---XW---
Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt
giảm của Việt Nam trong quá trình gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tới năm
2010
thương mại nhưng trên thực tế không một nước nào, dù là nước có nền kinh tế mạnh, lại
không có nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nước. Và một trong những công cụ bảo hộ hữu
hiệu nhất đó là sử dụng các biện pháp phi thuế quan.
Việc xây dựng chiến lược về các biện pháp phi thuế quan đóng một vai trò rất
quan trọng đối với Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Với trình độ phát
triển kinh tế còn thấp, thực lực còn rất yếu, chúng ta cần phải đưa ra những biện pháp phi
thuế quan cần thiết để bảo hộ một số ngành sản suất non yếu trong nước, đồng thời những
biện pháp đó lại phải phù hợp với các quy định của WTO. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần
phải cắt giảm một số hàng rào phi thuế trái với quy định c
ủa WTO để đẩy nhanh quá
trình gia nhập WTO của Việt Nam. Vậy, vấn đề này sẽ được giải quyết như thế nào? Lộ
trình cắt giảm và cắt giảm những biện pháp cụ thể nào để vừa đáp ứng yêu cầu của WTO,
vừa bảo vệ quyền lời của Việt Nam với ý nghĩa là một nước đang phát triển, đang trong
quá trình chuyển đổi? Điều này đòi hỏi phải có sự phân tích cụ thể. 2
Đó là lý do em chọn vấn đề “Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt giảm
của Việt Nam trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) tới năm 2010” làm đề bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu những biện pháp phi thuế quan của WTO và phân tích những tác động của
chúng đối với Thương mại quốc tế nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, trong
đó có Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp phi thuế quan ở Việt Nam trong thời gian
qua và đưa ra dự kiến lộ trình cắt giảm một số hàng rào phi thuế quan đồng thời định
hướng các biện pháp phi thuế quan sẽ sử dụng ở Việt Nam đến năm 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của WTO và của Việt Nam về các
Hà nội, ngày 10 - 5 - 2003.
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hằng Phương
.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải
quyết các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung
chính của WTO là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại
cùng nhau tham gia đàm phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở
pháp lý làm nền tảng cho thương mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản
5
mang tính ràng buộc các chính phủ phải duy trì một chế độ thương mại
trong một khuôn khổ đã được các bên thống nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt
được là do các chính phủ đàm phán và ký kết nhưng mục đích lại nhằm giúp
các nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ trong nước; các nhà hoạt
động xuất nhập khẩu có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh dễ dàng
hơn.
1.2 Mục tiêu của WTO:
Mục tiêu chính của hệ
thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương
mại được lưu chuyển tự do ở mức tối đa, chừng nào nó còn nằm trong giới
hạn không gây ra các ảnh hưởng xấu không muốn có.
Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau:
Nâng cao mức sống của con người.
Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập
và nhu cầu thực tế c
ủa người lao động.
Sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới, đặc biệt là nguồn nhân lực.
Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn thế
giới.
1.3 Chức năng của WTO:
WTO có những chức năng sau đây:
Chức năng thứ tư của WTO: Phát triển nền kinh tế thị trường. Để nền
kinh tế thị trường hoạt động và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc
giảm nhẹ quy chế. Phần lớn các nướ
c trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế
kế hoạch hoá tập trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị
trường đã và đang làm thủ tục để xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm
phán cần thiết để gia nhập WTO, các nước này có thể tìm hiểu được về hệ
7
thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp lại những chế độ và qui tắc để
có thể quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
1.4 Các nguyên tắc của WTO:
Các hiệp định của WTO là những văn bản pháp lý bao trùm nhiều lĩnh
vực hoạt động rộng lớn như nông nghiệp, hàng dệt may, mua sắm chính
phủ, các quy định về vệ sinh dịch tễ
, sở hữu trí tuệ v.v... Tuy nhiên có một
số các nguyên tắc hết sức cơ bản xuyên suốt tất cả các hiệp định, các nguyên
tắc đó chính là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Bao gồm những
nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này
được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ
quốc và
đối xử quốc gia.
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Đối xử mọi người bình đẳng
như nhau. Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với
nhau như các bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước cho một
nước khác được hưởng lợi nhiều hơn thì đối xử tốt nhất đó phải được
giành cho tất cả các nước thành viên WTO khác. Nguyên tắc MFN đảm
bảo rằng mỗi thành viên WTO đối xử với tất cả các thành viên khác
tương tự nhau.
p có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội
trong tương lai.
Nguyên tắc thứ năm: Các thỏa thuận thương mại khu vực. WTO thừa nhận
các thỏa thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hóa
thương mại. Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ tối
huệ quốc theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm b
ảo đảm các thoả thuận
này tạo thuận lợi cho thương mại các nước liên quan, song không làm tăng
hàng rào cản trở thương mại với các nước ngoài liên kết.
9
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đàng phát
triển. WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là
các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một
trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành
những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước này, vớ
i mục tiêu
đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa biên.
Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển
và các nền kinh tế đàng chuyển đổi những linh hoạt và các ưu đãi nhất định
trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợ giúp kỹ thuật
cho các nước này.
WTO là tổ chức kinh tế thương m
ại đưa ra các yêu cầu rất cao về minh
bạch hóa các quy định thương mại, về cắt giảm thuế quan nhập khẩu, tiến
tới xóa bỏ thuế quan, tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở
hữu trí tuệ, về thực hiện quy chế tối huệ quốc-hay thương mại bình thường,
về xóa bỏ biện pháp phi thuế quan như hạn chế định lượng, giấ
y phép xuất-
nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu; về thực hiện các biện pháp đầu tư liên quan
ất
hay không có mục đích bảo hộ...
Sau 7 vòng đàm phán thương mại nhiều bên trước vòng đàm phán
Tokyo của GATT, từ vòng thứ nhất đến vòng thứ bảy, mức thuế bình quân
của 9 sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên thế giới giảm từ 40% còn 4,7%.
Hàng rào thuế quan giảm đi thì hàng rào phi thuế quan tăng lên. Hơn nữa vì
bản thân các biện pháp phi thuế quan có tính chất kín đáo và không rõ ràng,
nên so với hàng rào thuế quan, các biện pháp phi thuế quan có tác dụng h
ạn
chế nhập khẩu nhiều hơn. Có thể nói, các biện pháp phi thuế quan đã dần
dần thay thế hàng rào thuế quan, trở thành biện pháp chủ yếu được các nước
dùng để hạn chế nhập khẩu. Về các biện pháp thuế quan, người ta chuyển từ
chỗ chú trọng thuế suất cao tới chỗ chú trọng điều chỉnh kết cấu thuế. Vì
vậy, ở vòng đàm phán Tokyo của GATT các n
ước thành viên quyết định đặt
các biện pháp phi thuế quan dưới sự ràng buộc của các quy tắc của tổ chức
11
này nhằm mục đích giảm bớt và tiến tới loại bỏ hoàn toàn các biện pháp phi
thuế quan. Tháng 4-1979, GATT đã đạt được 5 thoả thuận về trợ cấp, thuế,
hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, trị giá tính thuế hải quan, mua sắm
chính phủ và thủ tục cấp phép nhập khẩu, hơn nữa còn lập ra một hội đồng
giám sát và đôn đốc việc thực hiện các thoả thu
ận trên. Để chuẩn mực hóa
hành vi hành chính của các nước thành viên, Ban thư ký GATT đã liệt kê
danh sách các biện pháp phi thuế quan có ảnh hưởng tới sản xuất các sản
phẩm công nghiệp, đồng thời quy định sẽ bổ sung và sửa đổi theo định kỳ
tuỳ theo tình hình thay đổi. Danh sách này bao gồm hàng trăm biện pháp phi
thuế quan, nhưng có thể chia thành 5 nhóm:
- Những việc chính phủ thường tham gia để hạn chế thương mại.
hình cũng tăng lên không ngừng. Với sự phong phú về hình thức nên việc
kết hợp nhiều NTM khác nhau có thể đáp ứng cùng một mục tiêu, áp dụng
cho cùng một mặt hàng mà không bị gò bó chật hẹp trong khuôn khổ một
công cụ duy nhất như thuế quan.
- Đặc điểm về mục tiêu của các NTM mà các nước đang hướng tới:
Một NTM có thể đồ
ng thời đáp ứng nhiều mục tiêu với hiệu quả cao.
Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế,
thương mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong
nước, khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo vệ an toàn sức
khỏe con người, động thực vật, môi trường; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm
bảo cân bằng cán cân thanh toán; (v) bảo đả
m an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội, v.v... Các NTM có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục
tiêu khác nhau mà khi sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không
hữu hiệu bằng.
Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm
bảo an toàn sức khỏe con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sả
n
xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp.
- Đặc điểm về những tác động ngầm do các NTM gây ra:
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó, các NTM cũng có không ít
nhược điểm. Nếu như thuế quan là biện pháp kinh tế, có đặc điểm là tính
13
chuẩn mực cao, độ trong sáng lớn, dễ định lượng, được WTO thừa nhận là
biện pháp bảo vệ hợp pháp duy nhất. Thì biện pháp thuế quan là những biện
pháp hành chính pháp lý, có đặc điểm hay thay đổi, độ kín đáo và mơ hồ đều
lớn. Do thường mang tính mập mờ, mức độ ảnh hưởng không rõ ràng như
những thay đổi định lượng của thuế quan, nên tác động của chúng có thể lớn
14
trí tuệ, tiêu chuẩn lao động v.v.., được quy định cụ thể trong các hiệp định
chi tiết của WTO.
2.2. Các biện pháp phi thuế quan chủ yếu của WTO:
2.2.1: Các biện pháp hạn chế định lượng:
Ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí khác, các thành viên
không được tạo ra hay duy trì những biện pháp như hạn ngạch, giấy phép
hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ các thành viên
khác, hay hạn chế số
lượng xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu tới các thành
viên khác.
2.2.1.1 Cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Prohibitions):
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn
chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế và nói chung không được phép sử
dụng trong WTO.
Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu,
nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử
trong một số trường hợp sau:
Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia (GATT 1994, điều XXI)
Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội
Cần thiết để bảo vệ con người, động vật và thực vật
Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc
Cần thiết để bảo vệ các tài sản qu
ốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo
cổ
Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, với điều kiện
là các biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất
hay tiêu dùng nội địa liên quan tới chúng. (GATT 1994, điều XX)
Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm
l
quan cần phải được thuế hóa (Phụ lục V, Hi
ệp định Nông Nghiệp). Thông
thường với mức thuế hóa tại vòng Urugoay thì mức nhập khẩu nông sản
hầu như không đáng kể.
Để đảm bảo một mức độ mở cửa thị trường nhất định, WTO cho phép
áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan. Hạn ngạch thuế quan cho phép sử
16
dụng hai mức thuế suất, một mức thấp cho khối lượng trong hạn ngạch, mức
thứ hai có thể cao hơn cho nhập khẩu ngoài hạn ngạch. Hạn ngạch có thể
được tính bằng mức chênh lệch giữa tiêu dùng và sản xuất trong nước. Việc
quản lý hạn ngạch thuế quan tuy khó khăn nhưng sẽ đáp ứng được người
tiêu dùng muốn sử dụng hàng nhập khẩu giá rẻ, đồ
ng thời bảo vệ được
người sản xuất trong nước. Tại vòng Urugoay, biện pháp hạn ngạch thuế
quan được thông qua để đảm bảo tiếp cận thị trường hiện tại (hay tối thiểu)
khi các biện pháp phi thuế quan đã được thuế hóa (điều IV, Hiệp định Nông
nghiệp). Cũng tại vòng này, hạn ngạch được tính để đảm bảo các yêu cầu về
tiếp cận thị
trường hiện tại và tối thiểu.
2.2.1.4 Giấy phép nhập khẩu (import licences):
Định nghĩa: Cấp phép nhập khẩu được xác định như là các thủ tục
hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi
đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan)
tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép
nh
ập khẩu.
Yêu cầu chung: thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép
không được bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục
2.2.1.5 Các biện pháp khác:
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện và thoả thuận v
ề thị trường:
Trước 1995 do GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, nên một số
nước đã sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu “tình nguyện”. Hạn chế xuất
khẩu tình nguyện là một thỏa thuận song phương giữa hai chính phủ. Nước
xuất khẩu giới hạn xuất khẩu một số sản phẩm nhất định tới nướ
c nhập khẩu.
Nói chung, ngành công nghiệp đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập
khẩu tương tự gây áp lực với chính phủ đàm phán về hạn chế xuất khẩu với
nước xuất khẩu để giảm bớt áp lực canh trạnh. Các nhà xuất khẩu bị “bắt
buộc” chấp nhận số lượng đó và bị đe doạ nhận được các hành động khắc
nghiệ
t hơn nếu không chấp nhận thỏa thuận tự nguyện hạn chế số lượng xuất
18
khẩu. Chính phủ xuất khẩu hoặc chính các nhà sản xuất quản lý thỏa thuận
này. Hạn chế xuất khẩu tình nguyện từng là một công cụ quan trọng hạn chế
thương mại và đã được sử dụng khá rộng rãi.
Trong khi hạn ngạch được áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tình
nguyện chỉ áp dụng với một số nước xuất khẩu chủ yếu, so đ
ó tạo ra sự phân
biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc
(MFN).
Mỗi thành viên không được tìm kiếm, thực hiện hay duy trì bất cứ
thỏa thuận hạn chế xuất khẩu, thỏa thuận về thị trường nào hay bất cứ biện
pháp tương tự khác lên phía xuất khẩu hay nhập khẩu. Điều này bao gồm
các hành động do một thành viên thực hiện riêng rẽ cũng nh
ư các hành động
tranh cao.
Các thành viên thừa nhận là các biện pháp quản lý giá tối đa dù cho
có phù hợp v
ới nguyên tắc không phân biệt đối xử quốc gia (NT) cũng có
thể có tác động xấu tới lợi ích của các thành viên đang cung cấp hàng nhập
khẩu. Do đó các thành viên đang áp dụng các biện pháp quản lý giá tối đa
cần phải tính đến lợi ích của các thành viên xuất khẩu nhằm tránh mở rộng
các tác động xấu đó. (GATT 1994, Điều 3)
Mặc dù các quy định về giá bán tối đa trong nước này thiếu tính ràng buộc
nhưng vấn đề này thường được các thành viên đặt ra với các nước đang gia
nhập.
2.2.2.3 Phí thay đổi:
Những loại phí thay đổi cản trở đáng kể thương mại do tính không
minh bạch của chúng. Hiệp định Nông nghiệp quy định phải thuế hóa cac
loại phí thay đổi (Điều 4, Hiệp định Nông nghiệp).
2.2.2.4 Phụ thu:
Tất cả các loại phí và phụ thu (không phải là thuế xuất nhập khẩu và
các lo
ại thuế nội địa khác) đánh vào hàng xuất nhập khẩu chỉ được giới hạn
ở mức tương ứng chi phí dịch vụ thực sự bỏ ra và không được sử dụng như
20
sự bảo hộ gián tiếp các sản phẩm trong nước, hay như thuế xuất nhập khẩu,
hay cho mục đích thu ngân sách. (GATT 1994, Điều VIII)
2.2.3. Các biện pháp liên quan tới doanh nghiệp:
2.2.3.1 Doanh nghiệp thương mại nhà nước (DNTMNN):
Các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu được nhà nước
ban cho những đặc quyền nhất định có thể gây ra những trở ngại lớn tới
thương mại quốc tế. Các thành viên phả
t DNTMNN có thể tham gia một hay nhiều các hoạt động sau. Các
hoạt động này có thể liên quan trực tiếp tới xuất nhập khẩu hay chế độ
thương mại, chúng cũng có thể liên quan tới sản xuất trong nước hay thương
mạI theo một cách thức có trợ cấp:
- Kiểm soát hay tiến hành xuất nhập khẩu
- Quản lý các hạn ngạch đa biên hoặc song biên, hạn ngạch thuế quan
hay các thảo luận h
ạn chế khác, hoạch là các quy định về xuất nhập
khẩu
- Cấp giấy phép xuất nhập khẩu
- Xác định giá bán nội địa đối với hàng nhập khẩu
- Thực thi các yêu cầu được giao trong một chương trình tiếp thị hàng
nông nghiệp và/hoặc các chương trình bình ổn
Ngoài ra có thể kể đến các hoạt động sau:
- quản lý sản xuất trong nước
- quản lý việ
c phân phối trong nước của sản phẩm nội địa hay nhập khẩu
- thực hiện việc mua/bán sản phẩm nội địa dựa trên giá trần hoặc giá sàn
đã được xác định trước (can thiệp đến mua/bán)
- cấp bảo lãnh tín dụng cho các nhà sản xuất, chế biến, xuất khẩu và nhập
khẩu
- kiểm soát hoặc tiến hành tiếp thị hay phân phối các sản phẩm đã ch
ế biến
qua các chi nhánh hay liên doanh tại các thị trường nhập khẩu
22
- đàm phán hoặc quản lý các hợp đồng xuất nhập khẩu song phương dài
hạn (kể cả hợp đồng giữa các chính phủ), v.v...
2.2.3.2 Quyền kinh doanh:
không được phép bán ra thị trường. Còn đối với tiêu chuẩn, nếu hàng nhập
khẩu không tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn đặt ra thì vẫn được phép bán
ra thị trường, mực dù có thể bị người tiêu dùng tẩy chay.
Mục đích của các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn là bảo vệ an toàn,
sức khỏe của con người, bả
o vệ sức khỏe, đời sống động thực vật, bảo vệ
môI trường, ngăn chặn các hành vi lừa dối.
- Các thủ tục đánh giá sự phù hợp: chẳng hạn như xét nghiệm, thẩm tra
xác thực, kiểm định, chứng nhận - được sử dụng để đảm bảo rằng các sản
phẩm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật do các quy định kỹ thuậ
t và tiêu
chuẩn đặt ra.
WTO yêu cầu các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn cũng như thủ tục để đánh
giá sự phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn này không được tạo ra các trở
ngạI không cần thiết đối với thương mại quốc tế, phải đảm bảo nguyên tắc
không phân biệt đối xử và đãI ngộ quốc gia, phải minh bạch và tiến tới hài
hòa hóa.
Nhưng các thành viên có thể đư
a ra các biện pháp cần thiết để bảo vệ
môi trường, sức khỏe con người và động thực vật, ngăn ngừa các hành động
xấu... mà nó cho là thích hợp, với điều kiện là các biện pháp đó không được
áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện, hay hạn chế vô lý
đối với thương mại quốc tế. (Hiệp định về Các hàng rào kỹ thuật đối với
th
ương mại).
2.2.4.2 Kiểm dịch động vật và thực vật (SPS):
Định nghĩa: Biện pháp kiểm dịch động vật và thực vật bao gồm tất cả
các luật, nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục liên quan như các tiêu
chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng; các phương pháp sản xuất và chế biến;
các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp nhận; nh
tién hành xem xét đánh giá cá biện pháp tạm thời này trong một thời hạn hợp
lý. (Điều 5.7, Hiệp định SPS)