sự phát triển
xã hội với tính cách là cơ sở lý luận cho việc xây dựng và phát triển nền
kinh tế quá độ. Nhng, nh Lênin đã nói, đó cũng là vấn đề hết sức khó khăn
và phức tạp.
Trong những năm vừa qua, nhiều nhà khoa học thông qua nhiều đề
tài, chơng trình khoa học khác nhau đã tập trung nghiên cứu vấn đề trên đây
và đã đạt đợc những kết quả nhất định. Việc vận dụng những kết quả nghiên
cứu đó vào thực tiễn đã góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ
vững ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân, đa đất nớc ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội và bớc vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề có liên quan tới việc nắm vững và
sử dụng những hình thức trung gian trong quá trình đổi mới kinh tế hiện
nay đều đã đợc giải quyết. Thực tiễn công cuộc đổi mới - nhất là đổi mới
kinh tế ở nớc ta trong những năm gần đây, những biểu hiện "tả" và "hữu"
khuynh do nhận thức và vận dụng không đúng lý luận về khâu trung gian
vẫn cha hoàn toàn đợc khắc phục. Cho nên, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu
vấn đề khâu trung gian và vận dụng nó một cách có hiệu quả vào quá trình
1
đổi mới kinh tế ở nớc ta vẫn là một đòi hỏi bức thiết cả từ phơng diện lý
luận lẫn phơng diện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu

góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới ở nớc ta vì mục tiêu, dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là:
Trên cơ sở làm sáng tỏ bản chất và vai trò của khâu trung gian trong
sự phát triển xã hội nhất là trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đề xuất một số
vấn đề có ý nghĩa phơng pháp luận trong việc nhận thức và sử dụng khâu
trung gian đối với sự nghiệp đổi mới kinh tế ở nớc ta hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
- Làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò của khâu trung gian trong quá
trình vận động và phát triển nói chung, sự thể hiện của chúng trong quá
trình chuyển hóa từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã
hội khác nói riêng, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế.
- Luận chứng sự cần thiết phải vận dụng các hình thức kinh tế trung
gian trong quá trình đổi mới kinh tế nớc ta từ sản xuất nhỏ lên CNXH; làm
rõ tính trung gian của một số hình thức kinh tế; những thành tựu và hạn chế
của việc vận dụng chúng trong quá trình đổi mới vừa qua và những vấn đề
đặt ra hiện nay.
- Phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan để đảm bảo định
hớng XHCN trong quá trình nhận thức và vận dụng những hình thức kinh tế
trung gian nhằm tiếp tục thực hiện quá trình đổi mới ở nớc ta.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận án đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp lý luận và phơng
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những quan
3
điểm của Đảng ta qua các văn kiện, các tác phẩm, các công trình nghiên
cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nớc. Ngoài ra chúng tôi cũng
kế thừa thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nớc.
Trong luận án, tác giả sử dụng tổng hợp các phơng pháp, nhng chủ
yếu là các phơng pháp: lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phơng pháp

quá trình, các giai đoạn phát triển khác nhau của sự vật, hiện tợng. Mỗi sự
vật, hiện tợng đều có liên hệ với sự vật, hiện tợng khác thông qua một sự
vật, hiện tợng "ở giữa", làm "cầu nối" để "môi giới" chúng với nhau. Theo ý
nghĩa đó, bất kỳ sự vật, hiện tợng nào cũng là "mắt khâu" trung gian cho
các sự vật, hiện tợng khác kề cận với nó để chúng liên hệ, tác động qua lại
với nhau.
Theo nghĩa hẹp hơn, khâu trung gian (tiếng Nga là , tiếng Anh là
Intermediary Stage) đợc xét đến nh một trạng thái "đặc biệt" nằm trong quá
trình chuyển hóa từ sự vật này thành sự vật khác. Mỗi một sự vật, hiện tợng
đều có quá trình phát sinh, phát triển và mất đi theo qui luật; sự mất đi của
sự vật cũ và sự ra đời của sự vật mới không phải chỉ là sự gián đoạn, mà còn
là sự chuyển hóa liên tục từ sự vật này thành sự vật khác. Do vậy, trong sự
quá độ từ chất cũ sang chất mới có tồn tại trạng thái "đặc biệt", đợc gọi là
khâu trung gian. Nó là một vấn đề quan trọng trong phép biện chứng duy
vật, có nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta ngày nay.
1.1.1. Khái niệm khâu trung gian
Là một nhà biện chứng kiệt xuất trớc Mác, nhà triết học duy tâm vĩ
đại ngời Đức G.V.Ph. Hêghen (1770 - 1831) đã vạch ra "một cách bao quát và
có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng" [59, 35]. Ông
5
cho rằng, sự thay thế, sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khái niệm, sự
chuyển hóa của khái niệm này sang một khái niệm khác, trong sự thay thế,
sự vận động vĩnh viễn của những khái niệm đều phải trải qua sự "trung gian
hóa", rằng "Các dạng khác nhau của tồn tại đòi hỏi những dạng trung gian
hóa của chính chúng hoặc chứa đựng trong bản thân chúng những dạng ấy"
[39, 157].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không chỉ cải tạo phép biện
chứng duy tâm của Hêghen, kế thừa "hạt nhân" hợp lý của nó, mà còn dựa
trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội để đi đến những
quan niệm đúng đắn hơn về bản chất, vai trò của khâu trung gian đối với sự

trạng thái tồn tại của nớc đợc biểu thị trớc hết bằng quãng đờng dịch
chuyển của phân tử nớc, và đợc xác định một lợng đặc trng là g. Đối với n-
ớc ở trạng thái rắn, phân tử nớc có vị trí cố định (ứng với g = 0), còn ở trạng
thái lỏng, phân tử nớc dịch chuyển trong cả khối nớc (ứng với g > 0). Quá
trình nớc chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng, quãng đờng dịch
chuyển biến thiên từ giá trị 0 đến g. Đối với sự vật phức tạp hơn, nh trong
lĩnh vực xã hội chẳng hạn, sự quá độ từ chất này sang chất khác đợc đặc tr-
ng bởi trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và mức độ xã hội hóa của
nền sản xuất; mức độ tăng trởng kinh tế; sự gia tăng chất lợng cuộc sống
[11].
Mỗi một sự vật là một kết cấu gồm nhiều thành phần, trong đó, các
mặt, các bộ phận cấu thành có liên hệ với nhau ít nhiều bền vững, song
chúng có vai trò, vị trí không nh nhau. Có những mặt, những bộ phận giữ
vai trò thứ yếu, không cơ bản; ngợc lại, có bộ phận, có những mặt lại giữ
vai trò chi phối, ảnh hởng quyết định trực tiếp đến quá trình phát sinh, phát
triển của sự vật. Cho nên, sự biến đổi xảy ra ở những mặt, những bộ phận
7
này sẽ gây ảnh hởng lan tỏa đến những mặt, những bộ phận khác, chi phối
khuynh hớng vận động của toàn bộ hệ thống. Điều này cũng có nghĩa là,
khi hoàn thành sự chuyển hóa sẽ có sự đổi mới toàn diện ở cấp độ bản chất;
nhng xét về trình độ, vị trí của sự thay đổi, thì những thay đổi chất ở cấp độ
toàn thể chỉ đợc thực hiện thông qua sự thay đổi ở cấp độ bộ phận. Chẳng
hạn, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ diễn ra trên
nhiều lĩnh vực khác nhau, song những biến đổi trong lĩnh vực kinh tế sẽ có
vai trò quyết định sự biến đổi các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, nhân
tố kinh tế đợc hình thành sẽ ảnh hởng trực tiếp đến khuynh hớng phát triển
chung của xã hội.
Kết quả của bất cứ quá trình thay đổi chất nào cũng là cái mới ra đời,
thay thế cái cũ; nhng, ở mỗi giai đoạn cụ thể, khuynh hớng biến đổi của sự
vật sẽ trở nên rất phức tạp, có cả khuynh hớng phát triển đi lên, có cả

mang đặc điểm của chim nh: mình có lông vũ bao phủ, chi sau 4 ngón
Quá trình tiến hóa từ bò sát thành chim diễn ra hàng triệu năm, dới ảnh h-
ởng của điều kiện sống, những bộ phận cơ thể mang đặc điểm của bò sát
biến đổi dần về cấu trúc và chức năng thành những bộ phận mang đặc điểm
của loài chim: vảy sừng thành lông vũ, chi trớc thành cánh Trong "Biện
chứng của tự nhiên", Ăngghen đã nhận xét: trong quá trình tiến hóa giống
loài, ranh giới giữa động vật và thực vật, giữa các loài động vật với nhau là
hoàn toàn không rõ ràng. Khoa học đã tìm thấy những loài là khâu trung
gian giữa động vật không có xơng sống và động vật có xơng sống, giữa loài
cá và lỡng thể, nghĩa là chúng vừa mang đặc điểm của loài này, vừa mang
đặc điểm của loài khác [57, 696]. Hoặc, một hiện tợng khác, chẳng hạn,
hiện tợng "chết lâm sàng" trong sinh học. Đó là trạng thái "vừa chết, vừa
sống". Trong cơ thể lúc này, tim, phổi ngừng hoạt động, vỏ não bị ức chế,
nhng các bộ phận khác nh tóc vẫn mọc, ruột vẫn co bóp. Thời kỳ này kéo
9
dài khoảng 10 phút, sau đó mới chuyển sang trạng thái chết hoàn toàn -
chết sinh học [1, 41].
Hai là, trong khâu trung gian, các yếu tố của chất mới và chất cũ mặc
dù tồn tại đan xen, kết hợp với nhau trong một chỉnh thể, nhng sự đấu tranh
giữa các mặt đối lập, giữa cái mới và cái cũ vẫn còn gay gắt. Bởi vì, cái mới
đang "thoát ra" dần từ cái cũ, nên lúc đầu còn nhỏ bé và non yếu; ngợc lại,
cái cũ lúc đầu còn rất mạnh, nên còn cản trở sự ra đời và phát triển của cái
mới. Hơn nữa, trong lúc cái mới vừa nảy sinh thì cái cũ, trong một thời gian
nào đó, còn mạnh hơn cái mới, cản trở sự phát triển của cái mới. Sự đấu
tranh giữa cái mới và cái cũ trong trạng thái "đặc biệt" ấy làm cho cái mới
ra đời và chiến thắng cái cũ rất khó khăn. Do đó, khuynh hớng phát triển
của sự vật ở khâu trung gian là rất phức tạp, có cả sự thụt lùi, thoái bộ, lẫn
sự phát triển tiến lên. Mặc dù ở khâu trung gian, khuynh hớng vận động của
sự vật còn cha ổn định, còn "chòng chành, nghiêng ngả", nhng mang trong
mình tất yếu "thép" của quy luật khách quan nên cuối cùng cái mới sẽ chiến

chỉnh thể - khẳng định nó là nó.
Cái mới không chỉ là nhân tố định hớng cho sự phát triển của sự vật
mà còn là tác nhân cải tạo cái cũ để hình thành cái mới. Nếu ở khâu trung
gian, sự vật mới cha phát triển đầy đủ, cha hoàn thiện thì không có nghĩa
chúng cha có tính quy định nào của chất mới, mà chính ở đây, sự vật đã đợc
định hình từng bớc, thông qua sự phủ định và giải quyết mâu thuẫn.
Từ những đặc trng chủ yếu trên đây, khâu trung gian có thể đợc hiểu là
một trạng thái tồn tại tất yếu của sự vật trong quá trình chuyển hóa từ chất cũ
sang chất mới; trong đó, chất cũ và chất mới đan xen, thâm nhập vào nhau,
đấu tranh với nhau, thông qua đó cái cũ bị lọc bỏ và chuyển hóa thành cái mới.
Để hiểu rõ hơn thực chất của khái niệm khâu trung gian, cần xét mối
tơng quan giữa nó với khái niệm quá độ.
11
Theo Từ điển tiếng Việt (xuất bản năm 1997) "quá độ" là một sự
chuyển tiếp từ trạng thái này sang trạng thái khác trong quá trình vận động
của sự vật. Theo một định nghĩa khác, quá độ là "khái niệm diễn đạt quá
trình vận động của sự vật không phải trong điều kiện chất thuần túy (hiểu
theo nghĩa tơng đối) mà trong điều kiện đan xen giữa hai chất. Bản chất của
nó là sự kết hợp giữa một chất đang tiêu vong, đang chuyển hóa và chất mới
đang ra đời trên cơ sở kế thừa những yếu tố chất cũ " [85, 19].
Theo chúng tôi, cả hai định nghĩa trên có những điểm hợp lý, đều
xem quá độ là một quá trình vận động của sự vật trong điều kiện đặc biệt để
chuyển hóa từ chất này sang chất khác. Song, hạn chế của định nghĩa thứ
hai là cha phân biệt rõ đợc nội hàm khái niệm quá độ với khái niệm khâu
trung gian. Chúng tôi cho rằng, khái niệm quá độ phản ánh một quá trình
vận động từ chất cũ sang chất mới của sự vật, ở đó, chất cũ từng bớc bị phá
hủy và chuyển hóa thành chất mới. Sự quá độ nh vậy bao giờ cũng diễn ra
trong một không gian và thời gian nhất định, đó là thời kỳ quá độ. Trong
lĩnh vực xã hội, thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử diễn ra những biến đổi
về chất của xã hội [99].

những bớc quá độ trong quá trình biến đổi chất của sự vật, hiện tợng sẽ là vi
phạm quy luật khách quan của sự phát triển và, tất nhiên, điều đó không
mang lại đợc những kết quả nh mong muốn.
Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn thực chất vấn đề khâu trung gian trong
sự phát triển, không thể không tìm hiểu vai trò của nó trong quá trình phát
triển, đặc biệt là gắn với những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
1.1.2. Vai trò của khâu trung gian trong sự phát triển
Vấn đề khâu trung gian là một trong những nội dung quan trọng của
phép biện chứng duy vật; nó liên quan mật thiết với các qui luật cơ bản và
các phạm trù của phép biện chứng duy vật, mà trớc hết là phạm trù nhảy vọt.
13
Phép biện chứng duy vật đã vạch ra rằng, chất và lợng là hai mặt
không thể tách rời của một sự vật. Sự thay đổi về lợng đến điểm nút sẽ có sự
nhảy vọt về chất của sự vật. Bớc nhảy vọt nh vậy, dù diễn ra dới hình thức
nào (bằng con đờng biến đổi dần dần chất cũ để thay thế dần dần bằng chất
mới, hay nhảy vọt đột biến làm biến đổi sự vật một cách nhanh chóng) đều
là quá trình chuyển hóa phức tạp, diễn ra những biến đổi sâu sắc trong hệ
thống cấu trúc của sự vật, có khởi đầu và có kết thúc trong thời gian.
Nhảy vọt là một giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của sự
vật, ở đó "chất cũ bị phá vỡ nhng cha hoàn toàn mất đi và chất mới đang
hình thành nhng cha trọn vẹn". Nhảy vọt, nh vậy, "không phải là quá trình
vứt bỏ giản đơn cái này để có cái kia" [88] mà chính là một quá trình
chuyển hóa nội tại giữa chất và lợng, giữa chất cũ và chất mới. Cho nên,
nhảy vọt bao giờ cũng gắn liền với khâu trung gian.
Trớc đây, có quan điểm đồng nhất khâu trung gian với hình thức nhảy
vọt dần dần. Quan điểm đó cho rằng: "Khâu trung gian là quá trình nhảy
vọt cách mạng, nhng không phải là nhảy vọt lập tức, mà là nhảy vọt dần
dần, từng bớc, từ thấp đến cao, là sự biến đổi liên tục chất lợng cũ, theo thời
gian" [76, 105]. Trớc kia, do trình độ khoa học còn bị hạn chế, cha có điều
kiện tiếp cận những quá trình nhảy vọt mà biến đổi dờng nh diễn ra tức thời,

trải qua nhiều giai đoạn quá độ, những nấc thang phát triển khác nhau; tuy
nhiên việc trải qua những nấc thang nào, điều đó tùy thuộc bản chất, điều
kiện cụ thể của mỗi sự vật. Về nguyên tắc, giữa sự vật mới và sự vật cũ càng
khác xa nhau về trình độ phát triển thì càng phải trải qua nhiều giai đoạn
quá độ và phải thông qua nhiều khâu trung gian khác nhau để chuyển tiếp.
Trong hoạt động sống hàng ngày, có thể chúng ta nhận thức đợc hay cha
nhận thức đợc, vận dụng đợc hay cha vận dụng đợc những khâu trung gian
thì điều đó cũng không quan trọng lắm, song, đối với sự nhảy vọt trong
15
những lĩnh vực nh cách mạng xã hội hoặc nh trong thế giới vi mô, thì việc
nhận thức và vận dụng khâu trung gian lại trở nên có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.
Khâu trung gian không chỉ có vai trò trong sự nhảy vọt từ chất này
sang chất khác, mà còn đóng vai trò không thể thiếu đợc trong quá trình
giải quyết mâu thuẫn của các sự vật, hiện tợng.
Mỗi một sự vật, hiện tợng là một thể thống nhất biện chứng của các
mặt đối lập; trong đó, chúng vừa nơng tựa, vừa gắn bó với nhau, giả định
lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm điều kiện tồn tại cho mình, đồng thời,
vừa triển khai theo hớng ngợc chiều nhau, đấu tranh gạt bỏ lẫn nhau. Sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập sẽ dẫn đến chỗ mâu thuẫn đợc
giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Cơ sở khách quan cho sự tồn
tại của khâu trung gian đợc qui định ngay trong sự tác động, chuyển hóa và
giải quyết mâu thuẫn.
Xuất phát từ lập trờng duy tâm khách quan, Hêghen đã trình bày một
cách sinh động phép biện chứng của quá trình phát sinh, phát triển và giải
quyết mâu thuẫn của "ý niệm" qua ba giai đoạn phát triển: Trong "Bút kỹ
triết học" Lênin khái quát: Đồng nhất - khác nhau - mâu thuẫn [39, 142]. ở
giai đoạn mâu thuẫn, các mặt đối lập ở tình trạng loại trừ nhau đến mức gay
gắt cần phải đợc giải quyết. Hình thức lôgíc của sự giải quyết này là phạm
trù căn cứ, nghĩa là mâu thuẫn đợc giải quyết trong căn cứ (một cách giải

triết học", Lênin viết: "Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt
đối lập làm thế nào mà có thể và thờng là (trở thành) đồng nhất, - trong những
điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau" [39, 116].
Vì vậy, nếu sự chuyển hóa của các mặt đối lập là phơng thức để giải
quyết mâu thuẫn của sự vật, thì khâu trung gian đóng vai trò là những điều
kiện tất yếu để giải quyết mâu thuẫn.
17
Quan điểm siêu hình thờng tuyệt đối hóa sự đối lập giữa các mặt, các
khuynh hớng bên trong của các sự vật mà không thấy rằng, sự tác động qua
lại của các vật thể tự nhiên, cả thể vô cơ và thể hữu cơ, đều bào hàm cả sự
hài hòa lẫn xung đột, cả sự đấu tranh lẫn sự hợp tác. Do vậy, trong khi tiến
hành giải quyết mâu thuẫn, họ mu toan muốn "thoát khỏi" tình trạng mâu
thuẫn bằng cách can thiệp tiêu cực, vứt bỏ giản đơn một trong các mặt đối
lập của mâu thuẫn, trong khi lại xem mặt kia nh một chỉnh thể "phi" mâu
thuẫn. Nghĩa là, với việc tự đề ra cho mình vấn đề tự loại bỏ mặt xấu, ngời
ta đã chặn đứng sự vận động biện chứng rồi. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
không những đã vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, mà còn vạch
ra đợc tính quy luật trong quá trình giải quyết mâu thuẫn. Khi vạch ra cơ sở
lý luận và phơng pháp luận giải quyết mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, Lênin cho rằng, cần phải học ở chủ nghĩa Mác cách "làm thế nào
và khi nào có thể và cần phải thống nhất các mặt đối lập" và "trong thực
tiễn chúng ta đã nhiều lần thống nhất các mặt đối lập" [43, 259]. Có thể coi
vấn đề chủ nghĩa t bản nhà nớc nh một mẫu mực của Lênin về sự nhận thức
và vận dụng khâu trung gian để thực hiện sự kết hợp, sự liên hợp giữa nhà
nớc Xô viết, nền chuyên chính vô sản với chủ nghĩa t bản [44, 268], để giải
quyết mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng còn thừa nhận sự vận
động và phát triển của các sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan là
một quá trình liên tục những sự phủ định của phủ định. Trong quá trình đó,
khâu trung gian cũng có vai trò và vị trí khách quan, tất yếu của nó.

để thực hiện sự tổng hợp cả cái khẳng định và cái phủ định, để kế thừa và
lọc bỏ cái cũ. Lênin viết: "Đối với luận đề "thứ hai", luận đề phủ định, thì
"vòng khâu biện chứng" đòi hỏi chúng ta phải chỉ ra "tính thống nhất"
nghĩa là mối liên hệ của cái phủ định và cái khẳng định, sự tìm thấy cái
19
khẳng định ấy trong cái phủ định. Từ khẳng định đến phủ định, - từ sự phủ
định đến "sự thống nhất" với cái bị khẳng định, - không có cái đó, phép
biện chứng trở thành một sự phủ định sạch trơn, một trò chơi hay là chủ
nghĩa hoài nghi" [39, 246].
Sự phân tích trên đây cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa các khái
niệm " khâu trung gian", " nhảy vọt", "giải quyết mâu thuẫn" và "phủ định
biện chứng", từ đó làm sáng tỏ hơn bản chất của khâu trung gian. Đồng thời
nó cũng khẳng định vai trò tất yếu của khâu trung gian trong sự chuyển hóa
từ sự vật, hiện tợng này đến sự vật, hiện tợng khác; trong sự nhảy vọt; trong
giải quyết mâu thuẫn và phủ định biện chứng. Chính điều đó làm cho các
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đặc biệt chú ý đến vấn đề sử dụng lý luận về
khâu trung gian vào việc phát triển và hoàn thiện thế giới quan duy vật biện
chứng vào thực tiễn cải tạo thế giới hiện thực.
Trong khi nghiên cứu giới tự nhiên, việc xác định vai trò của khâu
trung gian đã góp phần định hớng cho các ngành khoa học đi sâu vào
nghiên cứu các đối tợng có tính chất "trung gian" giáp ranh giữa các hình
thức vận động, từ đó, làm cho nhận thức loài ngời về giới tự nhiên ngày
càng sâu sắc hơn và đem lại những thành tựu to lớn hơn cho khoa học và
đời sống. Ăngghen cho rằng: "Chính đó là nơi ngời ta phải chờ đợi những
thành quả to lớn nhất" [57, 799].
Trong việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, mà cốt lõi là lý
luận hình thái kinh tế - xã hội, Mác đã vận dụng triệt để lý luận về khâu
trung gian để giải thích sự phát triển của xã hội loài ngời nh một quá trình
lịch sử - tự nhiên. Do vậy, những quan niệm duy vật lịch sử trở nên có sức
sống lâu bền và có ý nghĩa to lớn đối với sự nhận thức về cải tạo thế giới

21
đoạn hình thành của nấc thang mới đợc thực hiện bằng mắt khâu trung gian
- đó là thời kỳ quá độ giữa các nấc thang phát triển. Dấu hiệu đặc trng của
xã hội ở thời kỳ quá độ là một hệ thống cha ổn định, sự cùng tồn tại đan
xen của các nhân tố tiêu biểu cho cả cái mới và cái cũ [71].
Về mặt kinh tế, xã hội ở nấc thang phát triển hoàn chỉnh, chín muồi
đợc đặc trng bởi một kết cấu kinh tế - xã hội tơng đối thuần nhất, với sự tồn
tại của phơng thức sản xuất đặc trng cho chế độ kinh tế - xã hội (trong một
số trờng hợp còn có các phơng thức sản xuất tàn d và phơng thức sản xuất
mầm mống, trong đó, phơng thức sản xuất đặc trng giữ vai trò thống trị đối
với toàn bộ nền kinh tế). Ngợc lại, ở thời kỳ quá độ, do đang thoát thai từ xã
hội cũ, nên kết cấu kinh tế - xã hội của nó cha thuần nhất, bên cạnh phơng
thức sản xuất mới đang hình thành, vẫn còn tồn tại các phơng thức sản xuất
cũ tàn d. Tơng ứng với kết cấu kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ sẽ là một
kết cấu chính trị - xã hội mang tính chất trung gian, trong đó các giai cấp,
các lực lợng xã hội có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập với nhau cùng tồn
tại, vì vậy những mâu thuẫn xã hội diễn ra gay gắt hơn. Trong lĩnh vực ý
thức xã hội, những yếu tố t tởng, văn hóa, đạo đức, lối sống tiêu biểu cho
xã hội cũ đang suy tàn và tiêu biểu cho xã hội mới đang phát triển cũng đan
xen tồn tại, tác động đến của đời sống tinh thần xã hội. Mặt khác, do tính
độc lập tơng đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, những biến đổi của
các yếu tố tinh thần xã hội cũ diễn ra chậm chạp làm cho chúng tồn tại dai
dẳng hơn, thậm chí mãi tới khi bớc quá độ về chính trị, kinh tế đã kết thúc.
Đúng nh Mác đã viết: "Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng
nh quả núi lên đầu óc những ngời đang sống" [55, 145].
Khái quát lại, đặc điểm của thời kỳ quá độ là kết cấu của đời sống xã
hội không thuần nhất, có sự đan xen, thâm nhập và đấu tranh với nhau giữa
các nhân tố xã hội cũ và mới, do đó, những mâu thuẫn xã hội diễn ra gay
gắt. Trong thời kỳ quá độ, sự phát triển của những nhân tố, những trật tự cũ
22

hệ thống pháp quyền, các qui phạm đạo đức, các thiết chế văn hóa, lối
sống trong đó, những yếu tố của đời sống tinh thần xã hội cũ và mới
quyện chặt với nhau.
Sự phân tích trên cho thấy, khâu trung gian biểu hiện trong sự phát
triển xã hội tồn tại với những hình thức đa dạng, nhiều mặt, nhiều cấp độ
khác nhau. Trên bình diện kết cấu của toàn bộ hệ thống xã hội, thời kỳ quá
độ từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác là một
khâu trung gian. Lịch sử xã hội loài ngời đã trải qua bốn hình thái kinh tế -
xã hội: Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, T bản chủ
nghĩa và ngày nay đang quá độ lên hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ
nghĩa. Nh thế, lịch sử xã hội đã trải qua bốn khâu trung gian khác nhau,
chúng có những đặc trng riêng do những đặc điểm lịch sử cụ thể của các
hình thái kinh tế - xã hội quy định. Thời kỳ quá độ là quá trình cải biến
cách mạng lâu dài, do đó, phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ thấp
lên cao. Mỗi giai đoạn lại có đặc điểm thể hiện tính chất trung gian khác
nhau, nhng theo xu hớng giảm dần sự khác biệt và tính chất phức tạp, hớng
tới sự thuần nhất về cấu trúc, hoàn thiện về hệ thống và sự phát triển ổn
định, vững chắc hơn. Mặt khác, lịch sử xã hội không chỉ có những bớc
chuyển tuần tự qua từng nấc thang phát triển, mà đôi khi, trong những hoàn
cảnh lịch sử nhất định, lại có những bớc "bỏ qua" một số nấc thang phát
triển để tiến lên. Trong trờng hợp đó, thời kỳ quá độ không chỉ kéo dài hơn,
mà còn đặc biệt phức tạp, do kết cấu xã hội mang nhiều yếu tố hơn, không
những của xã hội xuất phát, xã hội hớng tới mà cả của xã hội bỏ qua. Về
nguyên tắc, xã hội càng cách xa nhau về trình độ phát triển, thì nội dung,
tính chất của các khâu trung gian càng phức tạp, hình thức càng đa dạng,
vai trò càng quan trọng hơn. Xét sự biến đổi về chất trên từng mặt, từng lĩnh
vực trong xã hội của thời kỳ quá độ, chúng ta thấy rằng, sự thay đổi về chất
24
ở từng mặt, từng lĩnh vực đó cũng đợc thể hiện và đợc thực hiện thông qua
những khâu trung gian với những hình thức biểu hiện khác nhau. Nếu hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status