LUẬN văn tốt NGHIỆP ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo VIỆC GIA NHẬP tổ CHỨC THƯƠNG mại THẾ GIỚI WTO từ năm 1996 đến năm 2007 - Pdf 38

1. Lý do chọn đề tài
Đại hội X của Đảng đã tổng kết: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu
của toàn Đảng, toàn dân, tàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội,
có sự thay đổicơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công
nghiêp hoá, hiện đại hoá, phá triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
được đảy mạnh. Đời sống nhân dân đựoc cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối
đại đoàn kêttoàn dântộc được củng cố và tăng cường. Chính trị- xã hội ổn định.
Quốc phòng và an ninhđược giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không
ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế
và lực mmới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp” [13, 67-68] .Tuy
nhiên trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp như hiện nay, đòi hỏi cho từng quốc
gia dân tộc muốn hội nhập vững chắc vào nền kinh tế thế giới phải có sự nhạy bén,
linh hoạt và phải có đường lối chủ trương hội nhập thật đúng đắn và linh hoạt. Đối
với nước ta, một nước có nền kinh tế đang phát triển, chính vì vậy để thúc đẩy sản
xuất trong nước phát triển thì Đảng và Nhà nước phải có chủ trương, đường lối phát
triển kinh tế hợp lý, nhưng những yếu tố hết sức quan trọng khác là: Thị trường,
vốn và công nghệ. Những yếu tố này diễn biến hết sức năng động và phức tạp đòi
hỏi chúng ta hết sức nhạy bén và linh hoạt. Nó được những nước phát triển đang tận
dụng hết sức hiệu quả. Vì vậy đối với nước ta chủ động hội nhập kinh tế, và tham
gia vào Tổ chức Thương mại thế giới là yêu cầu khách quan và là một đòi hỏi cấp
bách trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.Xuất phát từ
yêu cầu như vậy mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đề ra với việc
triển khai nhiều chính sách cải cách kinh tế, mở cửa thị trường, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài…để bước đầu khắc phục được khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng
với những biểu hiện nạm phát phi mã, sự thiếu thốn về hàng tiêu dùng thiết yếu,
bức bách về đời sống của đông đảo quần chúng lao động…cuối những năm 90,
trước sự sụp đổ của Liên xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu.
Đường lối đổi mới tiếp tục được các Đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng khẳng định





3
với tiến trình gia nhập tổ chức Thương mại thế giới” của PGS, TS Phan
Thanh Phố, Nxb CT QG, H. 2005.
“Tổ chức thương mại thế giới, triển vọng gia nhập của Việt Nam” của
Trung tâm tư vấn đào tạo kinh tế thương mại ICIC.
“Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của
nước ta” của Ban tư tưởng văn hoá trung ương, Nxb CTQG, H. 2004.
“Bộ ngoại giao Vụ hợp tácđa phương -Việt Nam hội nhập kinh tế trongh
xu thế toàn cầu hoá, vần đề và giải pháp, Nxb CTQG, H, 2002.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm rõ tính đúng đắn sáng tạo trong chủ trương và sự chỉ
đạo của Đảng về quá trình Việt Nam gia nhập WTO từ năm 1996 đến năm
2007, từ đó có thể vận dụng có hiệu quả đối với quá trình lãnh đạo đất nước
gia nhập WTO sâu rộng hơn.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ tính tất yếu khách quan Việt Nam gia nhập WTO
- Trình bày hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với quá
trình Việt Nam gia nhập WTO từ năm 1996 đến năm 2007.
- Đánh giá thành tựu hạn chế và nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm
bước đầu trong quá trình Đảng lãnh đạo chỉ đạo Việt nam gia nhập WTO từ
năm 1996 đến năm 2007.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quá
trình Việt Nam gia nhập WTO.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập chung nghiên cứu và làm rõ Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình Việt Nam gia nhập WTO từ năm 1996
đến năm 2007.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

mại thế giới. Tuy kế thừa Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT) năm 1944, nhưng WTO mở rộng các lĩnh vực thương mại về nông
nghiệp, hàng dệt may, dịch vụ, đầu tư sở hữu trí tuệ mà GATT chưa đề cập
đến sự ra đời của WTO tạo nên một cơ chế pháp lý tương đối hoàn chỉnh,
điều chỉnh các quan hệ thương mại và hàng hoá toàn cầu. WTO là một tổ
chức liên Chính phủ hoạt động độc lập với tổ chức Liên hợp quốc (UN).
Liên hợp quốc có 191 nước thành viên còn WTO có 149 thành viên. WTO
chi phối các chính sách thương mại của khu vực và các quốc gia, điều tiết
trên cá 4 lĩnh vực. Thương mại hàng hoá, 11 ngành và 155 phân ngành dịch
vụ, đầu tư có liên quan đến thương mại và sỡ hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại. Chính vì từ nhận thức được vai trò của WTO đối với kinh tế
toàn cầu, trong đó có Việt Nam, nên ngay từ tháng 12 năm 1994 Việt Nam
đã nộp đơn xin gia nhập tổ chức này.
Để thực hiện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, Việt Nam cần mở rộng quan hệ với các nước đối tác
nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn, công nghiệp và kiến thức quản
lý kinh tế tiên tiến, tham gia phân công lao động quốc tế để khai thác các tiềm
năng bên ngoài…từ đó đẩy mạnh và duy trì tốcđộ tăng trưởng kinh tế, tiến tới bắt
kịp các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, không ngừng nâng cao sức
mạnh kinh tế và vị thế quốc gia. Vì vậy hội nhập vào tổ chức thương mại thế giới
là một yêu cầu khách quan thể hiện ở những nét sau:


6
WTO là một tổ chức có tầm ảnh hưởng rộng lớn, nó tác động đến hầu
hết các quốc gia và vùng lãnh thổ, là nhân tố quan trọng để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, WTO tạo
điều kiện, tiền đề cho các nước nói chung và Việt Nam nói riêng, tiếp cận thu
hút những nguồn lực rất quan trọng, cần thiết cho sự nghiệp cải cách và đổi
mới của đất nước. Từ nguồn vốn đầu tư còn rất thiếu, công nghệ hiện đại đến

Nam có khả năng từng bước cải thiện đời sống của người lao động, các dân
tộc trên mọi miền đất nước cả về vật chất lẫn tinh thần. Thực tế cho thấy gần
20 năm đổi mới đã cho thấy điều đó.
Tham gia vào WTO làm tăng nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế theo hướng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế, một bộ phận của cơ cấu kinh tế, trình độ và tốc độ
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có liên quan, đến quy mô, cơ cấu và chất lượng
của sức mạnh cạnh tranh hàng hoá. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế bản thân nó
lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, đặc điểm về
kinh tế - tự nhiên, xã hội và nhân văn. Định hướng phát triển và chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế (nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng và dịch vụ) được thực
hiện theo sự phân loại các nhóm hàng có mức độ cạnh tranh khác nhau.
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo
hướng ưu tiên phát triển các mặt hàng nông, lâm, ngư nghiệp có khả năng
cạnh tranh cao, phù hợp các hiệp định song phương và đa phương.
Đối với sản phẩm trồng trọt trong thời gian ngay sau khi là thành viên
chính thức của WTO thì tư duy cạnh tranh và quy hoạch tổng thể về tiềm
năng đất đai và tài nguyên hiện có. Hàng hoá ngành trồng trọt đều có xu
hướng phát triển, các vùng và tiểu vùng kinh tế ven các thị tứ, thị trấn, ven đô
trồng các loại rau hàng hoá sạch có giá trị cao như : rau, quả, hoa, cây cảnh
trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường với tính đa dạng có chất lượng cao
về giá trị sử dụng cho thị trường trong nước và quốc tế. Hướng cạnh tranh và
xuất khẩu thông qua việc thực hiện các dự án phát triển cây trồng trong nông
nghiệp và lâm nghiệp ngày càng tăng. Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ở
nông thôn (từ 1996 - 2010) để tăng khối lượng và giá trị hàng hoá, đó là dựa án
gieo cấy lúa lai thời gian 15 năm từ 1996 - 2010. Bằng cách đó mà khai thác sử


8
dụng tối đa có hiệu quả quỹ đất đai của vùng, tạo nhiều sản phẩm có khả năng


9
nghệ và đầu tư phát triển. Nhưng vốn, công nghệ không phải tự nhiên mà có,
đặc biệt trong điều kiện xuất phát điểm của Việt Nam là một nước đang phát
triển ở trình độ thấp, sản xuất manh mún, phán tán và công nghệ lạc hậu nhiều
thế hệ so với các nước đang phát triển khác, thì vốn cho đầu tư phát triển công
nghệ hiện đại chỉ có thể thực hiện bằng hai con đường là chuyển giao công
nghệ thông qua các dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và mở rộng
quan hệ thương mại quốc tế với chiến lược hướng về xuất khẩu. Vì vậy gia
nhập WTO là một yêu cầu khách quan đối với nước ta.
Việc Việt Nam gia nhập WTO của Việt Nam cũng tạo ra cho Việt Nam
những cơ hội và thách thức đổi mới Việt Nam.
Những cơ hội rất thuận lợi mà WTO mang lại cho Việt Nam đó là:
Thứ nhất, được tiếp cận thị trường hàng hoá dịch vụ rộng lớn. Gia nhập
WTO sẽ có lợi thúc đẩy xuất khẩu và mở rộng thị trường với tư cách là thành viên
của WTO, hàng hoá dịch vụ của Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng như các
thành viên khác và do vậy không những có nhiều cơ hội hơn trong việc thâm nhập
thị trường các nước thành viên mà còn mở rộng và phát triển thị trường ở các
nước khác trên thế giới. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá
X chỉ rõ: “Chúng ta có điều kiện mở rộng thị trường xuất vào các nước thành viên
của tổ chức Thương mại thế giới với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị
phân biệt đối xử và theo mức thuế các thành viên WTO cam kết. Đây là những
yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ của nước ta,
tạo thêm việc làm, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng” [14, 40- 41]. Hiện tại
Việt Nam đã có mối quan hệ thương mại với nhiều quốc gia là thành viên của
WTO. Năm 2002, hàng hoá của Việt Nam đã xuất sang thị trường các nước Châu
Á là 57%, thị trường Châu Âu là 22%, thị trường Nam Mỹ là 9%, thị trường Châu
Đại Dương là 7%, thị trường khác 5% tổng số lượng hàng hoá xuất khẩu.
Khi gia nhập WTO, với sự cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối
xử, tiêu thụ hàng hoá của Việt Nam trên thị trường Việt Nam dễ dàng,

khác, trong quan hệ với các nước là thành viên của WTO, khi các nước này
dành cho Việt Nam được hưởng thụ ưu đãi tối huệ quốc thì chúng ta cũng
phải đối xử như vậy đối với họ khi đến Việt Nam.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) yêu cầu một nước phải đối xử bình
đẳng và công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất


11
trong nước. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi Việt Nam đối xử bình đẳng với các
nước trong quan hệ thương mại quốc tế trong WTO. Trong kỳ họp của Hội
nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khoá X nêu rõ: “Là thành viên tổ
chức thương mại thế giới, nước ta có địa vị bình đẳng với các thành viên khác
khi tham gia vào việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, thành lập
một trật tự kinh tế mới công bằng hơn; có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo
vệ quyền lợi doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc tranh chấp thương mại với
các thành viên khác, hạn chế những thiệt hại” [14, 41-42].
Gia nhập WTO đối với Việt Nam không chỉ có những cơ hội lớn mà còn
có những khó khăn đòi hỏi phải vượt qua đó là:
Thứ nhất, cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn với nhiều đối thủ, năng lực
cạnh tranh yếu kém của các doanh nghiệp, các ngành hàng hoá và dịch vụ.
Nền kinh tế nước ta ở trình độ phát triển thấp đang trong quá trình chuyển đổi
kinh tế thị trường mới còn đang ở giai đoạn phát triển sơ khai, các yếu tố cơ
bản đồng bộ của thị trường chưa phát triển đều đủ…dẫn đến khả năng kinh
doanh và sức cạnh tranh của các chủng loại hàng hoá dịch vụ của các doanh
nghiệp Việt Nam rất kém. Thị trường tiêu thụ hàng hoá của ta trên thế giới rất
hạn hẹp, dễ bị thôn tính. Trong bối cảnh thế giới tự do buôn bán, tự do đầu
tư, Việt Nam ở vào thế yếu, rất dễ trở thành nơi tiêu thụ hàng hoá ở nước
ngoài. Muốn có thị trường toàn cầu thì Việt Nam phải mở cửa thị trường nội
địa cho các nước. Đây là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam, bởi
các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh kém.

của thị trường các nước sẽ tác động đến thị trường các nước sẽ tác động đến
thị trường trong nước. Do vậy đòi hỏi chúng ta có chính sách vĩ mô đúng đắn.
Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường khi tham gia WTO, có thể một
số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước sẽ phụ thuộc mạnh mẽ vào các diễn
biến trên trường quốc tế và khu vực vấn đề tỷ giá lạm phát, cán cân thanh
toán, ngân sách thiếu hụt…sẽ có những diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự chỉ đạo
chặt chẽ và uyển chuyển . Mặc dù đã có những nỗ lực để hoàn thành khuôn
khổ pháp lý liên quan đến kinh tế thương mại. Việt Nam vẫn còn nhiều việc
phải làm khi gia nhập WTO. Trước hết, phải liên tục hoàn thiện các quy chế
về cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập nhằm thúc đẩy tính năng
động và khả năng thích ứng nhanh - yếu tố quyết định sự thành bại của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bố trí nguồn lực. Đồng thời, những cam kết mở


13
cửa thị trường của ta là cam kết theo lộ trình nên tiến trình hoàn thiện khôn
khổ pháp lý sẽ còn tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài.
Thứ tư, nhiều vấn đề mới đặt ra trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ
an ninh quốc gia, gìn giữ bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền. Trong quá trình hội
nhập chúng ta cũng chịu nhiều những tác động này bởi lẽ xuất phát từ
công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta tiến hành đổi mới toàn diện trên
tất cả mọi mặt, mọi lĩnh vực. Chính vì vậy, trong khi đổi mới chúng ta lại
phải có những chủ trương và biện pháp làm thế nào vừa phối hợp với xu
hướng chung của nhân loại nhưng cũng phải tôn tạo và phát huy những
giá trị truyền thống văn hoá dân tộc. Nhưng khi hội nhập chúng ta không
tránh khỏi những tác động mặt trái của toàn cầu hoá, như Hội nghị lần thứ
tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã nêu lên: “Cùng với thách
thức trong lĩnh vực kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế đặt ra những thách
thức lớn đối với chế độ chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và việc giữ

tác và liên kết khu vực. Liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh
vực hoạt động khác ở trong nước bên cạnh những thành tựu của 10 năm đổi
mới đã và cho ta thế và lực mới, đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế
xã hội tiếp tục đi lên, nhiều tiền đề cần thiết cho CNH, HĐH được tạo ra,
quan hệ nước ta và những nước trên thế giới được mở rộng…thì chúng ta
cũng còn phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ như bốn nguy cơ mà từ
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá 7 (1/1994) chỉ ra (tụt hậu xa hơn về kinh tế, tệ
quan liêu tham nhũng, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, chiến lược “Diễn biến
hoà bình” của các thế lực thù địch). Từ những thay đổi của hoàn cảnh của tình
hình thế giới và khu vực thay đổi như vậy nhưng Đảng ta vẫn khẳng định
quan điểm chủ trương chủ động hội nhập trong Đại hội VIII của Đảng: “Mở
rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” [6,
120], xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới. Đại hội
VIII chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở đa phương hoá và đa dạng hoá
quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh vào xuất khẩu, thay thế nhập khẩu
bằng những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả. Trong xuất khẩu với
phương trâm tăng nhanh tỷ trọng hàng hoá qua chế biến (hạn chế xuất khẩu
thô). Nhập khẩu tập trung vào nguyên liệu các thiết bị công nghệ đáp ứng yêu


15
cầu CNH, HĐH đất nước. Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song
phương và đa phương với các nước, các tổ chức khu vực và thế giới trên
nguyên tắc tập trung độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không
can thiệp vào công việc nội lực của nhau, bình đẳng cùng có lợi.
Ngày 18/11/1996 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01/NQ - TW về: Mở
rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại thời kỳ 1996 - 2007. Nghị quyết
chỉ ra nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp, cơ chế, chính sách chủ yếu về
phát triển kinh tế đối ngoại thời kỳ 1996 - 2000. Vạch ra lộ trình với những
bước đi cụ thể để tham gia đầy đủ vào tổ chức APEC và WTO . Triển khai

ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” [10,120].
Đại hội xác định khẩn trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh
tế quốc tế với lộ trình hợp lý và chương trình hanh động cụ thể, phát huy tính
chủ động của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp, cụ thể hoá nghị quyết
Đại hội IX của Đảng ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị cũng ra Nghị quyết
chuyên đề về hội nhập kinh tế quốc tế số 07- NQ/TW trong đó nêu rõ: “Chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn
công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, trước mắt là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ nêu ra
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001 đến năm 2010 và kế
hoạch 5 năm 2001 - 2005” [11,251]. Hội nhập kinh tế thắng lợi, thực sự đáp
ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nghị quyết còn chỉ ra những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập.
Một là, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản
sắc và bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.
Hai là, hội nhập kinh tế, quốc tế là sự nghiệp của toàn dân: Trong quá
trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần
kinh tế, của toàn xã hội trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Ba là, hội nhập kinh tế, quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh
và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức do đó cần tỉnh
táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc ứng xử tính hai mặt của hội nhập tuỳ
theo đối tượng, vấn đề, trường hợp cụ thể, vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ,
thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng.


17
Bốn là, nhận thức đầy đủ những đặc điểm của nền kinh tế nước ta, từ đó đề

18
Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (1/2004)
trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện giữa nhiệm kỳ Đại hội IX. Đề ra những
nhiệm vụ giải pháp thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX những năm tiếp
theo. Hội nghị lần thứ IX chỉ rõ: “Chủ động và khẩn trương hơn trong hội
nhập kinh tế quốc tế thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương song
phương nước ta đã được chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)” [12,189- 190]. Tiến hành xây dựng chiến lược
tổng thể hội nhập kinh tế quốc tế ở các cấp toàn cầu, khu vực và song phương,
vừa đẩy nhanh hợp tác đa phương với các đối tá có vị thế quan trọng và lâu
dài. Giành thế chủ động trong hội nhập, sửa đổi văn bản pháp luật cho phù
hợp với yêu cầu gia nhập tổ chức thương mại thế giới. Tăng nhanh năng lực
cạnh tranh, giảm dần theo lộ trình bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, xây dựng hệ
thống các biện pháp bảo lộ phí thuế phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế.
Sau hơn 3 tháng khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị
quyết số 08 - NQ/TW về “một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế
Việt Nam phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của tổ
chức thương mại thế giới” cũng như chương trình hành động của chính phủ,
cán bộ, ngành hữu quan đã tích cực triển khai công việc, kể cả việc điều chỉnh
cơ chế chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện những cam kết
khi gia nhập WTO. Cho tới nay các nước có chân trong WTO đều thừa nhận
thái độ nghiêm chỉnh của nước ta trong việc thực thi nghĩa vụ của một thành
viên. Có được những kết quả đáng khích lệ như vậy do rất nhiều nguyên nhân
khác nhau. Trong đó có một nguyên nhân hết sức quan trọng đó là sự lãnh
đạo kịp thời của Đảng. Ngay sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của
WTO trong thời gian ngắn. Trong nghị quyết 08 - NQ/TW Ban Chấp hành
Trung ương đã nêu lên những quan điểm và những chủ trương chính sách lớn
nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nền kinh tế nước ta phát triển
nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những thành tựu này cũng đâu dấu sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng trong
từng thời kỳ, từng giai đoạn về tổng quan quá trình gia nhập WTO của nước ta


20
và sau khi là thành viên chính thức của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu
này.
1.2.2. Phương hướng, giải pháp về Việt Nam gia nhập tổ chức thương
mại thế giới (WTO)
* Về trao đổi thương mại
- Nội dung về quá trình trao đổi thương mại:
Các lĩnh vực hội nhập theo thoả thuận WTO đã được mở rộng phạm vi áp
dụng từ hàng hoá sang thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Hiện WTO chi phối
các chính sách thương mại của các khu vực và quốc gia chiếm tới 85% thương
mại hàng hoá và 90% thương mại dịch vụ thế giới, điều tiết cả 4 lĩnh vực:
Thương mại hàng hoá, 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụ đầu tư liên quan
đến thương mại và sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, WTO
vẫn chưa đạt được sự thống nhất hoàn toàn bởi các phiên đàm phán sau vòng
Urugoay đều thất bại do những mâu thuẫn giữa các nước phát triển và đang phát
triển còn hết sức gay gắt, trong đó nổi bật nhất là các nước phát triển chưa chịu
mở cửa thị trường các sản phẩm nông nghiệp cho các nước đang phát triển trong
khi họ lại đòi các nước đang phát triển phải nhanh chóng mở cửa thị trường các
lĩnh vực cũng như thực thi nghĩa vụ bảo vệ quyền về sở hữu trí tuệ.
Đối với Việt Nam, việc đàm phán gia nhập WTO cũng thể hiện quyết tâm
của mình trong hội nhập đầy đủ vào tổ chức này trên các lĩnh vực từ thương mại
hàng hoá, dịch vụ, đầu tư đến sở hữu trí tuệ. Dù với tư cách là một nước đang
phát triển đi sau nhưng những sức ép về mở cửa thị trường trong các lĩnh vực hết
sức gay gắt. Biểu hiện cụ thể và rõ nét trong quy định các lĩnh vực hội nhập của
Việt Nam là Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ. Với 7 chương trong
bản Hiệp định, Việt Nam đang thực hiện hội nhập hầu như toàn bộ các lĩnh vực

với Nhật mà lý do chủ yếu là các doanh nghiệp Việt Nam trú trọng đến thị
trường Mỹ do tác động của BTA Việt Mỹ và thị trường Trung Quốc nổi trội.
Bên cạnh đó quan hệ thương mại Việt Nam với các quốc gia và tổ chức
khác cũng được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu, nâng cao vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế.
- Những cơ hội và thách thức trong trao đổi thương mại
Trong trao đổi thương mại Việt Nam đang đứng trước những cơ hội rất
lớn:Một là chúng ta có thị trường trao đổi thương mại rất rộng mở. Hai là


22
chúng ta là nước phát triển sau nên chúng ta có nhiều điều kiện tiếp thu những
kinh nghiệm của những nước đi trước.Ba là, chúng ta có một thị trường trong
nước năng động, sáng tạo. Chính những cơ hội này sẽ là những thuận lợi lớn
nếu chúng ta biết tận dụng và phát huy tốt sẽ tạo nên những tiền đề rộng mở.
Bên cạnh đó chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức không
phải là nhỏ đó là: Những âm mưu các nước trên thế giới và khu vực, đứng đầu
là đế quốc Mỹ và thế lực thù địch gây sức ép trong chuyển hoá Việt Nam trên
lĩnh vực thương mại, sức ép trong cải cách mở cửa thị trường, Mỹ và các
nước tăng cường chuẩn bị lộ trình cho các doanh nghiệp của họ xâm nhập
nhiều vào lĩnh vực và khu vực kinh tế trọng điểm, nhạy cảm của Việt Nam.
* Về dịch vụ:
- Nội dung về hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ: Về cơ bản như BTA, trước
hết Công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức
chi nhánh , trừ khi điều đó được Việt Nam cho phép từng ngành cụ thể ngoài
ra công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt
Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.
Việt Nam cũng cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần
trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng với tỷ lệ phải phù hợp với mức mở
cửa thị trường ngành đó, riêng ngân hàng Việt Nam chỉ cho phép ngân hàng

thâm nhập thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
* Về đầu tư
- Nội dung về hợp tác đầu tư:
Các lĩnh vực dự án đầu tư phải thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác
kinh doanh hoặc liên doanh với yêu cầu tỷ lệ góp vốn trong nước gồm: phát
thanh, truyền hình, sản xuất, xuất bản và phát hành các sản phẩm văn hoá, đầu tư
trong lĩnh vực ngân hàng, môi giới, kinh doanh, tiền tệ và các dịch vụ có liên
quan, khai thác và chế biến khoáng sản, xây dựng, lắp đặt, vận hành và bảo trì
mạng viễn thông, xây dựng và vận hành cảng sông, cảng biển, phòng không…
Các lĩnh vực mà Việt Nam có thể yêu cầu dự án đầu tư phải gắn với phát
triển nguồn nguyên liệu trong nước gồm: Chế biến giấy, dầu thực vật, sữa
đường, mía, chế biến gỗ.


24
Các lĩnh vực mà Việt nam có thể yêu cầu dự án đầu tư phải xuất khẩu từ
80% sản phẩm trở lên gồm: sản xuất xi măng, các loại sơn và sơn xây dựng,
các loại gạch ốp lát, sứ vệ sinh, nhựa PVC và các loại nhựa khác…
Các lĩnh vực duy trì chế độ cấp giấy phép gồm: (a) phát thanh, truyền
hình, sản xuất, xuất bản và phát hành các sản phẩm văn hoá, du lịch, vận tải
hàng hoá và hành khách đường bộ, đường hàng không…(b) các dự án thuộc
ngành điện lực, khai thác và chế biến khoáng sản, luyện kim, xi măng, hoá
chất…(c) các dự án sử dụng đất trồng lúa, đất đô thị từ 5ha trở lên. Đồng thời
quy định lộ trình thực hiện chế độ đăng ký giấy phép đầu tư thay thế cho chế
độ cấp phép đầu tư; các yêu cầu về vốn đầu tư cho các nhà đầu tư Mỹ.
- Quá trình hợp tác đầu tư:
Về đầu tư nước ngoài cho đến năm 2003 Việt Nam thu hút được 5.441
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn đăng ký lên gần 46 tỷ USA và
hơn 22 tỷ USA vốn pháp định.
Về hình thức đầu tư, có 45% vốn đăng ký được thực hiện theo hình thức

thức không nhỏ là: Thách thức trong đảm bảo giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa, sử dụng đầu tư để xoá bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, thực
hiện tư nhân hoá nền kinh tế; thách thức trong đảm bảo an ninh chính trị, từng
bước chiếm lĩnh các lĩnh vực, địa bàn kinh tế nhạy cảm của Việt Nam, tạo khả
năng gây khủng hoảng ở mức độ đàm phán khác nhau để thực hiện ý đồ của
họ…

Kết luận chương 1
Hội nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là xu thế khách quan,
ngày càng có nhiều nước tham gia mà Việt Nam không là ngoại lệ. Trong quá
trình hội nhập chúng ta cũng có những cơ hội rất lớn, đó là những điều kiện
thuận lợi để Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào Tổ chức Thương
mại, với khu vực và nền kinh tế thế giới nói chung nhưng bên cạnh đó chúng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status