Danh mục các ký hiệu viết tắt
Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ACV
Agreement on Customs
Value
Hiệp định xác định trị giá
Hải quan
ADP
Agreement on Anti-
Dumping Practices
Hiệp định về chống bán phá giá
AFTA
ASEAN Free Trade Area Khu vực Thơng mại tự do ASEAN
AICO
ASEAN Industrial
Cooperation Scheme
Chug trình hợp tác công nghiệp
ASEAN
APEC
Asia Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế
châu -Thái Bình Dơng
ASEAN
Association of South-East
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam
ATC
Agreement on Textiles and
Clothing
Hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối
với thơng mại
TRIMs
Trade Related Investment
Measures
Các biện pháp đầu t liên quan đến th-
ơng mại
SCM
Agreement on Subsidies and
Countervailing Measures
Hiệp định về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng
WTO World Trade Organization Tổ chức Thơng mại Thế giới
Lời mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Khi đánh giá những thành tựu kinh tế đã đạt đợc, chúng ta không thể không nhắc
đến sự đóng góp rất to lớn của hoạt động ngoại thơng nói chung và xuất khẩu nói
riêng. Với u thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi...
nớc ta càng có điều kiện để phát triển nền kinh tế quốc dân, trong đó xuất khẩu
hàng công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng.
Trong những năm qua, hoạt động xuất khẩu của nớc ta đã có những bớc tiến thay
đổi đáng kể cả về lợng và chất và khẳng định đợc vị trí xứng đáng của mình trong
phát triển kinh tế của đất nớc. Kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng cao: năm 1996
mới chỉ đạt 7,3 tỷUSD, chiếm khoảng 30%/GDP, trong đó tỷ trọng hàng công
nghiệp xuất khẩu là 29%; đến năm 2006 đã lên tới gần 40 tỷ USD, chiếm trên
70%/GDP, trong đó tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp chiếm khoảng 43%. Đây
có thể coi là những thành quả đáng khích lệ ban đầu góp phần làm nên thành công
của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ; Sự phát triển
2.1 Tài liệu tiếng Việt
2.1.1 Bộ Thơng mại (2004) Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc gia về Thơng mại Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội. Trong đó, 65 nhà khoa học
đã trình bày quan điểm riêng của mình về một khía cạnh nào đó của xuất nhập
khẩu hàng công nghiệp và đề xuất các hớng giải quyết khác nhau góp phần làm
cho thơng mại Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Chẳng hạn nh: Tác giả Nguyễn Thành Hng trong đề tài Một số tr ờng hợp thực tế
đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào thơng mại quốc tế, đã trình bày
một số vấn đề bức xúc mà các doanh nghiệp Việt Nam thờng gặp phải khi tham gia
vào thị trờng quốc tế nh: vấn đề chống bán phá giá, đăng ký thơng hiệu ở nớc
ngoài, ghi nhãn hàng hóa, đồng thời đa ra những bài học kinh nghiệm cho các
doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thơng trờng...
2.1.2 GS. Viện sỹ Đặng Hữu (2004) Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với
sự phát triển của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, đã phân tích tác động
của kinh tế tri thức đối với sự phát triển của Việt Nam; đề xuất các phơng hớng và
giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian tới và coi đây là cơ
hội lớn để nớc ta rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, là động
lực quan trọng đa nớc ta về cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện
đại vào năm 2020.
2.1.3 TS. Nguyễn Văn Hồng (2005) Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của
các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Trờng Đại học Ngoại th-
ơng (số 13), đã trình bày 8 giải pháp vi mô mà các doanh nghiệp cần thực hiện để
tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu hàng hóa thành công trong
điều kiện Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nh: Đẩy mạnh việc nghiên
cứu thị trờng nớc ngoài, thị trờng trong nớc một cách có hệ thống, nắm vững nguồn
hàng xuất khẩu...
2.1.4 Ngô Chung Khanh (2006), Tiến triển vòng đàm phán DOHA từ Hội nghị Bộ
trởng Hồng Kông, Tạp chí Kinh tế Thế giới, Vụ Chính sách Thơng mại đa biên,
Bộ Thơng mại, (số 2+3), đã đề cập đến những diễn biến mới của Vòng đàm phán
DOHA, vấn đề tiếp cận thị trờng hàng phi nông sản (NAMA), nguyên nhân đổ vỡ
công nghiệp của Việt Nam ra thị trờng quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ dừng lại ở góc độ đánh giá, phân
tích những vấn đề có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và đề xuất những
giải pháp khác nhau nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam ra
thị trờng toàn cầu trớc khi gia nhập WTO, chứ cha đi sâu phân tích và đánh giá
tổng thể về việc Việt Nam đã và sẽ làm gì và phải làm nh thế nào để hàng công
nghiệp của mình có thể thâm nhập vào thị trờng khu vực và thế giới một cách có
hiệu quả sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Và cho đến giờ cũng
cha có một cuốn sách nào viết về đề tài Thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp
của Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO)
một cách tổng thể và sâu sắc.
3 - Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu:
Tìm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sau khi Việt Nam
gia nhập WTO
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn quyết định việc Việt Nam
phải đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp
- Phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam trong
thời gian qua, tìm ra những điểm mạnh nào cần phát huy, những điểm nào còn bất
cập, cha phù hợp về chính sách thuế, phi thuế và một số chính sách khác đối với
hoạt động xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam so với các qui định của WTO về
thơng mại hàng hóa , gây cản trở đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này trong bối cảnh mới.
- Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này sau khi
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO
4- Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu
- Nghiên cứu và đánh giá tình hình xuất khẩu hàng công nghiệp của Việt Nam
- Đề xuất những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sau khi
Chơng I:
Những vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng hóa
1.1 Khái niệm xuất khẩu
Khái niệm xuất khẩu ra đời khi kinh tế thị trờng hình thành và phát triển, nó gắn
liền với lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới:
Xuất khẩu là việc đa hàng hoá từ nớc này sang nớc khác. Xuất khẩu hàng
hoá bắt nguồn từ sự phân công lao động quốc tế và sự tồn tại của thị trờng
ngoài nớc. Nhng dới chế độ TBCN thì xuất khẩu lại đợc hiểu theo một góc
độ khác: Xuất khẩu hàng hoá bị dùng làm thủ đoạn bóc lột những nớc kém
phát triển bằng cách trao đổi không ngang giá, bị các nớc lớn dùng làm thủ
đoạn nô dịch các nớc nhợc tiến về chính trị
(1)
.
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nớc ngoài
(2)
Xuất khẩu là sự luân chuyển hàng hoá ra nớc ngoài theo những thoả thuận
giữa các đối tác với nhau về pháp lý, phong tục, điều kiện kinh tế (bao gồm:
chất lợng, kỹ thuật ) và thông lệ quốc tế mà đôi bên đã thoả thuận
(3)
Nh vậy, ngoại thơng nói chung và xuất khẩu nói riêng là một hoạt động kinh tế đã
có từ lâu. Cùng với thời gian và sự tiến bộ của xã hội, hoạt động ngoại thơng đã có
những thay đổi đáng kể, chuyển từ phơng thức trao đổi H-H trong xã hội nô lệ và
phong kiến sang H-H hay H-T-H trong thời đại t bản chủ nghĩa.
Khi sản xuất đã đợc quốc tế hóa, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát
triển kinh tế mà không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng
hóa với bên ngoài. Hoạt động xuất khẩu trong bối cảnh đó không chỉ mang ý nghĩa
đơn thuần là trao đổi, buôn bán với bên ngoài, mà thực chất là cùng với các quan
hệ kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công lao động quốc tế nh: đầu t quốc
tế, tài chính quốc tế, liên kết kinh tế... Dới tác động của toàn cầu hóa (TCH) và hội
nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), nhiều tổ chức thơng mại toàn cầu và liên khu vực
Hơn nữa, tốc độ tăng của GDP gắn liền với tốc độ tăng của xuất khẩu, đồng thời
cũng gắn liền với chính sách đầu t vào các ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Cụ thể
là trong thời kỳ 1970-1980 xuất khẩu trên thế giới tăng 4%/năm, trong khi đó GDP
của toàn thế giới tăng 3.9%/năm, sang thời kỳ 1980-1995, xuất khẩu phát triển hơn
trớc tăng 5.3% năm, GDP chỉ tăng 2.4%/năm
(4)
. Chẳng hạn, tốc độ tăng GDP của
Trung Quốc giai đoạn 1995-2000 là 8,3%/năm, trong khi đó tốc độ tăng của xuất
khẩu là 13,76%/năm
(5)
. Vì vậy có thể nói thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá là một trong
những động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia, các dân tộc.
Bảng 1.1: Mức độ mở cửa thơng mại (%GDP)
Tên nớc
Xuất khẩu Nhập khẩu
1990 2004 2006 1990 2004 2006
Mỹ 9,2 9,8 11,8 10,6 15,1 12,7
Trung Quốc 14,8 39,7 39,9 12,0 36,7 29,9
Nhật Bản - 11,9 15,6 - 8,9 13,7
Ân Độ 7,2 17,9 38,1 9,4 20,7 40,2
Thái Lan 36,6 69,6 63,4 45,2 65,5 62,1
Việt Nam 32,6 67,3 69,8 30,9 74,6 70,5
Nguồn: Lê Bộ Lĩnh (2006), Kinh tế chính trị thế giới 2005 và dự báo 2006, Nxb Từ
điển Bách khoa Hà Nội; Thời báo kinh tế Việt Nam 2005-2006; Internet.
1.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc
Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong một thời gian ngắn, đòi
hỏi phải có một lợng vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ
tiên tiến. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có vốn và thu hút vốn, kỹ thuật từ bên
ngoài nhiều nhất. Với một nớc có trình độ phát triển thấp và hội nhập vào nền kinh
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ.
Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KH-CN) hiện đại, của
toàn cầu hóa (TCH) và hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT). Việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới
là tất yếu đối với nớc ta.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế:
(2)
Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt quá nhu
cầu nội địa, tức là xuất khẩu những gì ta có.
Coi thị trờng và đặc biệt là thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức
sản xuất nhằm xuất khẩu những gì mà thị trờng thế giới cần.
Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển nh nớc ta, sản xuất về
cơ bản còn cha đủ để tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự d thừa của sản xuất thì
xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé về qui mô và tăng trởng chậm chạp. Còn theo quan điểm
thứ 2 thì hoạt động xuất khẩu chính là xuất phát từ nhu cầu thị trờng thế giới để tổ
chức sản xuất. Điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển hay nói cách khác, đất nớc sẽ hình thành những ngành kinh tế
hớng xuất khẩu. Những ngành kinh tế đó phải có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để
hàng hoá khi tham gia vào thị trờng thế giới có đủ sức cạnh tranh và mang lại lợi
ích quốc gia. Theo quan điểm này, đây chính là giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế một cách mạnh mẽ theo hớng có lợi hơn và mang lại hiệu quả kinh tế cao
hơn. Bởi lẽ:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, tạo
nên sự phát triển hài hòa giữa các ngành kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp đến
dịch vụ. (Xem bảng 1.3)
Bảng 1.3: Sự đóng góp của các ngành trong GDP
Đơn vị: Tỷ đồng; %
Ngành
kinh tế
xuất trong nớc, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia.
- Xuất khẩu là phơng tiện quan trọng thu hút vốn, kỹ thuật và công nghệ từ bên
ngoài nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nớc, hình thành một năng lực sản xuất
mới. Nếu nh năm 1995 khu vực kinh tế trong nớc chiếm khoảng 73%/XK, thì đến
năm 2005 con số này đã giảm xuống chỉ còn 43%/XK; trong khi đó, khu vực có
vốn ĐTNN có sức tăng vợt trội tơng ứng từ 27%/XK lên 57%/XK.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của nớc ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh quyết
liệt trên thị trờng thế giới, nên cần phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản
xuất mới, thích nghi đợc với sự thay đổi của thị trờng theo hớng giảm dần tỷ trọng
xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp và tăng nhanh những sản phẩm có
hàm lợng khoa học, công nghệ và chất xám cao, tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình CNH-HĐH.
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện phơng
pháp quản trị sản xuất kinh doanh theo qui luật của cạnh tranh. Tính qui luật của
sự thay đổỉ cơ cấu là chuyển dần từ sản phẩm sử dụng nhiều lao động không cần
tay nghề cao sang các sản phẩm sử dụng nhiều lao động lành nghề có trình độ
chuyên môn hoá cao nh: điện tử, ô tô. Chính qui luật của sự thay đổi ấy là yếu tố
quan trọng kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH.
Bảng 1.4: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Đơn vị: % ; 1000 ngời
Ngành 2000 2003 2005
Nông nghiệp
Tỷ trọng
24481
65,1
24443
60,3
42710
56,8
Công nghiệp
1.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
nâng cao đời sống của ngời lao động
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trớc hết sản xuất
hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập cao.
Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu những vật phẩm tiêu
dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân. Với một đất nớc có tỷ lệ dân số sản xuất hàng hóa theo phơng
pháp thủ công cao nh Việt Nam, thì việc tiếp thu và vận dụng khoa học-kỹ thuật
tiên tiến từ bên ngoài trong phát triển kinh tế nói chung và sản xuất hàng xuất khẩu
nói riêng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi lẽ, khi mức sống của ngời
dân đợc cải thiện, hoạt động thơng mại trong nớc sẽ trở nên sôi động hơn, thị trờng
nội địa phong phú hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất phát triển. Hơn nữa,
xuất khẩu cũng tác động tích cực tới trình độ tay nghề, thay đổi thói quen của ngời
sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tạo nên những sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên
thị trờng. Đó là một trong những lý do mà Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã đề cập đến vấn đề con ngời và coi con ngời là nhân tố có tính chất
quyết định hàng đầu đối với sự tồn tại và phát triển của đất nớc, đặc biệt là trong
giai đoạn hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức nớc nhà. Một số kết quả dới
đây sẽ phần nào chứng minh đợc điều đó:
(6)
- GDP/ngời và XK/ngời tăng nhanh tơng ứng là 289 USD và 76 USD năm
1995, lên 402 USD và 176 USD năm 2000, năm 2005 còn cao hơn đạt 637
USD và 388 USD.
- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm dần từ 6.4% năm 2000 xuống còn 5,3%
năm 2005
- Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% năm
2000 lên 17,9% năm 2005; tỷ trọng lao động đã qua đào tạo tăng từ 20%
năm 2000 lến 25% năm 2005.
1.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại
của đất nớc.
đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa là nhu cầu cấp thiết của mọi quốc gia, nhất là các n-
ớc đang phát triển. Đây là cơ hội tốt để các nớc này thu hẹp khoảng cách về trình
độ phát triển so với các nớc công nghiệp đi trớc.
Để trở thành các nớc phát triển hay các nớc NIEs nh ngày nay thì Châu Âu đã phải
trải qua khoảng 200 năm; trong khi đó Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapore... đã đi tắt và chỉ mất khoảng từ 40-60 năm trong việc thực hiện quá
trình CNH-HĐH hớng vào xuất khẩu trên cơ sở khai thác tối đa nội lực của mình.
Điều đó cho phép rút ra một kết luận rằng thực hiện quá trình CNH-HĐH rút
ngắn dựa vào xuất khẩu là một phơng châm hiện thực và rất khả thi
(8)
.
(Xem bảng 1.5)
Bảng 1.5: Chỉ số kinh tế tri thức của các nớc năm 2002
Tên nớc
Tỷ lệ
học cao
đẳng
trở lên
%
Chỉ số
sẵn
sàng
điện
tử
Trình
độ
công
nghệ
Số thuê
Nh vậy, xuất khẩu đợc coi là có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu này, bởi,
nó không chỉ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH, mà còn tạo ra
những tiền đề cần thiết cho Việt Nam tiến tới một xã hội phát triển cao hơn thông
qua việc khuyến khích và tạo thuận lợi cho phát triển các ngành công nghệ cao nhờ
đi tắt, đón đầu những thành quả của văn minh nhân loại. Một minh chứng cụ thể:
Năm 2000 mới có 3 sản phẩm công nghiệp đạt KNXK trên 1 tỷ USD với tổng giá
trị là 6,86 tỷ USD, đến năm 2005 tăng lên 5 sản phẩm với tổng giá trị là 16,78 tỷ
USD, chiếm gần 50%/KNXK, gấp hơn 2 lần tổng KNXK của cả giai đoạn
1986-1990, trong đó phải kể đến sự vơn lên của hàng linh kiện điện tử (LKĐT)&
máy tính với KNXK đạt gần 2 tỷ USD năm 2006 tăng gấp hơn 20 lần so với năm
1996.
Đây có thể coi là một trong những thành quả rất đáng khích lệ, là căn cứ để khẳng
định Việt Nam cũng có thể thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc.
1.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến xuất khẩu hàng hóa
Khi tham gia vào TMQT, các nhà xuất khẩu phải hoạt động trong một môi trờng
kinh doanh rất phức tạp, ở đó có những yếu tố ảnh hởng đến hoạt động giao thơng
của họ. Trong các thành phần của môi trờng này, môi trờng nớc ngoài có vị trí
quan trọng đặc biệt và có vai trò quyết định đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp.
1.3.1 Môi trờng nớc ngoài
Môi trờng nớc ngoài là tổng hòa các yếu tố có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp khi họ thâm nhập vào thị trờng
mục tiêu. Các yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lời hay rủi ro cho các nhà
kinh doanh.
1.3.1.1 Tình hình chính trị-pháp luật
Các quyết định kinh doanh chịu tác động mạnh mẽ trớc sự thay đổi của môi trờng
chính trị - pháp luật ở nớc nhập khẩu. Môi trờng này đợc tạo ra từ các luật lệ, các
cơ quan công quyền và những nhóm áp lực gây ảnh hởng và ràng buộc tới mọi tổ
chức và cá nhân trong xã hội.
n định chính trị là yếu tố hấp dẫn các doanh nghiệp đến với thị trờng, là điều kiện
(8)
Tính minh
bạch của
chính sách
Hiệu lực
hành
chính
HTCS
cứng
HTCS
mềm
Về mức
độ xóa
bỏ rào
cản
Về quy
định
pháp
luật
Hn Quc
- - - -
6 6
Trung Quc
- - - -
2 4
Malaisia 3,0 3,0 2,9 3,0 4 6
Thái Lan 2,3 2,3 2,6 2,6 8 6
Indonesia 1,8 1,9 2,6 2,4 6 4
Việt Nam 1,5 1,4 2,0 2,0 2 2
vận hành các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nh: sân bay, cảng biển, giao
thông, điện lực, viễn thông... Ngoài ra, còn phải tính đến chất lợng các dịch vụ về
công nghệ, tài chính... (HTCS mềm). Đây là những yếu tố rất quan trọng tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động giao thơng đợc dễ dàng và nhanh chóng.
Mức độ cạnh tranh của thị trờng nớc ngoài cũng tác động rất lớn đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu. Nếu thị trờng càng cạnh tranh, thì độ mở của
thị trờng càng lớn, mức độ bảo hộ và độc quyền thu hẹp lại, tạo lực hút sự giao lu
kinh tế từ bên ngoài và ngợc lại. (Xem bảng 1.1, 1.6, 1.7)
1.3.1.3 Đặc điểm phát triển văn hóa - xã hội
Đặc điểm văn hóa - xã hội cũng có ảnh hởng lớn đến các hoạt động kinh doanh
XNK của doanh nghiệp. Mỗi nền văn hóa có một đặc trng riêng về thị hiếu thẩm
mỹ, thị hiếu tiêu dùng, phong tục tập quán... mà các nhà XNK phải tìm hiểu,
nghiên cứu để có quyết định kinh doanh đúng hớng. Những đặc điểm này ảnh h-
ởng đến việc xác định thị trờng mục tiêu, thiết kế nhãn hiệu, kiểu dáng, chiến lợc
quảng cáo, chiến lợc sản phẩm... của doanh nghiệp. Chẳng hạn, màu đen là biểu t-
ợng của tang tóc ở Châu Âu và Mỹ, thì ở Nhật Bản biểu tợng đó lại là màu trắng;
Việt Nam có một nền văn hóa rất phong phú với 54 dân tộc khác nhau... Sự khác
biệt này một mặt đã tạo ra những rào cản trong giao lu giữa các nền văn hóa, qua
đó ảnh hởng tiêu cực đến các hoạt động kinh doanh XNK và mặt khác, nó tạo nên
sự phân đoạn thị trờng, mà ở đó đòi hỏi phải có sự phong phú về sản phẩm nhằm
đáp ứng những nhu cầu đa dạng của ngời tiêu dùng. Hơn nữa, nếu một xã hội có
môi trờng giáo dục tốt, không có phân biệt đối xử, coi trọng lòng tin, không có thái
độ bài ngoại, phong tục tập quán có nhiều nét tơng đồng... thì nó sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho các nhà xuất khẩu thâm nhập thị trờng một cách dễ dàng hơn và có
cơ hội làm ăn lâu dài trên thị trờng đó.
1.3.1.4 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố về khoảng cách, địa điểm, khí
hậu,... Đây là những nhân tố cũng có tác động ít nhiều đến hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp. Do vậy, các nhà xuất khẩu phải cân nhắc thật kỹ khi lựa
chọn việc đóng gói, bảo quản cho hàng hóa, hay xác định thời vụ để sản xuất nhằm
tâm làm ăn với bên ngoài. (sẽ đợc đề cập trong chơng II)
1.3.2.2 Tiềm lực kinh tế, khoa học-công nghệ
Có thể nói, tiềm lực kinh tế, khoa học-công nghệ là nhân tố rất quan trọng quyết
định sự thành bại của các doanh nghiệp trên thị trờng nớc ngoài. Bởi, khoa học-
công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, là yếu tố cơ bản làm tăng khả năng
cạnh tranh của hàng hóa, là nhịp cầu trao đổi thông tin nhanh chóng giữa các
doanh nghiệp trong và ngoài nớc.
Một doanh nghiệp cha thể nói tới kinh doanh có hiệu quả ở bên ngoài nếu khả
năng tích lũy về vốn, công nghệ, về kinh nghiệm quản lý... của mình còn hạn chế
trong khi các quan hệ thơng mại truyền thống buộc phải nhờng chỗ cho những sản
phẩm có hàm lợng công nghệ và trí tuệ cao; hơn nữa lại không đủ sức đầu t cho
nghiên cứu và triển khai (R&D) để tạo ra các sản phẩm mới mang lại lợi nhuận
cao. Chính vì thế, mức độ tích lũy của nền kinh tế, tiềm lực về khoa học-công nghệ
có vai trò thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động giao lu kinh tế với bên ngoài. Thực tế
cho thấy, nớc nào có tiềm lực mạnh về kinh tế, về phát triển khoa học-công nghệ
thì nớc đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao trên thị trờng.
Có thể nói, sức hấp dẫn của thị trờng nớc ngoài làm thay đổi chiến lợc sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp từ hớng nội sang hớng ngoại dới sự tác động
mạnh mẽ của các chính sách kinh tế vĩ mô, cũng nh tiềm lực kinh tế, khoa học và
công nghệ của nớc mình. Lực hút của thị trờng này chỉ tồn tại khi nó mang lại cho
họ lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao hơn. Lẽ dĩ nhiên, sự thành bại của các doanh
nghiệp lại phụ thuộc vào chính khả năng thích ứng của mình với môi trờng đó, bởi
sức hấp dẫn của thị trờng nớc ngoài chỉ mang tính chất tơng đối.
1.3.3 Môi trờng quốc tế
Trong một nền kinh tế toàn cầu, quốc gia, dân tộc có chủ quyền không còn là chủ
thể duy nhất có vai trò chế định chính sách kinh tế, thơng mại mà là sự tồn tại
đồng thời của 4 chủ thể có thể đảm nhận vai trò này một cách hiệu quả. Đó là quốc
gia, dân tộc có chủ quyền, khối kinh tế khu vực, các thể chế kinh tế quốc tế và
TNCs. Trên thực tế, các chủ thể này luôn ảnh hởng lẫn nhau, ràng buộc, hợp tác và
đơng nhiên có nhiều xung đột trong môi trờng cạnh tranh quốc tế dới tác động của
miễn thị thực từ các nớc thành viên khi tham gia AFTA.
Bên cạnh đó, liên kết khu vực sẽ tạo ra sự phát triển ổn định của các nớc trong
vùng, qua đó tạo cơ sở vững chắc cho các nớc thành viên thực hiện các cam kết tự
do hóa thơng mại của mình, góp phần thúc đẩy các hoạt động giao thơng phát
triển.
1.3.3.3 Tăng tr ởng nhanh của các TNCs
Với vai trò chế định các chính sách kinh tế, TNCs không chỉ là hiện thân của các
tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng xuyên quốc gia; không chỉ là
biểu hiện của quá trình kinh doanh quốc tế ở cấp vĩ mô vì mục tiêu lợi nhuận, thị
phần, doanh số, u thế và ổn định, mà còn nối nền kinh tế thế giới thành một hệ
thống toàn cầu. Bởi vậy, sự bành trớng của TNCs có ảnh hởng rất lớn đến quan hệ
thơng mại giữa các nớc cũng nh thị trờng cạnh tranh quốc tế.
Mô hình hoạt động theo kiểu mạng lới phủ sóng toàn cầu với khoảng 60.000 TNCs
có trên 600.000 chi nhánh ở các nớc vào năm 1999 (cuối những năm 1960 mới có
7276 TNCs với 27.000 chi nhánh), TNCs chiếm 2/3 thơng mại thế giới, 4/5 FDI,
9/10 thành quả khoa học-công nghệ
(12)
. Hiện tợng này không chỉ tác động mạnh
đến sự giao lu thơng mại giữa các quốc gia mà còn gây sức ép rất lớn trong cuộc
cạnh tranh khốc liệt trên thị trờng toàn cầu nhờ có u thế về vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý
1.3.3.4 Tốc độ toàn cầu hóa
Nếu liên kết kinh tế quốc tế nói về các hiệp định kinh tế, thơng mại giữa các nớc,
thì TCH lại nhấn mạnh đến quá trình đan xen giữa các công ty trên phạm vi toàn
cầu để hình thành nên mạng lới sản xuất quốc tế. Tốc độ của quá trình TCH sẽ
thúc đẩy xu hớng tự do hóa thơng mại, tự do hóa đầu t, qua đó cho phép các công
ty mở rộng phạm vi hoạt động trên thị trờng toàn cầu.
Dới tác động của TCH, khoa học-công nghệ rất phát triển, hình thành nên nhiều
lĩnh vực sản xuất mới trong các ngành điện tử, tin học..., tạo điều kiện thuận lợi