Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt giảm của Việt Nam trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tới năm 2010 - Pdf 10

Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã và đang
tham gia ngày càng sâu và rộng hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tháng
7-1995, Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN và nhanh chóng tham gia Khu vực
Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA). Tháng 11-1998, Việt Nam trở thành thành viên của
Diễn đàn Hợp tác Châu á - Thái Bình Dơng (APEC). Ngày 13-7-2000, Việt Nam đã ký
Hiệp định Thơng mại song phơng với Hoa Kỳ. và hiện nay đang tích cực chuẩn bị đàm
phán để gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO).
Mặc dù quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thơng mại mang lại nhiều
cơ hội và lợi ích rõ rệt nhng bên cạnh đó cũng có không ít những thách thức đối với mỗi
quốc gia. Các nớc khi tham gia vào quá trình này đều cam kết thực hiện tự do hóa thơng
mại nhng trên thực tế không một nớc nào, dù là nớc có nền kinh tế mạnh, lại không có
nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nớc. Và một trong những công cụ bảo hộ hữu hiệu nhất đó
là sử dụng các biện pháp phi thuế quan.
Việc xây dựng chiến lợc về các biện pháp phi thuế quan đóng một vai trò rất quan
trọng đối với Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Với trình độ phát triển
kinh tế còn thấp, thực lực còn rất yếu, chúng ta cần phải đa ra những biện pháp phi thuế
quan cần thiết để bảo hộ một số ngành sản suất non yếu trong nớc, đồng thời những biện
pháp đó lại phải phù hợp với các quy định của WTO. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải
cắt giảm một số hàng rào phi thuế trái với quy định của WTO để đẩy nhanh quá trình gia
nhập WTO của Việt Nam. Vậy, vấn đề này sẽ đợc giải quyết nh thế nào? Lộ trình cắt
giảm và cắt giảm những biện pháp cụ thể nào để vừa đáp ứng yêu cầu của WTO, vừa bảo
vệ quyền lời của Việt Nam với ý nghĩa là một nớc đang phát triển, đang trong quá trình
chuyển đổi? Điều này đòi hỏi phải có sự phân tích cụ thể.
Đó là lý do em chọn vấn đề Các biện pháp phi thuế quan và lộ trình cắt giảm
của Việt Nam trong quá trình gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO)
tới năm 2010 làm đề bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
1
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu những biện pháp phi thuế quan của WTO và phân tích những tác động của

còn hạn chế và do tính phức tạp của đề tài nên khóa luận của em không tránh khỏi những
2
thiếu sót. Em rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy cô để khóa luận của em đ-
ợc hoàn thiện hơn.
Hà nội, ngày 10 - 5 - 2003.
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hằng Phơng
3
Chơng I
Các biện pháp phi thuế quan chủ yếu của WTO và ảnh
hởng của nó đối với Việt Nam
i. wto và các biện pháp phi thuế quan:
1. Vài nét về WTO:
1.1: Sự thành lập:
Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) đợc thành lập trên cơ sở kế thừa và
phát triển Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT), chính thức bắt
đầu hoạt động từ 1-1-1995. Sự ra đời của WTO nhằm tạo điều kiện hơn nữa
cho sự phát triển của hệ thống thơng mại đa biên đảm bảo sự cạnh tranh công
bằng, lành mạnh, xóa bỏ dần các rào cản trong thơng mại quốc tế, thúc đẩy
quá trình tự do hóa thơng mại trên phạm vi toàn cầu.
Trong số hàng chục tổ chức kinh tế quốc tế hiện nay, WTO là tổ chức thơng
mại toàn cầu lớn nhất và quan trọng nhất, thu hút tới 145 nớc (trong số khoảng
200 nớc là thành viên Liên Hợp Quốc) và chi phối tới 95% tổng kim ngạch th-
ơng mại toàn Thế giới. (nguồn: Tạp chí Kinh tế 2002-2003 Việt Nam và Thế giới, số ra tháng
3/2003 - Thời báo Kinh tế Việt Nam).
Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải
quyết các qui định về thơng mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung chính
của WTO là các hiệp định đợc hầu hết các nớc có nền thơng mại cùng nhau
tham gia đàm phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở pháp lý làm
nền tảng cho thơng mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản mang tính ràng buộc

"hiệp định WTO" và những hiệp định phụ khác của WTO thì nớc đó cần phải
điều chỉnh hay chuyển các quy định pháp luật và các thủ tục hành chính của
mình theo các quy định của WTO.
Chức năng thứ ba của WTO: Giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp
mậu dịch quốc tế. WTO có chức năng nh là một toà án giải quyết các tranh
chấp nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan. Bất cứ một
thành viên nào của WTO khi thấy lợi ích của nớc mình đang bị xâm hại trong
hoạt động kinh tế ở một thị trờng nào đó vì có thành viên khác đang thực hiện
chính sách trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải
quyết mâu thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nớc đó ngừng các hoạt động
kinh tế xâm hại đến lợi ích của mình. Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp
nhận khi bị các thành viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những
nghĩa vụ của mọi thành viên, không nớc nào có thể tránh khỏi.
Chức năng thứ t của WTO: Phát triển nền kinh tế thị trờng. Để nền kinh
tế thị trờng hoạt động và nâng cao đợc hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ
quy chế. Phần lớn các nớc trớc kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá
tập trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trờng đã và đang làm
thủ tục để xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập
WTO, các nớc này có thể tìm hiểu đợc về hệ thống kinh tế thị trờng và đồng
thời xắp xếp lại những chế độ và qui tắc để có thể quản lý nền kinh tế theo cơ
chế thị trờng.
1.4 Các nguyên tắc của WTO:
Các hiệp định của WTO là những văn bản pháp lý bao trùm nhiều lĩnh
vực hoạt động rộng lớn nh nông nghiệp, hàng dệt may, mua sắm chính phủ,
các quy định về vệ sinh dịch tễ, sở hữu trí tuệ v.v... Tuy nhiên có một số các
nguyên tắc hết sức cơ bản xuyên suốt tất cả các hiệp định, các nguyên tắc đó
6
chính là nền tảng của hệ thống thơng mại đa biên. Bao gồm những nguyên tắc
sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Thơng mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này đợc

Nguyên tắc thứ t: Tính tiên liệu đợc thông qua ràng buộc thuế. Các cam kết
không tăng thuế cũng quan trọng nh việc cắt giảm thuế vì cam kết nh vậy tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong tơng
lai.
Nguyên tắc thứ năm: Các thỏa thuận thơng mại khu vực. WTO thừa nhận các
thỏa thuận thơng mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hóa thơng mại.
Các liên kết nh vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc theo
những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận
lợi cho thơng mại các nớc liên quan, song không làm tăng hàng rào cản trở th-
ơng mại với các nớc ngoài liên kết.
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nớc đàng phát triển.
WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nớc thành viên là các nớc
đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những
nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện
đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nớc này, với mục tiêu đảm bảo sự tham
gia sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thơng mại đa biên. Để thực hiện đợc
nguyên tắc này, WTO dành cho các nớc đang phát triển và các nền kinh tế
đàng chuyển đổi những linh hoạt và các u đãi nhất định trong việc thực thi các
hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợ giúp kỹ thuật cho các nớc này.
8
WTO là tổ chức kinh tế thơng mại đa ra các yêu cầu rất cao về minh
bạch hóa các quy định thơng mại, về cắt giảm thuế quan nhập khẩu, tiến tới
xóa bỏ thuế quan, tự do hóa thơng mại hàng hóa, dịch vụ, đầu t, sở hữu trí tuệ,
về thực hiện quy chế tối huệ quốc-hay thơng mại bình thờng, về xóa bỏ biện
pháp phi thuế quan nh hạn chế định lợng, giấy phép xuất-nhập khẩu, trợ cấp
xuất khẩu; về thực hiện các biện pháp đầu t liên quan đến thơng mại nhng
không vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia nhằm thu hút đầu t nớc ngoài,
tăng cờng xuất khẩu hàng hóa và nâng cao khả năng phát triển kinh tế.
Tóm lại, khi hội nhập WTO các thành viên phải tuân thủ một hệ thống
các luật lệ, quy tắc nhằm điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thơng mại quốc tế

Tokyo của GATT các nớc thành viên quyết định đặt các biện pháp phi thuế
quan dới sự ràng buộc của các quy tắc của tổ chức này nhằm mục đích giảm
bớt và tiến tới loại bỏ hoàn toàn các biện pháp phi thuế quan. Tháng 4-1979,
GATT đã đạt đợc 5 thoả thuận về trợ cấp, thuế, hàng rào kỹ thuật đối với th-
ơng mại, trị giá tính thuế hải quan, mua sắm chính phủ và thủ tục cấp phép
nhập khẩu, hơn nữa còn lập ra một hội đồng giám sát và đôn đốc việc thực
hiện các thoả thuận trên. Để chuẩn mực hóa hành vi hành chính của các nớc
thành viên, Ban th ký GATT đã liệt kê danh sách các biện pháp phi thuế quan
có ảnh hởng tới sản xuất các sản phẩm công nghiệp, đồng thời quy định sẽ bổ
sung và sửa đổi theo định kỳ tuỳ theo tình hình thay đổi. Danh sách này bao
gồm hàng trăm biện pháp phi thuế quan, nhng có thể chia thành 5 nhóm:
- Những việc chính phủ thờng tham gia để hạn chế thơng mại.
10
- Các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải
quan thực hiện
- Hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thơng mại
- Hạn chế đặc thù, nh hạn chế cấp phép nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu,
quy chế về giá trong nớc
- Lệ phí thuế nhập khẩu, nh tiền ký quỹ, thuế điều tiết nhập khẩu, hạn
chế cho vay có tính chất phân biệt đối xử.
Để quản lý, giám sát việc tuân thủ quy tắc về trợ cấp và về thuế, hàng
năm GATT công bố báo cáo thờng niên, trong đó có danh sách các biện pháp
phi thuế quan. Song, thoả thuận về các biện pháp phi thuế quan nói trên đạt đ-
ợc tại vòng đàm phán Tokyo của GATT không đợc các nớc ký kết thoả thuận
tuân thủ, vì thỏa thuận này vốn đợc tuyên bố là các bên ký kết có thể thực
hiện trên cơ sở lựa chọn. Do vậy, vòng đàm phán Urugoay của GATT lại một
lần nữa đàm phán về hàng rào phi thuế quan, các quy định về điều này đều có
ghi tỷ mỷ trong văn kiện cuối cùng của vòng đàm phán này. Hiện nay WTO
đang bắt tay xử lý các biện pháp phi thuế quan có ảnh hởng tới sản xuất nông
phẩm, bằng cách chủ yếu thông qua phơng thức thu thuế đối với hàng nhập

mang tính mập mờ, mức độ ảnh hởng không rõ ràng nh những thay đổi định l-
ợng của thuế quan, nên tác động của chúng có thể lớn nhng lại là tác động
ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác. Hiện nay
các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh sử dụng một số NTM nhất định.
Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định lợng
1
đều không đợc phép áp dụng, trừ
trờng hợp ngoại lệ.
Biện pháp thuế quan chỉ làm thay đổi cơ chế thị trờng còn biện pháp phi
thuế quan hoàn toàn thay thế cơ chế thị trờng. Ví dụ trong trờng hợp sử dụng
1
Các NTMs hạn chế định lợng nh cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu không tự động v.v... gây
cản trở, bóp méo thơng mại và thờng bị coi là hàng rào phi thuế quan (NTBs).
12
biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, khi hạn ngạch nhập khẩu đã xác định nếu nhu
cầu nhập khẩu tăng thì lợng hàng nhập khẩu theo hạn ngạch không thể thỏa
mãn đợc nhu cầu, từ đó giá cả thị trờng trong nớc của hàng hóa ấy sẽ tăng. Vì
vậy, có thể nói rằng trong trờng hợp là biện pháp thuế quan thì điều xảy ra là
điều chỉnh số lợng nhập khẩu, còn trờng hợp phi thuế quan thì điều xảy ra là
điều chỉnh giá, cơ chế thị trờng hoàn toàn mất tác dụng.
- Đặc điểm về tính hạn chế gián tiếp của các NTM:
Tính chất kín đáo của hàng rào này ngày càng biểu hiện nhiều ở sự hạn
chế gián tiếp. Trớc đây, phần nhiều là các biện pháp hạn chế số lợng có tính
chất hành chính trực tiếp (nh chế độ hạn ngạch nhập khẩu, cấp phép nhập
khẩu, tự nguyện hạn chế xuất khẩu), hiện nay phần nhiều là hạn chế gián tiếp
nh hàng rào kỹ thuật, biện pháp bảo hộ màu xanh, quyền sở hữu trí tuệ, tiêu
chuẩn lao động v.v.., đợc quy định cụ thể trong các hiệp định chi tiết của
WTO.
2.2. Các biện pháp phi thuế quan chủ yếu của WTO:
2.2.1: Các biện pháp hạn chế định lợng:

hay tiếp thị các sản phẩm trong thơng mại quốc tế
Các nông sản và thủy sản (GATT 1994, Điều XI, 2(c))
Có thể hạn chế số lợng hay giá trị hàng nhập khẩu để bảo vệ sự cân bằng cán
cân thanh toán. Việc tạo ra, duy trì hay mở rộng hạn chế số lợng vì mục đích
này không đợc vợt quá mức cần thiết:
Để ngăn ngừa sự đe doạ sắp xảy ra hay để ngăn chặn lại sự thiếu hụt
nghiêm trọng dự trữ tiền tệ, hay
14
Trong trờng hợp một thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để đạt đợc một
mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ (GATT 1994, điều XII)
2.2.1.3 Hạn ngạch thuế quan (Tariff Rate Quota):
Đối với các sản phẩm nông nghiệp (quy định tại Phụ lục I, Hiệp định
Nông Nghiệp) có thể áp dụng một hình thức hạn ngạch đặc biệt gọi là hạn
ngạch thuế quan.
Theo Hiệp định Nông nghiệp, các thành viên không đợc áp dụngcác
biện pháp phi thuế quan đối với nông sản. Tất cả các biện pháp phi thuế quan
cần phải đợc thuế hóa (Phụ lục V, Hiệp định Nông Nghiệp). Thông thờng với
mức thuế hóa tại vòng Urugoay thì mức nhập khẩu nông sản hầu nh không
đáng kể.
Để đảm bảo một mức độ mở cửa thị trờng nhất định, WTO cho phép áp
dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan. Hạn ngạch thuế quan cho phép sử dụng
hai mức thuế suất, một mức thấp cho khối lợng trong hạn ngạch, mức thứ hai
có thể cao hơn cho nhập khẩu ngoài hạn ngạch. Hạn ngạch có thể đợc tính
bằng mức chênh lệch giữa tiêu dùng và sản xuất trong nớc. Việc quản lý hạn
ngạch thuế quan tuy khó khăn nhng sẽ đáp ứng đợc ngời tiêu dùng muốn sử
dụng hàng nhập khẩu giá rẻ, đồng thời bảo vệ đợc ngời sản xuất trong nớc. Tại
vòng Urugoay, biện pháp hạn ngạch thuế quan đợc thông qua để đảm bảo tiếp
cận thị trờng hiện tại (hay tối thiểu) khi các biện pháp phi thuế quan đã đợc
thuế hóa (điều IV, Hiệp định Nông nghiệp). Cũng tại vòng này, hạn ngạch đợc
tính để đảm bảo các yêu cầu về tiếp cận thị trờng hiện tại và tối thiểu.

16
2.2.1.5 Các biện pháp khác:
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện và thoả thuận về thị trờng:
Trớc 1995 do GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, nên một số nớc
đã sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu tình nguyện. Hạn chế xuất khẩu
tình nguyện là một thỏa thuận song phơng giữa hai chính phủ. Nớc xuất khẩu
giới hạn xuất khẩu một số sản phẩm nhất định tới nớc nhập khẩu. Nói chung,
ngành công nghiệp đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu tơng tự
gây áp lực với chính phủ đàm phán về hạn chế xuất khẩu với nớc xuất khẩu để
giảm bớt áp lực canh trạnh. Các nhà xuất khẩu bị bắt buộc chấp nhận số l-
ợng đó và bị đe doạ nhận đợc các hành động khắc nghiệt hơn nếu không chấp
nhận thỏa thuận tự nguyện hạn chế số lợng xuất khẩu. Chính phủ xuất khẩu
hoặc chính các nhà sản xuất quản lý thỏa thuận này. Hạn chế xuất khẩu tình
nguyện từng là một công cụ quan trọng hạn chế thơng mại và đã đợc sử dụng
khá rộng rãi.
Trong khi hạn ngạch đợc áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tình
nguyện chỉ áp dụng với một số nớc xuất khẩu chủ yếu, so đó tạo ra sự phân
biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc
(MFN).
Mỗi thành viên không đợc tìm kiếm, thực hiện hay duy trì bất cứ thỏa
thuận hạn chế xuất khẩu, thỏa thuận về thị trờng nào hay bất cứ biện pháp tơng
tự khác lên phía xuất khẩu hay nhập khẩu. Điều này bao gồm các hành động
do một thành viên thực hiện riêng rẽ cũng nh các hành động do hai thành viên
trở lên thực hiện. Nói chung các thành viên phải loại bỏ các biện pháp hạn chế
xuất khẩu tình nguyện và các biện pháp tơng tự trớc năm 2000. (Điều 11,
Hiệp định tự vệ)
2.2.2. Các biện pháp quản lý giá:
17
Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hay giá bán trong nớc có thể có
tác động trực tiếp hay gián tiếp tới xuất khẩu hàng hóa.

Những loại phí thay đổi cản trở đáng kể thơng mại do tính không minh
bạch của chúng. Hiệp định Nông nghiệp quy định phải thuế hóa cac loại phí
thay đổi (Điều 4, Hiệp định Nông nghiệp).
2.2.2.4 Phụ thu:
Tất cả các loại phí và phụ thu (không phải là thuế xuất nhập khẩu và các
loại thuế nội địa khác) đánh vào hàng xuất nhập khẩu chỉ đợc giới hạn ở mức
tơng ứng chi phí dịch vụ thực sự bỏ ra và không đợc sử dụng nh sự bảo hộ gián
tiếp các sản phẩm trong nớc, hay nh thuế xuất nhập khẩu, hay cho mục đích
thu ngân sách. (GATT 1994, Điều VIII)
2.2.3. Các biện pháp liên quan tới doanh nghiệp:
2.2.3.1 Doanh nghiệp thơng mại nhà nớc (DNTMNN):
Các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu đợc nhà nớc ban
cho những đặc quyền nhất định có thể gây ra những trở ngại lớn tới thơng mại
quốc tế. Các thành viên phải cam kết các hoạt động xuất nhập khẩu của các
DNTMNN phù hợp với các nguyên tác chung về đối xử không phân biệt với
các doanh nghiệp t nhân và phải tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa
chỉ dựa trên tiêu chí thơng mại, chẳng hạn nh giá cả, chất lợng, tiếp thị, vận
tải. Đồng thời phải dành cho các doanh nghiệp của cá thành viên khác những
cơ hội thích hợp tham gia cạnh tranh trong việc mua bán hàng hóa phù hợp với
thông lệ kinh doanh chung. Các thành viên có nghĩa vụ thông báo cho WTO
về các DNTMNN của họ. (GATT 1994, Điều XVII)
Định nghĩa triển khai:
19
Trên thực tế định nghĩa về DNTMNN tại điều XVII GATT 1994 rất mơ hồ gây
khó khăn trong việc thực hiện. Vòng Urugoay đã đa ra định nghĩa triển khai
của DNTMNN tại Bản giải nghĩa Điều XVII GATT 1994 nh sau:
Các doanh nghiệp chính phủ hoặc phi chính phủ, kể cả các ban quản lý
thị trờng (marketing board), đợc ban đặc quyền dù cho theo pháp luật hay trên
thực tế, khi thực hiện các đặc quyền đó có tác động tới mức độ hay phơng h-
ớng xuất nhập khẩu thông qua việc mua bán của mình.

2.2.3.2 Quyền kinh doanh:
WTO không có định nghĩa cụ thể về quyền kinh doanh.
Quyền kinh doanh hay còn gọi là quyền thơng mại trong lĩnh vực hàng
hóa là quyền dành cho một số công ty nhất định đợc tiến hành hoạt động xuất
nhập khẩu. Những nớc có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoặc những nớc
đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng thờng sử dụng quyền kinh doanh
nh một công cụ thơng mại để hạn chế xuất, nhập khẩu. Quyền kinh doanh có
thể chỉ giới hạn ở việc xuất khẩu một mặt hàng nhất định hoặc kinh doanh một
loại mặt hàng nào đó. Các công ty không nhất thiết phải là công ty nhà nớc
mới đợc hởng quyền kinh doanh.
2.2.4. Hàng rào kỹ thuật đối với thơng mại:
2.2.4.1 Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục xác định sự phù
hợp:
- Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đều đặt ra các yêu cầu cụ thể về
physical đối với sản phẩm. Theo phụ lục 1 của Hiệp định về các hàng rào kỹ
thuật đối với thơng mại, các yêu cầu này có thể liên quan tới kích thớc, hình
dáng, thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm. Các yêu cầu này cũng
21
có thể quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm và mở rộng tới các
quy trình và phơng pháp sản xuất liên quan tới sản phẩm.
Tuy nhiên, đIểm khác biệt cơ bản giữa tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật
là ở chỗ sự tuân thủ các tiêu chuẩn là mang tính tự nguyện trong khi sự tuân
thủ với các quy định kỹ thuật là bắt buộc. Trên thực tế, nếu một sản phẩm
nhập khẩu không đáp ứng các yêu cầu của quy định kỹ thuật thì nó sẽ không
đợc phép bán ra thị trờng. Còn đối với tiêu chuẩn, nếu hàng nhập khẩu không
tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn đặt ra thì vẫn đợc phép bán ra thị trờng,
mực dù có thể bị ngời tiêu dùng tẩy chay.
Mục đích của các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn là bảo vệ an toàn, sức
khỏe của con ngời, bảo vệ sức khỏe, đời sống động thực vật, bảo vệ môI trờng,

của họ đối với sức khỏe con ngời, động vật và thực vật, miễn là các biện pháp
họ đa ra tuân theo các quy định của Hiệp định SPS.
Các thành viên phải đảm bảo là việc áp dụng của bất kỳ biện pháp nào
cũng chỉ ở trong phạm vi cần thiết để bảo vệ sức khỏe con ngời, động vật và
thực vật, cũng nh phải dựa trên cơ sở khoa học và không đợc phép duy trì khi
không có chứng cớ khoa học đầy đủ. (Điều 2, Hiệp định SPS)
Trong trờng hợp chứng cớ khoa học liên quan không đầy đủ, một thành
viên có thể áp dụng một cách tạm thời các biện pháp kiểm dịch động vật và
thực vật trên cơ sở thông tin xác đáng sẵn có, kể cả các thông tin từ các tổ
chức quốc tế có liên quan cũng nh các biện pháp kiểm dịch của các thành viên
khác. Trong trờng hợp nh vậy, các thành viên sẽ tìm kiếm các thông tin bổ
sung cần thiết cho sự đánh giá rủi ro khách quan hơn. Đồng thời tién hành
xem xét đánh giá cá biện pháp tạm thời này trong một thời hạn hợp lý. (Điều
5.7, Hiệp định SPS)
23
Các thành viên đảm bảo rằng các biện pháp SPS đợc dựa trên đánh giá
rủi ro đối với sức khỏe con ngời, động vật và thực vật, tùy theo hoàn cảnh, có
cân nhắc tới những kỹ thuật đánh giá rủi ro của các tổ chức quốc tế liên quan.
(Điều 5.1, Hiệp định SPS)
2.2.5 Các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời:
2.2.5.1 Chống bán phá giá (Anti-dumping):
Việc bán phá giá một sản phẩm, tức là khi nó đợc đa vào hoạt động th-
ơng mại của một nớc khác với mức giá trị thấp hơn thông thờng, xảy ra nếu
giá xuất khẩu của sản phẩm đợc xuất khẩu từ một nớc đến một nớc thấp hơn
giá so sánh của sản phẩm tơng tự dùng để tiêu thụ tại nớc xuất khẩu trong
những điều kiện thơng mại thông thờng. (Điều 2, Hiệp định về chống bán phá
giá)
Hành động phá giá sẽ bị coi là không hợp pháp nếu nó gây ra hay đe
dọa gây ra thiệt hại vật chất đối với một ngành kinh tế nội địa đã đợc kiến lập
vững chắc, hay ngăn cản một cách đáng kể việc thành lập một ngành kinh tế

lại biện pháp tự vệ cho cùng một sản phẩm. Các nớc đang phát triển có sự u
đãi hơn về thời gian tự vệ và thời gian áp dụng lại biện pháp tự vệ cho dùng
một sản phẩm. (Điều 7, Hiệp định về Tự vệ)
Trong những tình huống cực kỳ khẩn cấp khi mà sự chậm chễ sẽ gây ra
khó khăn đặc biệt để khắc phục, một thành viên có thể thực hiện một biện
pháp tự vệ tạm thời sau khi đã xác định sơ bộ rằng nhập khẩu tăng lên rõ ràng
25

Trích đoạn Những chính sách thơng mại chiến lợc mà một nớc đơn phơng áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình, giành giật lợi nhuận siêu ngạch cho các công ty trong nớc, làm tăng thu nhập nớc mình bằng cách gây tổn Ví dụ nh các biện pháp cấm, trị giá tính thuế tối thiểu, v.v đòi hỏi phải duy trì bộ máy cán bộ quản lý, kiểm soát thực thi cơ chế hạn chế nhập khẩu. Tác động của các biện pháp phi thuế đến các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam: bánh gắn máy. Ôtô từ 16 chỗ ngồi trở xuống Thực tế không cấp phép 11Dầu thực vật tinh chế (dầu cọ, vừng, lạc, đậu tơng) Thực tế không cấp phép
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status