tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu biện pháp kỹ thuật để phát triển một số tổ hợp dâu lai mới tại lâm đồng - Pdf 19


1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong suốt chặng đường phát triển, con người luôn phải đối diện
với cái ăn và cái mặc. Do vậy nghề "nông, tang" đã xuất hiện, trong đó
có nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa. Nhiều tài liệu cho rằng, nghề
trồng dâu nuôi tằm xuất hiện rất sớm, cách đây trên 5000 năm (Hoang
Ling – Zong, 1987) [56], (Rangaswami et al., 1976), (Soo-Ho Lim,
1990).
Hiện nay, nghề trồng dâu nuôi tằm vẫn là nghề nông nghiệp quan
trọng ở nhiều nơi nước ta, bởi vì đã mở ra hướng giải quyết công ăn việc
làm, góp phần xóa đói làm giàu cho nông dân. Ngành sản xuất dâu tằm
tơ có đặc thù riêng, trong đó lá dâu có vị trí rất quan trọng vì nó chiếm
60% tổng chi phí giá thành sản xuất ra nguyên liệu kén tằm. Mặc dù
nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển ngành sản xuất dâu tằm tơ
nhưng trong nhiều năm qua ngành này phát triển rất chậm, không ổn
định. Nguyên nhân chủ yếu là do hiệu quả kinh tế chưa cao, giá trị ngày
công lao động thấp.
Lâm Đồng là tỉnh thuộc vùng khí hậu sinh thái Tây Nguyên, có điều
kiện thời tiết mát mẻ nên rất thuận lợi cho nuôi quanh năm các giống tằm
lưỡng hệ có năng suất chất lượng kén tơ cao, nhưng năng suất lá dâu còn
rất thấp. Trong những năm qua tại Lâm Đồng đã đưa vào sản xuất một số
giống dâu mới, thời gian gần đây là tổ hợp lai rất có triển vọng TBL-03,
TBL-05. Để phát huy ưu thế của hai tổ hợp dâu lai mới này ở vùng đất
Lâm Đồng, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu biện pháp kỹ
thuật nhằm phát triển một số tổ hợp dâu lai mới tại Lâm Đồng”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung:
Nghiên cứu xác định tính thích ứng của 2 tổ hợp dâu lai mới chọn
lọc TBL-03, TBL-05 và biện pháp kỹ thuật thích hợp làm cơ sở xây

- Do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn, đề tài này chỉ tập trung
nghiên cứu xác định tính thích ứng của hai tổ hợp lai tại Lâm Đồng, cùng
với một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu. Đối với nghiên cứu xác định tính
thích ứng chỉ tập trung theo dõi sinh trưởng phát triển, năng suất chất
lượng lá và mức độ nhiễm sâu bệnh. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống ở
mức độ riêng rẽ từng thí nghiệm cho nên chưa xác định hệ số nhân giống.
5. Tính mới của đề tài
- Thông qua một số chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng phát triển,
năng suất chất lượng lá và mức độ nhiễm sâu bệnh hại đã góp phần xác
định được tính thích ứng của 2 tổ hợp dâu lai TBL-03, TBL-05 ở 3 vùng
sinh thái Lâm Đồng. Từ đó có cơ sở khoa học và thực tiễn đưa trồng 2 tổ
hợp lai này vào sản xuất.
- Sử dụng phương pháp nhân giống vô tính bằng đoạn hom ngắn,
hom chưa thành thục có xử lý chất kích thích ra rễ thông qua vườn ươm
và một số biện pháp kỹ thuật trong vườn ươm. Kết quả nghiên cứu này
đã làm tăng hệ số nhân giống vô tính lên nhiều lần góp phần mở rộng và
đưa nhanh diện tích trồng tổ hợp lai mới vào sản xuất.
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật thích hợp như chế độ
bón phân vô cơ, mật độ trồng và thời vụ đốn dâu trong năm cho 2 tổ hợp
dâu lai để nâng cao năng suất chất lượng lá ở 3 vùng sinh thái.

3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu về giống và tính thích ứng của giống dâu
Dựa trên các phương pháp chọn lọc giống, Ấn Độ đã đưa ra sản
xuất các giống dâu có năng suất cao như Kanva-2, Mysore local. Hai
giống trên cho năng suất lá cao, 25 - 30 tấn/ha, tính thích ứng rộng với
nhiều bang của Ấn Độ (Mallikarjunappa and Bongale, 1992). Viện
Nghiên cứu và đào tạo Dâu tằm tơ trung ương - Mysore đã tạo ra giống

lệ nảy mầm cao nhất, đạt trên 86,3 % và cây con sinh trưởng tốt. Ở phía
bắc Nhật Bản nên trồng hom già, ngược lại phía nam nên trồng bằng
hom non thì có tỷ lệ cây sống cao trên 82,4%. Còn ở Ấn Độ Ullal et al.,

4
(1987) đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống dâu bằng hom xanh trong điều
kiện có dùng màng phủ nông nghiệp, kết quả cho thấy tỷ lệ cây sống đã
tăng lên trên 20% và khi trồng ra ngoài sản xuất cây sinh trưởng phát
triển tốt. Tại Trung Quốc ngoài các phương pháp nêu trên thì ở một số
vùng cận nhiệt đới như Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam chủ yếu sử
dụng hạt lai F1 để nhân giống (Huo Yong kang, 2000), (Zhang yue – Li,
1987).
Để khắc phục một số giống dâu khó ra rễ khi nhân giống bằng hom,
các nhà khoa học đã nghiên cứu sử dụng một số chất kích thích ra rễ
như: IAA, IBA, NAA … Ở Ấn Độ, Rao và Azeer Khan (1963) đã thành
công trong việc nâng tỷ lệ ra rễ các giống dâu Nhật Bản (Kosen, Gosho,
Erami) lên 80 – 85% bằng phương pháp xử lý NAA, IAA, IBA dưới
dạng kem 1% (www. Sciencedirect.com/science, 1990). Tại Việt Nam
thường cây dâu trồng trực tiếp bằng hom mà không thông qua giai đoạn
vườn ươm (Lê Quang Tú và cs, 2010).
1.2.2 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho cây dâu
Phân bón có vai trò rất quan trọng, các nhà khoa học Nhật Bản
khuyến cáo bón phân cho một số vùng ở nước này là: (300 N + 150 - 180
P
2
O
5
+ 180 - 200 K
2
O) kg/ha, hoặc (306 N + 112 P

giống thì tỉ lệ là 5: 3: 4. Tại bang Kanakata (Ấn Độ), trong điều kiện
không tưới bón lượng là (100 N + 50 P
2
O
5
+ 50 K
2
O) kg/ha, có tưới thì
bón với lượng cao hơn là (250 N + 100 P
2
O
5
+ 100 K
2
O) kg/ha. Ở vùng
Kasmir, Chandrasekaran (1992) đã đưa ra công thức bón phân vô cơ là
2000 kg urea/ha/năm và theo tỷ lệ NPK là 6 : 3 : 4. Khi trồng dâu không
được tưới, tác giả đã đề nghị nên bón theo tỷ lệ 2 : 1 : 1; lượng bón thích
hợp nhất từ 300 – 360 kg N/ha/năm.
Tại Việt Nam, Lê Quang Tú (2000) cho rằng tại Lâm Đồng khi

5
trồng mới cần bón 15 tấn phân chuồng, 500kg lân, 100kg ure, 1000 kg
vôi bột/ha và tỷ lệ NPK cho cho ruộng dâu dùng nuôi tằm lấy kén ươm
là 2:1:1. Nguyễn Đức Dũng (2010) cho rằng muốn đưa năng suất lá dâu
tại tỉnh Lâm Đồng lên trên 25 tấn/ha cần phải bón lượng phân là: 650 kg
Urê: 900 kg Lân văn điển : 250 kg KCl và 20 tấn/ha phân hữu cơ. Tác
giả Phạm Văn Vượng, Hà Văn Phúc và cs (2004) cho rằng: vùng đồng
bằng sông Hồng bón theo tỷ lệ NPK là 4 : 1 : 1 cho ruộng dâu chuyên
dùng nuôi tằm lấy kén ươm và 1,8 : 1 : 1 cho ruộng dâu dùng sản xuất

Tại Nhật Bản, đốn vào vụ hè để có lá nuôi tằm vào mùa thu và mùa

6
xuân, đốn vụ xuân để cho thu hái phục vụ nuôi tằm vụ hè và thu (Sindo S
S Arata and Yabe, 1972). Ấn Độ, thời vụ đốn hàng năm lại phụ thuộc
vào lượng mưa và phương pháp thu hoạch lá. Khi dâu trồng không được
tưới, dâu được đốn sát duy nhất 1 lần vào tháng 7 – 8 hàng năm. Với
những vùng có khí hậu giống Nhật Bản, người ta áp dụng phương pháp
đốn trung, cách mặt đất 45 – 60 cm, trong khoảng thời gian từ tháng 10
đến tháng 2 năm sau (Iwata, 1981), (Krisnaswami and Mukherjee, 1970).
Trong khi tại Thái Lan, Manoch Panyawanich (1973), ruộng dâu dùng để
khai thác lá cho tằm con trong vòng 3 năm thì công thức đốn thấp kết
hợp với đốn lửng sẽ cho năng suất và chất lượng lá dâu cao nhất.

CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng
canh tác cây dâu tại Lâm Đồng.
- Nghiên cứu khả năng thích ứng của tổ hợp dâu lai mới
- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống vô tính bằng giâm hom
- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thích hợp cho tổ hợp dâu lai
2.2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Thí nghiệm được bố trí ở 3 vùng sinh thái tỉnh Lâm Đồng.
- Thời gian nghiên cứu được từ năm 2007 - 2011.
2.2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Tổ hợp dâu lai TBL-03, TBL-05 và đối chứng VA-201
- Giống tằm lấy kén ươm LQ2
- Hóa chất kích thích ra rễ α-NAA và IAA
- Phân bón: bao gồm Urê (46% N), phân lân (16% P

tổng hợp và tích lũy chất hữu cơ trong lá dâu và rất thích hợp cho
nuôi các giống tằm lưỡng hệ.
Vùng 1 có nhiệt độ trung bình 13 - 18
0
C, vùng 2 từ 16 - 20
0
C, vùng
3 từ 19 - 23
0
C và vùng 4 từ 20 đến trên 23
0
C. Như vậy Lâm Đồng có 3
vùng sinh thái thích hợp cho nuôi tằm lưỡng hệ quanh năm và tạo cho
cây dâu sinh trưởng quanh năm. Tuy nhiên, lại không nằm trong dải
nhiệt độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng phát triển.
3.1.1.2 Chế độ mưa
Lâm Ðồng một năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 –
5 và kết thúc vào cuối tháng 10 – 11. Lượng mưa chiếm từ 71 - 83%
tổng lượng mưa trong cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, khi đó lượng mưa thấp (khoảng 20 – 60 mm/tháng). Lượng mưa
trung bình từ 1.693 – 3.280 mm/năm, tháng ít mưa nhất là 1 - 2, lượng
mưa cực đại thường rơi vào tháng 8 - 10.
Với thời gian và lượng mưa phân bố như trên cho nên vùng 2 có
sản lượng lá dâu tập trung vào tháng 5 – 9. Vùng 3, 4 lại tập trung vào
các tháng 4; 5; 6 và 9; 10, vì mưa liên tục làm giảm số giờ và cường độ
chiếu sáng dẫn đến sản lượng thấp.
3.1.1.3 Thổ nhưỡng
Lâm Đồng có diện tích đất nông nghiệp lớn, khoảng 395.535 ha. Do
điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cho nên có thể chia Lâm Đồng thành 4
vùng sinh thái nông nghiệp. Trong đó 3 vùng có ưu thế về phát triển

+ Phân K
2
O (kg/ha)
2- Tỷ lệ hộ sử dụng thuốc (%)
3- Đốn, tỉa tạo hình:
+ Thời gian đốn hàng năm
+ Kỹ thuật đốn hàng năm

Già cỗi

25,5
35,5

12,5 5,8
305,4
428,8
Không bón
16,7

Tháng 12
Đốn sát

Thời kỳ
kinh doanh
31,6
24,0


giống mới chiếm khoảng 25,5%. Năng suất thấp, khoảng 12,5 tấn/ha.
Mật độ bình quân khoảng 35,5 nghìn cây/ha. Bón phân cho dâu ở mức
thấp, phân hữu cơ 5,8 tấn/ha, phân vô cơ 305,4 kg N; 428,8 kg P
2
O
5
/ha.
Phân ka li và vôi không được bón, với số lần bón trung bình là 3,6
lần/năm. Đốn hàng năm vào tháng 12, đầu mùa khô, áp dụng đốn sát.
Tại Bảo Lộc: chủ yếu trồng giống giống Bầu đen, diện tích trồng
giống mới khoảng 31,6%. Năng suất bình quân chỉ đạt 11,5 tấn/ha. Mật
độ trồng thấp, khoảng 24 nghìn cây/ha. Bón phân ít, hữu cơ khoảng 6,2
tấn, phân vô cơ là 489,8 kgN/ha; 518,5 kg P
2
O
5
/ha ; 155,9 kg K
2
O/ha.
Đốn hàng năm vào tháng 12, đầu mùa khô, áp dụng đốn sát.
Tại ĐạTẻh: Giống dâu đang được trồng phổ biến là Bầu đen, diện
tích giống mới chiếm khoảng 18,3%, năng suất trung bình đạt 13,5 tấn/ha.
Mật độ trồng tại đây tương đối dày, khoảng 50 nghìn cây/ha. Bón phân vô
cơ trung bình ở Đạ tẻh là 258,0 kgN/ha; 354,4 kg P
2
O
5
/ha. Phân ka li và
vôi không được bón. Đốn hàng năm vào tháng 12, áp dụng đốn sát.


LSD
0,05
CV (%)
6,41
8,2
6,18
1,1

Bảo Lộc
TBL-03
30,6a
277,6b
23,6
TBL-05
30,3a
283,5a
23,4
VA-201 (đ/c)
32,4a
149,3c
24,9
LSD
0,05
CV (%)
10,10
14,4
2,87
0,5

Đạtẻh

Bình quân số lá trên mét cành của hai THL ở cả 3 vùng đều ít hơn
giống đ/c khoảng 1 lá. Như vậy chứng tỏ độ dài đốt ở 2 tổ hợp lai đều dài
hơn so với giống đ/c. 10
3.2.3.2 Năng suất lá
Bảng 3.12 Năng suất lá của các tổ hợp lai thí nghiệm
Địa
điểm
Giống
NS thực /ô
TN (kg)
NS quy ra
ha (tấn)
So với đối
chứng (%)
Lâm

TBL-03
2459,3a
24,59
123,2
TBL-05
2314,7a
23,15
116,0
VA-201 (đ/c)
1995,5b
19,96

Tẻh
TBL-03
2508,5a
25,09
122,6
TBL-05
2331,9a
23,32
114,0
VA-201 (đ/c)
2046,4b
20,46
100
LSD
0,05
CV (%)
184,99
3,6
Tại Lâm Hà: năng suất của TBL-03 (2459,3 kg), TBL-05 (2314,7
kg) đều cao hơn đ/c VA-201 (1995,5 kg) và sai khác có ý nghĩa. Năng
suất quy ra héc ta của TBL-03 cao nhất (24,6 tấn/ha) > TBL-05 (23,1
tấn/ha) > VA-201 (20,0 tấn/ha). Chỉ số so sánh giữa TBL-03, TBL-05
với đối chứng là 123,2%; 116,0%.
Tại Bảo Lộc: năng suất của TBL-03 (2320,3 kg), TBL-05 (2149,2
kg) lớn hơn đ/c VA-201 và sai khác có ý nghĩa. Năng suất/ ha cao nhất là
TBL-03 đạt 23,2 tấn/ha cao hơn đối chứng VA-201 (19,4 tấn/ha) là 19,8
%, tương tự TBL-05(21,5 tấn/ha và 10,9%).

VA-201
519,2a
1,79ab
12,2a
LSD
0,05
CV (%)
6,65
1,3
0,087
2,3
0,95
1,1
Bảo
Lộc
TBL-03
519,9a
1,82a
12,5ª
TBL05
517,3a
1,73b
12,1ª
VA-201
518,9a
1,77ab
12,3a
LSD
0,05
CV (%)

nghĩa. Khối lượng kén của hai THL đều không sai khác nhau nhiều so
với đ/c, vì thế hệ số tiêu hao hao dâu chênh lệch nhau rất nhỏ. Kết quả
trên chứng tỏ chất lượng lá của hai THL tương tự như giống đ/c.
Tổ hợp TBL-03: Năng suất kén tại Lâm Hà (523,3 g) > Bảo Lộc
(519,9 g) > Đạtẻh (506,1 g). Còn khối lượng kén tại Lâm Hà > Bảo Lộc
> Đạtẻh, sai khác có ý nghĩa. Tiêu hao dâu/1kg kén tại Đạtẻh cao nhất là
13,6kg, lớn hơn Lâm Hà (12,6 kg) và Bảo Lộc (12,5 kg).
Tổ hợp TBL-05: Các chỉ tiêu về kén của cả 2 vùng Lâm Hà và Bảo
Lộc cao hơn Đạtẻh từ 5,2 - 5,3%. Ngược lại, tiêu hao dâu/1kg kén tại
Đạtẻh cao nhất là 13,1kg, lớn hơn Lâm Hà (12,5 kg) và Bảo Lộc (12,1 kg).
3.2.5 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống dâu thí nghiệm
Tổng hợp số liệu ở 3 vùng cho thấy mức độ gây hại của bệnh Bạc
thau và Gỉ sắt trên TBL-03 (6,29% và 7,77%) cũng như TBL-05 (6,60%
và 8,25%) thấp hơn đ/c (9,48% và 9,90%). Rầy hại ở mức thấp, dao
động xung quanh cấp 1 và tương đương đ/c. Như vậy hai THL có khả
năng chống chịu sâu bệnh hại tương đối tốt ở cả 3 vùng sinh thái.

12
Bảng 3.14

Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống dâu
thí nghiệm
Giống
Địa điểm
CSB Bạc thau
(%)
CSB Gỉ sắt
(%)
MĐ rầy
(cấp)

+
Bảo Lộc
10,69
11,66
+
Đạ Tẻh
9,41
8,94
+
Tổ hợp TBL-03: mức độ nhiễm Bạc thau và Gỉ sắt ở mức thấp. Tại
Lâm Hà là 6,33% và 5,36 %. Tại Bảo Lộc là 7,86%; 13,74%. Vùng Đạ
tẻh có bệnh nhẹ hơn, 4,68% và 4,20 %. Rầy gây hại nhẹ, nhiễm ở cấp 1.
Như vậy TBL-03 có khả năng chống chịu khá với sâu bệnh hại.
Tổ hợp TBL-05: Tại Lâm Hà, bệnh Bạc thau và Gỉ sắt gây hại ở
mức 6,39% và 7,21 %. Ở Bảo Lộc là 8,38%; 10,85% và Đạ Tẻh là
5,04% và 6,70%. Tương tự TBL-03, tổ hợp TBL-05 có khả năng chống
chịu khá với sâu bệnh hại.
3.3 Kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống vô tính bằng giâm hom
3.3.1 Kết quả nghiên cứu xác định số mầm/hom thích hợp
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của số mầm/hom đến chất lượng cây giống
Công thức
TBL-03
TBL-05
Tỷ lệ
cây sống
(%)
Tỷ lệ cây
đạt tiêu
chuẩn (%)
Tỷ lệ


13
rất nhỏ. Nguyên nhân là do chiều dài hom tăng đã tích lũy lượng dinh
dưỡng nhiều hơn. Do vậy để nhân nhanh giống dâu mới trong điều kiện
thuận lợi có thể sử dụng hom 2 mầm thông qua vườn ươm để nâng cao
hệ số nhân giống.
3.3.3 Kết quả nghiên cứu xác định tuổi hom giâm thích hợp
Bảng 3.17

Ảnh hưởng của tuổi hom đến chất lượng cây giống
Công thức
TBL-03
TBL-05
Tỷ lệ
cây sống
(%)
Tỷ lệ cây
đạt tiêu
chuẩn (%)
Tỷ lệ
cây sống
(%)
Tỷ lệ cây
đạt tiêu
chuẩn (%)
TH1 (4 tháng tuổi)
39,7
26,6
47,8
36,1

cây
ra rễ
(%)
TL cây
đạt tiêu
chuẩn
(%)
Tỷ lệ
cây ra
rễ
(%)
TL cây
đạt tiêu
chuẩn
(%)
Hom
ngắn
đ/c (không sử dụng)
70,8
64,5
73,0
67,8
CT1 (1000 ppm)
80,7
72,0
84,7
73,7
CT2 (1500 ppm)
83,5
76,3

14
a- Hom thành thục có 2 mầm (hom ngắn): Kết quả cho thấy cả 2
tổ hợp đều có TL cây ra rễ, TL cây xuất vườn cao khi sử dụng α-NAA.
Đối với TBL-03, có TL cây đạt tiêu chuẩn tăng từ 64,5 % ở CT đ/c lên
72,0; 76,3 và 80,9 % ở các CT 1; CT 2 và CT 3. So với đ/c đã tăng lên
12, 18 và 25%. Tổ hợp TBL-05 có diễn biến tương tự, song có TL cây
sống và cây đạt tiêu chuẩn cao hơn. Tỷ lệ cây con đạt tiêu chuẩn tăng
từ đ/c đến CT 3: 67,8 % - 82,0%. Mức sai khác giữa các nấc tăng nồng
độ với đ/c là rất lớn.
b- Hom xanh (4 tháng tuổi): Khi nồng độ α-NAA tăng lên từ 1000 -
2000 ppm thì TL cây sống đạt tiêu chuẩn của 2 THL đều tăng lên, từ
48,8 - 68,0%. Tương ứng tăng từ 85% đến 157% so với đ/c ở TBL-03.
Tương tự, TBL-05 tăng từ 56,8 – 68,4%, tương ứng tăng từ 57 - 90% so
với đ/c. Như vậy nồng độ xử lý thích hợp nhất cho cả 2 THL là 2000
ppm trong 5 phút.
3.3.6.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ IAA
Bảng 3.21 Ảnh hưởng nồng độ IAA đến chất lượng cây giống
Hom
dâu
Công thức
TBL-03
TBL-05
Tỷ lệ
cây ra
rễ
(%)
TL cây
đạt tiêu
chuẩn
(%)

Hom
xanh
đ/c (không sử dụng)
44,2
25,8
54,8
35,0
CT1 (100 ppm)
68,8
30,1
72,1
36,2
CT2 (150 ppm)
78,6
68,6
81,0
72,7
CT3 (200 ppm)
68,3
59,3
70,7
64,1
a- Hom thành thục có 2 mầm (hom ngắn): TBL-03 có TL cây đạt
tiêu chuẩn của đ/c là 64,2 %, nhưng khi xử lý IAA đã tăng lên đến 76,9
% ở CT1 và 80,5 % ở CT 2 sau đó lại giảm ở CT 3 (72,8 %). Đối với
TBL-05 cũng có diễn biến tương tự, mức tăng mạnh nhất là từ CT 1 lên
CT 2 (82,9 - 89,1%); trong khi đ/c là 67,5 %.
b- Loại hom xanh (4 tháng tuổi): Tổ hợp TBL-03 có TL cây đạt tiêu
chuẩn tăng lên từ CT1 đến CT2 tương ứng là 30,1 đến 68,6 % và lại
giảm đi ở CT3 (59,3%), tuy nhiên tỷ lệ này vẫn cao hơn đ/c (25,8%).

P1
28,9b
28,2b
29,6c
27,4a
27,0b
28,6a
P2
30,5a
31,4a
31,2b
27,7a
30,1a
28,8a
P3
31,1a
31,8a
32,5a
27,9a
30,1a
29,1a
LSD
0,05

1,11
0,99
1,25
0,89
0,98
0,87

kg N/ha đã đáp ứng tương đối đầy đủ cho nhu cầu đối với cây dâu.
Tại Bảo Lộc, đất có hàm lượng dinh dưỡng, lượng mùn thấp cho
nên khi bón tăng lượng phân cho thấy năng suất đã tăng mạnh, cao
hơn đ/c. Với mức tăng hơn 2,24; 4,48; 4,50 tấn/ha so với đ/c (23,30

16
tấn/ha), tương đương mức tăng từ 9,6 - 19,3 %. Mức tăng trên đều có
ý nghĩa so với đ/c, tuy nhiên chỉ có mức bón đ/c với P1 và P1 với P2 là
sai khác có ý nghĩa.
Bảng 3.23 Ảnh hưởng liều lượng phân vô cơ đến năng suất lá
(tấn/ha)
Công
thức
TBL-03
TBL-05
Lâm

Bảo
Lộc
Đạtẻh
Lâm

Bảo
Lộc
Đạtẻh
đ/c
25,12 c
23,73c
25,22d
23,19d

0,296
0,306
CV %
0,5
0,7
0,3
0,3
0,6
0,7

Tại ĐạTẻh đất có hàm lượng mùn và dinh dưỡng khá cao. Khi tăng
lượng phân bón đã làm năng suất tăng từ 0,98 - 1,90 tấn/ha so với đ/c và vượt
4,0 – 7,7%. Xử lý thống kê năng suất lá dâu cho thấy mức sai khác không có ý
nghĩa giữa P1; P2 với đ/c, chỉ có P3 và đ/c là sai khác có ý nghĩa.
3.4.2.2 Tổ hợp TBL-05:
Tại Lâm Hà, khi bón tăng lượng phân từ đ/c lên P1; P2; P3, năng suất
tăng từ 23,18 tấn/ha lên 26,38; 27,70; 28,04 tấn/ha. So với đ/c cho thấy
năng suất tăng lên 13,8; 19,5; 21,0% và đều sai khác có ý nghĩa. So sánh
các mức bón cho thấy chỉ có mức tăng từ đ/c lên P1 là sai khác có ý nghĩa.
Tại Bảo Lộc, năng suất của các công thức thí nghiệm đều cao hơn
đ/c. Năng suất tăng từ 1,84 - 5,52 tấn/ha (tương đương 8,6 – 25,8%) và
có sự sai khác có ý nghĩa giữa các công thức so với đ/c và giữa các công
thức với nhau.
Tại ĐạTẻh, khi tăng lượng phân bón đã làm năng suất lá tăng 0,34 –
1,76 tấn/ha, tương đương 1,5 – 7,6%. Xử lý thống kê năng suất lá dâu
cho thấy mức sai khác không có ý nghĩa giữa P1; P2 với đ/c, chỉ có P3
và đ/c là sai khác có ý nghĩa.
3.4.3 Ảnh hưởng của phân vô cơ đến chất lượng lá dâu
3.4.3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng lá của tổ hợp TBL-03
Năng suất kén có sự khác nhau giữa các công thức, nhưng sự sai

đơn
(m)
NS
kén/
lần
nhắc
lại (g)
TL
vỏ
kén
(%)
CD tơ
đơn
(m)
NS
kén/
lần
nhắc
lại (g)
TL
vỏ
kén
(%)
CD tơ
đơn
(m)
đ/c
517,7b
23,18
1184,0a

504,4b
22,76
1129,7c
502,6b
22,63
1109,1a
LSD
0,05

1,38

18,96
2,83

7,25
3,12

8,17
CV %
0,1

0,8
0,3

0,3
0,3

0,4

3.4.3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng lá của tổ hợp TBL-05

(m)
NS kén/
lần
nhắc lại
(g)
TL
vỏ
kén
(%)
CD tơ
đơn
(m)
đ/c
514,2a
23,26
1171,8a
516,1b
22,99
1166,5a
497,2a
23,79
1152,6a
P1
514,9a
23,61
1162,6a
518,8a
23,16
1162,7a
497,0a

11,00
7,08

5,72
CV %
0,1

0,5
0,2

0,5
0,7

0,3

18
Qua thí nghiệm cho thấy khi tăng liều lượng phân bón vô cơ đã làm
năng suất kén thay đổi, sự khác nhau giữa các công thức có ý nghĩa. Tại
Lâm Hà năng suất kén của thí nghiệm dao động trong khoảng 504,2 -
514,9 g; tại Bảo Lộc là 510,4 - 518,8 g và ở Đạ tẻh là 489,6 - 597,2 g. Tỷ
lệ vỏ kén giảm ở cả 3 vùng thí nghiệm, chiều dài tơ đơn ở các công thức
tương đương hoặc nhỏ hơn công thức đối chứng.
3.4.4 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng chống chịu số bệnh
Bảng 3.25

Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ đến mức độ
nhiễm sâu bệnh
(*)

Tổ

8,0
9,1
+
P1
7,3
8,7
+
13,5
13,3
+
9,4
10,4
+
P2
12,6
12,0
+
18,6
18,4
+
14,2
15,7
+
P3
17,5
16,1
+
22,4
23,6
+

12,3
+
12,1
14,5
+
P3
11,5
15,2
+
14,3
14,3
+
15,2
16,0
++
(*) Ghi chú: Bệnh tính theo chỉ số bệnh (%); Rầy chia theo cấp
Kết quả điều tra cho thấy bệnh hại có diễn biến chung là thấp nhất ở
đ/c; P1 và cao nhất tại P3 ở cả 3 vùng thí nghiệm. Sự sai khác rõ nhất từ
P2; P3 với đối chứng và ở P1 đến P2; P2 đến P3. Nguyên nhân do khi
bón tăng lượng phân bón cây sinh trưởng phát triển mạnh sẽ làm cho lá
mềm, ruộng dâu có độ ẩm cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại sâu
bệnh phát triển.
- Bệnh Bạc thau: tại Lâm Hà có CSB trên TBL-03 thấp, từ 7,2% -
17,5%. Tổ hợp TBL-05 nhiễm bệnh nặng nhất tại P3 (11,5%) và thấp
nhất ở P1 (4,7 %), trong khi công thức đ/c có CSB là 4,9%. Đối với vùng
sinh thái Bảo Lộc có bệnh gây hại nặng. Tổ hợp TBL-03 có CSB thấp
nhất ở đ/c (11,3%) và cao nhất ở P3 là 22,4%. Tương tự, chỉ số bệnh Bạc
thau trên TBL-05 dao động từ 5,3 - 14,3 %. Vùng Đạ Tẻh có điều kiện
khí hậu nóng ẩm, khá thuận lợi cho bệnh Bạc thau phát triển. Mức độ
gây hại nặng trên TBL-03, dao động từ đ/c (8,0 %) đến P3 (21,0 %) và

12.306
14.352
- Chi phí khác
24.950
24.950
24.950
24.950
II. Năng suất
(tấn/ha)
Lâm Hà
25,10
27,98
28,03
28,60
Bảo Lộc
23,70
25,53
27,83
27,83
Đạtẻh
25,24
25,72
26,19
27,63
III. Giá
thành lá dâu
(đ/kg)
Lâm Hà
1.321
1.259

20
giảm mạnh từ 34,6 m ở đ/c giảm xuống còn 24,1 m ở M3, các công thức
khác đều thấp hơn đ/c và sai khác có ý nghĩa. Tương tự, TBL-05 là
27,2m ở M1 so với đ/c là 29,0m, thấp nhất ở M3 có 19,5m. Xử lý thống
kê cho thấy M1 ; M2; M3 có sai khác ý nghĩa.
Bảng 3.27 Ảnh hưởng mật độ trồng đến tổng chiều dài cành
của cây dâu (m/cây)
Mật độ
Tổ hợp TBL-03
Tổ hợp TBL-05
đ/c (30.000 cây/ha)
34,6a
29,0a
M1 (40.000 cây/ha)
32,3b
27,2b
M2 (50.000 cây/ha)
28,6c
24,8c
M3 (60.000 cây/ha)
24,1d
19,5d
LSD
0,05

1,40
1,41
CV %
2,3
2,8

25,24
M2 (50.000 cây/ha)
75,2a
30,08
64,8a
25,92
M3 (60.000 cây/ha)
78,6a
31,44
68,5a
27,40
LSD
0,05

8,34

5,75

CV %
2,2

1,3 Năng suất thực thu tăng lên khi tăng mật độ trồng, cao nhất ở M3,
các công thức tăng mật độ đều sai khác có ý nghĩa với đ/c, tuy nhiên chỉ
có mức tăng giữa đ/c và M1 là sai khác có ý nghĩa. TBL-03 có năng suất
/ ô thí nghiệm dao động 60,6 – 78,6 kg, cao nhất ở M3 là 78,6 kg, trong
khi đ/c là 60,6 kg. Tương tự, TBL-05 dao động từ 53,6 – 68,5 kg, M3 có
năng suất/ ô TN là 68,5 kg ˃ đ/c (53,6 kg). Năng suất/ha cao nhất tại M3

M2 (50.000 cây/ha)
496,3b
1,79b
13,8b
M3 (60.000 cây/ha)
456,3c
1,68c
14,3a
LSD
0,05
CV%
7,71
0,8
0,010
0,3
0,47
1,8
TBL-05
đ/c (30.000 cây/ha)
523,8a
1,78a
12,2c
M1 (40.000 cây/ha)
523,0a
1,78a
12,3c
M2 (50.000 cây/ha)
489,7b
1,73a
13,5b

rầy
(cấp)
CSB
bạc
thau
(%)
CSB
gỉ
sắt
(%)
Mức
độ
rầy
(cấp)
đ/c (30.000 cây/ha)
7,6
6,3
+
5,2
5,3
+
M1 (40.000 cây/ha)
7,7
6,8
+
5,3
7,7
+
M2 (50.000 cây/ha)
10,2

(m/cây)
Công thức
TBL-03
TBL-05
Lâm

Bảo
Lộc
Đạtẻh
Lâm

Bảo
Lộc
Đạtẻh
Đ1 (1 tháng 2)
27,8b
34,1a
28,7c
23,2b
27,4a
24,8bc
Đ2 (1 tháng 4)
31,4a
28,0b
35,5a
27,8a
23,9b
27,6a
Đ3 (1 tháng 6)
24,0c

nhất là 31,4 m, đ/c (27,1 m), sai khác ý nghĩa với đ/c. Tại Bảo Lộc, từ
20,4 - 34,1 m. Vùng Đạtẻh biến động giữa các từ 26,5 - 35,5 m.
Tổ hợp TBL-05: tại Lâm Hà cao nhất ở Đ2 là 27,8 m, đ/c (23,9 m),
tại Bảo Lộc cao nhất ở Đ1 (27,4 m), Đ2 (23,9 m), vùng Đạtẻh dao động
từ 20,3 - 27,6 m, cao nhất ở công thức Đ2, thấp nhất Đ3.
3.6.3 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến năng suất lá
Tổ hợp TBL-03: Tại Lâm Hà, năng suất ở Đ2 (26,1 tấn/ha), Đ1
(25,04 tấn/ha), cao hơn đối chứng (24,40 tấn/ha) là 6,6 % và 2,6%. Đ3
có năng suất thấp hơn đ/c 7,5%. Tại Bảo Lộc, có NS ở Đ1 (24,48 tấn/ha)
cao hơn đ/c là 7,6 %, các công thức khác có NS thấp hơn đ/c từ 6,7 –
10,5 %. Kết quả xử lý thống kê cho thấy Đ1 không sai khác so với đ/c
nhưng sai khác có ý nghĩa so với Đ2 và Đ3. Tại Đatẻh có NS ở Đ2 cao
nhất là 26,72 tấn/ha, Đ3 (24,21 tấn/ha) và thấp nhất Đ1 (24,11 tấn/ha).
So sánh với đ/c thì Đ2 cao hơn 8,3%, Đ3 và Đ1 thấp hơn 1,9 và 2,3 %.
Tổ hợp TBL-05: tại Lâm Hà, NS cao nhất tại Đ2 (24,82 tấn/ha), Đ1
(23,84 tấn/ha), cao hơn đối chứng là 8,5 % và 4,2 %. Năng suất của Đ3
thấp nhất (18,57 tấn/ha), thấp hơn đ/c là 18,8%. Tại Bảo Lộc, NS ở Đ1
cao nhất (23,93 tấn/ha) lớn hơn đ/c là 10,2 %. Ở Đ2 có NS (21,20

23
tấn/ha), xấp xỉ đ/c. Đ3 là 20,47 tấn/ha, thấp hơn đ/c là 5,8%. Xử lý thống
kê cho thấy Đ1 có sai khác so với các công thức khác và đ/c. Vùng
Đạtẻh có NS cao nhất ở Đ2 (24,98 tấn/ha), cao hơn đ/c là 8,2% và sai
khác có ý nghĩa. Đ1 là 23,41 tấn/ha, Đ3 (23,26 tấn/ha) tương đương đ/c.
Bảng 3.35 Năng suất lá ở các thời vụ đốn khác nhau
Địa
điểm
Công thức
TBL-03
TBL-05

24,40c
100
22,87c
100
LSD
0,05
CV %
0,423
0,8

0,500
1,0

Bảo
Lộc
Đ1 (1 tháng 2)
24,48a
107,6
23,93a
110,2
Đ2 (1 tháng 4)
21,33c
93,7
21,20c
97,6
Đ3 (1 tháng 6)
20,38d
89,5
20,47d
94,2

100,1
đ/c (1 tháng 12)
24,68b
100
23,09b
100
LSD
0,05

0,959

0,447

CV %
1,7

0,8 KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ
1 Kết luận
1. Lâm Đồng là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển ngành sản xuất
dâu tằm tơ. Trước hết là quỹ đất nông nghiệp hiện có 395.535 ha chiếm
40% tổng diện tích đất tự nhiên. Do đặc điểm địa hình nên đất đai nông
nghiệp đã phân bố ở 4 vùng sinh thái, trong đó có vùng 2, 3 và 4 đã và đang
trồng dâu nuôi tằm với quy mô trên dưới 8.000 ha dâu bằng 40% tổng diện
tích dâu của cả nước. Do điều kiện khí hậu ở 3 vùng sinh thái này nên cây
dâu có thời gian sinh trưởng kéo dài từ tháng 1 đến tháng 12 và tạo điều kiện
để nuôi quanh năm các giống tằm lưỡng hệ cho năng suất tơ kén cao. Bên


hom xanh 4 tháng tuổi với chất α-NAA thì nồng độ xử lý là 2.000 ppm
(trong 6 phút), còn khi dùng chất IAA thì nồng độ xử lý là 150 ppm
(trong 2 phút).
4. Để nâng cao năng suất chất lượng lá và hạn chế sâu bệnh gây hại
của hai tổ hợp dâu lai trồng trong sản xuất cần áp dụng một số biện pháp
kỹ thuật thích hợp sau:
- Mật độ trồng dâu 40.000 cây/ha là thích hợp, tuy năng suất lá có giảm
đi từ 5 – 10% ở TBL-03 và 2 – 8% ở TBL- 05 so với mật độ 50.000 –
60.000 cây/ha. Nhưng năng suất kén ở mật độ 40.000 cây/ha lại tăng lên từ
4 – 13% và 7 – 10%. Mức độ nhiễm các bệnh nấm và rầy giảm đi rõ rệt.
- Lượng phân bón vô cơ hàng năm cho ruộng dâu từ 2 tuổi trở lên là
(300 N + 150 P
2
O
5
+ 150 K
2
O) kg/ha cho vùng Lâm Hà, (360 N + 180
P
2
O
5
+ 180 K
2
O) kg/ ha cho vùng Bảo Lộc và (240 N + 120 P
2
O
5
+ 120
K


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status