Đẩy mạnh hội nhập Quốc tế trong du lịch sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới – WTO - Pdf 16

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt nam đã khẳng định
thực hiện nhất quán : “ Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa
dạng hóa các mối quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” ( Tr. 19, văn
kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam, NXB CTQG, Hà
Nội 2001). Tại Việt Nam, du lịch là cầu nối giao lưu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với
chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế của Đảng
và Nhà nước. Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với tăng lượng khách phục vụ, trong đó
sự đi lại, tìm hiểu thị trường của khách thương nhân được chú trọng. Từ đó du lịch thúc
đẩy đầu tư, buôn bán quốc tế…Bản thân hoạt động kinh doanh du lịch phải phát triển
theo hướng quốc tế hoá, vì khách du lịch thường được nhiều nước trong một chuyến đi
du lịch dài ngày. Hình thức liên doanh, liên kết ở phạm vi quốc tế trong kinh doanh du
lịch là phương thức kinh doanh đem lại lợi nhuận kinh tế cao. Hoạt động kinh doanh du
lịch với lợi nhuận kinh tế cao, đến lượt nó lại kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch
và tăng cường chính sách mở cửa.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là xu
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng về các ngành dịch vụ đã mở
ra một cơ hội phát triển thuận lợi cho ngành du lịch đất nước. Do là một ngành khá
nhạy cảm đối với những sự biến động của môi trường xung quanh, đặc biệt là môi
trường vĩ mô nên bất cứ một động thái nào trong yếu tố vĩ mô đều ít nhiều ảnh hưởng
đến chất lượng cũng như tốc độ phát triển của du lịch. Việc hội nhập quốc tế của du lịch
Việt Nam, một mặt là do chính bản chất của ngành – lĩnh vực kinh tế Quốc tế đòi hỏi.
Mặt khác, là do đường lối phát triển xã hội của Việt Nam quyết định. Bởi du lịch vốn là
một ngành kinh tế dịch vụ đặc biệt, mang chuẩn mực quốc tế cao, tạo cảm giác thoải
mái cho du khách nên nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố xung quanh - những yếu tố
đem đến tâm lý thoải mái và dễ chịu như: chính trị ổn định, môi trường trong sạch, cơ
sở vật chất hấp dẫn, chính sách nhập cảnh đơn giản, thuận lợi….
Trong những năm qua, hội nhập Quốc tế của du lịch Việt Nam đã có nhiều thành
công góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh ngành du lịch, góp phần tích cực trong quá

chúng em hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học đầu tay này.

3
Chương I:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG DU LỊCH
1.1 Các khái niệm cơ bản về hội nhập quốc tế
Hội nhập là gì ?
Nhiều định nghĩa, thường gắn với các trường phái lý thuyết chức năng (Trường
phái thể chế): “ Hội nhập là một quá trình hướng tới và là sản phẩm cuối cùng của sự
thống nhất về chính trị giữa các quốc gia riêng rẽ ”. Cho đến nay có ba cách tiếp cận
tiêu biểu về hội nhập quốc tế . Cách tiếp cận thứ nhất: cho rằng hội nhập là sản phẩm
cuối cùng hơn là một quá trình; sản phẩm đó là sự hình thành một nhà nước liên bang
kiểu Hoa Kỳ và Thụy Sỹ. Cách tiếp cận thứ hai cho rằng hội nhập là sự liên kết các
quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu thương mại, thông tin, du lịch, di trú…
từ đó hình thành dần các cộng đồng (vừa là quá trình vừa là sản phẩm). Cách tiếp cận
thứ ba cho rằng hội nhập vừa là quá trình vừa là sản phẩm cuối cùng, nhưng nhấn mạnh
hội nhập là sự hợp tác trong hoạch định chính sách và thái độ của tầng lớp tinh tuý.
Cách tiếp cận hội nhập ở Việt Nam
Hội nhập là cách nói gọn của cụm từ hội nhập kinh tế quốc tế, nên cần hiểu là quá
trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và
thế giới thông qua các nỗ lực tự do hoá và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song
phương và đa phương.. Như vậy hội nhập (hay hội nhập kinh tế quốc tế) thực chất cũng
là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá. Nguyên tắc hội nhập
của Việt Nam là: Hội nhập nhưng phải giữ độc lập tự chủ, tự lực tự cường , bảo đảm an
ninh quốc gia, ổn định chính trị -xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và
định hướng xã hội chủ nghĩa.
4
Nội dung của hội nhập
- Với bên ngoài: ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế; cùng
các thành viên đàm phán, xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam

đang được hình thành cùng với nó là sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa học
công nghệ càng làm tăng thêm độ “nóng bỏng” cho nền kinh tế thế giới. Hơn nữa,
không phải ngẫu nhiên mà toàn cầu hoá lại là xu thế phát triển chung của thế giới. Sự
hội tụ đầy đủ các yếu tố như: tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế,
sự mở rộng liên kết của các công ty đa quốc gia và các vấn đề về môi trường đã cùng
nhau thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng hội nhập trên tất cả các lĩnh
vực. Những nguyên nhân này có thể là do chủ quan hay cũng có thể là do khách quan
mang lại song chúng đều là những yếu tố mang tính quy luật không sớm thì muộn sẽ
xuất hiện và tác động vào nền kinh tế thế giới như một cú huých quan trọng làm thay
đổi toàn bộ bộ mặt của kinh tế toàn cầu.
Xu thế toàn cầu hoá đã xuất hiện từ lâu. Có thể nói “ con đường tơ lụa” từ Á sang
Âu đã biểu hiện sơ khai của xu thế này. Tới thế kỷ VI, với những đại phát kiến về địa lý
và đặc biệt là từ thế kỷ XVIII, khi loài người chuyển từ thời đại nông nghiệp sang thời
đại công nghiệp thì nền kinh tế dần dần mang tính chất toàn cầu hoá với những xu
hướng sau:
- Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế
- Xu hướng hoà bình, hợp tác và phát triển kinh tế
- Xu hướng phát triển dân số thế giới
- Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ
Hai mặt của quá trình toàn cầu hoá
6
Toàn cầu hoá phá bỏ hoặc ít ra giảm bớt những rào cản ngăn cách, mở rộng thị
trường, kích thích sản xuất, đồng thời cũng làm cho sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt.
Trình độ toàn cầu hoá cao gia tăng chưa từng thấy tính tuỳ thuộc lẫn nhau C.Mác và Ph.
Ăng-ghen gọi là “sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”. Nền sản xuất của nhiều quốc
gia được đưa vào dây chuyền sản xuất mang tính toàn cầu; một khâu trong dây chuyền
ấy trục trặc có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của toàn bộ hệ thống. Điều đó làm cho
nền kinh tế của mỗi nước bị cột chặt vào nền kinh tế chung, đồng thời cũng củng cố vị
thế của các nước nếu biết giành vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế. Những

do toàn Châu Mỹ (FTAA). Thứ hai, “tiểu khu vực”, các khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khu vực mậu dịch tự do Nam
Mỹ (MERCOSỦ)…ra đời. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều tổ chức hợp tác khu vực
như: Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Tổ chức hợp tác kinh tế của Tây Á
(ECO), Diễn đàn Nam Thái Bình Dương (SPF)… Thứ ba, cấp tầm liên quốc gia gần
đây xuất hiện nhiều tam- tứ giác phát triển, nhất là ở Đông Nam Á; tam giác phát triển
phía nam bao gồm Singapore, bang Giôho của Malayxia và đảo Baatm phía nam Thái
Lan, các bang phía Bắc Malayxia và tỉnh Xumatowra của Indonexia; tam giác phát triển
phía đông bao gồm đảo Minđanao của Philippin, Xulavêxi của Indonexia và miền đông
Malayxia; tứ giác vàng bao gồm Thái lan, Mianma, Lào và Vân Nam (Trung Quốc); ở
Đông Bắc Á có tam giác sông Chumen bao gồm các khu vực biên giới của Cộng hoà
dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Trung Quốc, Nga..
Xu thế này phản ánh lợi ích của các nước mở rộng thị trường, phối hợp nguồn
nhân lực, tài lực, kết cấu hạ tầng, tài nguyên để cùng nhau phát triển. Xu hướng khu vực
hoá đồng thời cũng là một sự “phản ứng” đối với xu thế toàn cầu hoá, một sự tập hợp
lực lượng để đối khó với sự cạnh tranh đang diễn ra mạnh mẽ. Một số nước, nhất là các
nước công nghiệp phát triển, muốn thông qua việc hình thành các khu vực mậu dịch tự
do để giành thị trường và phát huy ảnh hưởng, xác định vai trò của mình. Khác với
trước đây, xu hướng khu vực hoá diễn ra đồng thời với xu hướng toàn cầu hoá, các tổ
chức khu vực bao gồm các nước có chế độ chính trị - xã hội và trình độ phát triển khác
nhau, đều có xu hướng mở chứ không khép kín. Tuy nhiên, nếu không khéo xử lý thì
hai xu hướng ấy có thể trở thành đối lập nhau. Các tổ chức khu vực sẽ biến thành các
8
khối khép kín. Khu vực hoá tăng khả năng phát triển của các quốc gia song không phải
là thang thuốc vạn năng nếu như bản thân mỗi nước không gia tăng nội lực của mình;
ngược lại sẽ gánh chịu sự cạnh tranh chèn ép mãnh liệt.
Nhìn chung lại, hai xu thế lớn là toàn cầu hoá và khu vực hoá có nguồn gốc sâu
xa, đang phát triển mạnh mẽ, có tác động sâu sắc về nhiều mặt tới quan hệ quốc tế,
chính sách của các quốc gia, đời sống các dân tộc. Tiến hành chính sách đối ngoại rộng
mở, đa dạng hoá, đa phương hoá cả về quan hệ chính trị lẫn quan hệ kinh tế, chúng ta

khuyến cáo Liên hợp quốc và các chính phủ, các nhà nước có các những giải pháp phát
triển du lịch phù hợp.
Ngôn ngữ sử dụng chính: ANH, PHÁP, TÂY BAN NHA.
Tài liệu phát hành: Tạp chí Du lịch Thế giới, Thống kê Du lịch, Tổng kết Du lịch
Thế giới, địa chỉ website: http: //www.world-tourism.org
Việt Nam tham gia UNWTO năm 1981. Năm 1987, Việt Nam được bầu là Phó
chủ tịch Uỷ ban Đông Á-Thái Bình Dương, tích cực tham gia đại hội thường niên, đại
hội khu vực, tranh thủ sự hỗ trợ của UNWTO về thông tin, đào tạo nhân lực và hỗ trợ
kỹ thuật.
Tổ chức phi chính phủ ( Non - govermental Organization, gọi tắt là NGOs)
Đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới với nhiều dạng khác nhau. Nguồn gốc từ
xa xưa của NGOs vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện. Tiêu chí hoạt động của họ là
hoạt động nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và người nghèo, không phân
biệt chính kiến và địa dư. Cho tới nay trên thế giới các nước có quan điểm khác nhau về
phân loại và định nghĩa về NGOs.
* Một số nước coi tất cả các tổ chức không phải của chính phủ là các NGOs.
* Theo luật pháp một số nước, các tổ chức NGOs nước ngoài bao gồm các tổ thể
có tư cách pháp nhân là các Viện, các tổ chức tư nhân hay công cộng hoặc các quỹ, là
những tổ chức không có chính phủ. Các NGOs đó là các tổ chức phi lợi nhuận, được
10
lập ra hợp pháp và có tư cách pháp nhân theo luật và quy đinh của nước đó không theo
đuổi mục đích chính trị.
* Theo định nghĩa của tổ chức Liên hợp quốc, NGOs là bất kỳ tổ chức quốc tế
nào đựơc lập ra không phải do một thoả thuận liên chính phủ quốc tế, nhưng NGOs đó
có thể bao gồm các tổ chức có các thành viên do chính phủ cử ra, với điều kiện tư cách
thành viên không cho phép thành viên đó tự do bày tỏ ý kiến của tổ chức đó.
Có thể rút ra đặc điểm chung của loại hình tổ chức này là nó đựơc thành lập một
cách tự nguyện và hợp pháp, không thuộc bộ máy hành chính nhà nước và không nhằm
mục đích lợi nhuận.
Liên đoàn hiệp hội các hãng lữ hành (Universal Federation ò Travel agent

Các hoạt động chính: Thu thập các loại dữ liệu về quảng cáo cho du lịch quốc tế,
tham gia các hoạt động thương mại, tài chính có liên quan đến lữ hành, tổ chức hội nghị
hội thảo quốc tế có liên quan đến lữ hành, giữ mối quan hệ với hiệp hội khách sạn quốc
tế.
Ngôn ngữ sử dụng chính: ANH, PHÁP.
Tài liệu ấn phẩm hàng tháng GENERAL TARIFT, W.A.T.A MASTERKEY. địa
chỉ Website:
Hiệp hội du lịch Châu Á Thái Bình Dương (FACIFIC AREA TRAVEL
ASSOCIATION –PATA)
Thành lập: Năm 1951 tại HAWAI.
Trụ sở chính:trước năm 1997 ở SANFRANCISCO (Hoa Kỳ); vào năm 1998 đến
nay chuyển tới Bangkok, Thái Lan.
Tính chất: tổ chức liên kết quốc tế phi chính phủ về du lịch.
12
Thành viên có 80 cơ quan du lịch nhà nước, lãnh thổ, địa phương của 40 quốc gia,
hơn 2000 tổ chức du lịch được tổ chức thành 80 chi bộ. Cơ quan lãnh đạo hội nghị hàng
năm, Ban giám đốc và Ban chấp hành.
Phạm vi hoạt động chia thành 9 khu vực: Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, Thái
Bình Dương, quần đảo Hawai, Nam Thái Bình Dương, Châu Đại Dương, Alasca, Mỹ
và Canada.
Mục đích của PATA: Tuyên truyền và khuyến khích sự phát triển du lịch ở khu
vực Châu Á _Thái Bình Dương.
Các hoạt động chính: giúp đỡ các thành viên trong nhiều lĩnh vực như tuyên
truyền quảng cáo, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự liên kết, hợp tác giữa các thành viên, tổ chức nghiên cứu thi trường, thống kê du lịch,
thực hiện mối liên kết với các tổ chức Quốc tế khác.
Việt Nam tham gia vào PATA tháng 4 năm 1989. Năm 1994 được thành lập chi
hội PATA Việt Nam. Năm 2002 chi hội PATA Việt Nam có 149 thành viên. Chi hội
PATA Việt Nam tham gia tích cực đại hội thường niên, hội nghị các chi hội, hội nghị
giám đốc PATA nhằm tranh thủ hỗ trợ PATA tổ chức các hội nghị, hội thảo ở Việt

tế, văn hóa đi cùng với sự ổn định về chính trị, xã hội của các nước thuộc khu vực năng
động này ở châu Á đã thúc đẩy mạnh mẽ các quan hệ theo hướng hội nhập, hợp tác
cùng phát triển, không chỉ ở các nước trong khu vực với nhau mà còn vươn rộng ra
ngoài Châu Á, tạo nên sự cân bằng trong phát triển kinh tế giữa các khu vực trong xu
hướng toàn cầu hoá của kinh tế thế giới.
14
Trong khi đó, ở Châu Âu, mà nòng cốt là các nước EU sau thời kỳ chiến tranh
lạnh cũng đang có xu hướng mở rộng quan hệ ra ngoài bằng một “ chính sách Châu Á
mới ” được thông qua vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20.
Trước bối cảnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho một nền kinh tế đang phát
triển, có vị trí và vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của các nước Đông
Nam Á(Asean), vào năm 1994, Singapo đã đưa ra sáng kiến hợp tác Á – Âu. Hai năm
sau, diễn đàn hợp tác Á -Âu chính thức thành lập tại hội nghị cấp cao Á- Âu (ASEAN –
Europe Meetings - gọi tắt là ASEM ) lần thứ nhất tại Băng Cốc Thái Lan vào tháng 3 –
1996, mở đường cho một tiến trình hợp tác Á- Âu mới trong quan hệ giữa hai châu lục.
Có thể thấy, trong bối cảnh đó sự ra đời của ASEM là “ thuận theo ý trời và hợp
lòng người”, có một ý nghĩa to lớn mang tính chiến lược không chỉ trên lĩnh vực kinh tế
mà còn cả trên lĩnh vực chính trị, văn hóa - xã hội… của cả hai châu lục. Nó tạo điều
kiện củng cố, thúc đẩy, thắt chặt và đẩy lên một tầm cao mới, có hiệu quả hơn mối quan
hệ hợp tác giữa châu Âu nói chung và EU nói riêng với châu Á. Đồng thời nó cũng
mang một ý nghĩa to lớn cho lời giải của bài toán tạo đối trọng nhằm thiết lập, đảm bảo
duy trì sự cân bằng ngày càng ổn định trong phát triển kinh tế của ba trung tâm kinh tế
lớn trên Thế Giới: EU, Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Á đang phát triển.
Đầu tư trực tiếp( FDI)
Đầu tư trực tiếp (FDI) là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó
người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử
dụng vốn đầu tư .
Về thực chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng
hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để là chủ sở
hữu toan bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản

- Liên kết kinh tế quốc tế với các loại hình liên kết cụ thể ở những cấp độ khác
nhau do cho phép các mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các quốc gia thành viên trên
các lĩnh vực thương mại và đầu tư.
16
- Là “bước quá độ” trong quá trình vận động của nền kinh tế thế giới theo hướng
toàn cầu hoá.
Vai trò liên kết kinh tế quốc tế bao gồm :
- Từng quốc gia thành viên có cơ hội và điều kiện để khai thác tối ưu lợi thế của
mình, từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhập khẩu theo hướng hiệu quả hơn.
- Tạo nên sự ổn định tương đối để cùng phát triển và sự phản ứng linhhoạt trong
sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia thành viên.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật.
- Tạo thêm điều kiện và khả năng tạo công ăn việc làm cho người lao động.
- Tạo cơ hội và điều kiện xích lại gần nhau giữa các thành viên.
1.3 Vai trò của vịêc hội nhập quốc tế đối với phát triển du lịch Việt Nam sau
khi gia nhập WTO.
Tạo sân chơi bình đẳng, thực hiện các cam kết đối với WTO của ngành du
lịch Việt Nam
Hội nhập sẽ tạo áp lực rất lớn với doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong cạnh
tranh. Phần lớn doanh nghiệp du lịch của ta thuộc loại nhỏ, chất lượng dịch vụ hạn chế,
năng lực quản lý thấp. Ðội ngũ nhân lực du lịch thiếu và yếu về trình độ ngoại ngữ và
kinh nghiệm, nhất là thiếu những người có chuyên môn cao. Quá trình hội nhập, mở cửa
cũng có thể tạo ra nguy cơ phá hoại môi trường và cảnh quan du lịch nếu không có sự
quan tâm và những biện pháp quản lý hiệu quả. Ðó là một số thách thức chính đang đặt
ra đối với ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp du lịch Việt Nam nói riêng. Hội
nhập kinh tế là xu thế tất yếu. Trong quá trình hội nhập, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi
trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi, còn thành công tùy thuộc vào sức cạnh tranh,
sự năng động của doanh nghiệp. Đã đến lúc các doanh nghiệp không thể trông chờ vào
sự bảo hộ của Nhà nước mà phải thật sự tự thân nỗ lực.
Tăng cường thu hút nguồn ngoại tệ vào Việt Nam:

18
Nam mở cửa thị trường, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh doanh du lịch lớn nước ngoài
sẽ được tự do vào Việt Nam, trực tiếp cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh doanh lữ
hành nội địa. Với những lợi thế của mình, du lịch đã và đang dần phát triển và tự khẳng
định mình trong nền kinh tế quốc dân và chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình
hoạch đinh chính sách phát triển kinh tế của các cơ quan chức năng nhà nước. Do là
một ngành khá nhạy cảm đối với những sự biến động của môi trường xung quanh, đặc
biệt là môi trường vĩ mô nên bất cứ một động thái nào trong yếu tố vĩ mô đều ít nhiều
ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tốc độ phát triển của du lịch. Việc điều chỉnh về
kinh tế, chính trị, luật pháp đặc biệt là chính sách ưu đãi du lịch có tác dụng quan trọng
trong việc kích thích và điều hoà hoạt động trong ngành du lịch song những điều chỉnh
này mà bất cập, bất hợp lý thì nó lại là nguyên nhân quan trọng đưa du lịch nhanh chóng
trở thành “kẻ chiến bại” trong sự phát triển của kinh tế đất nước; không giống như các
ngành kinh tế khác, du lịch vốn là một ngành kinh tế dịch vụ đặc biệt tạo cảm giác thoải
mái cho du khách nên nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố xung quanh - những yếu tố
đem đến tâm lý thoải mái và dễ chịu như: chính trị ổn định, môi trường trong sạch, cơ
sở vật chất hấp dẫn, chính sách nhập cảnh đơn giản, thuận lợi….
Phát huy bản chất kinh tế quốc tế của du lịch Việt Nam
Quy luật có tính phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay, là giá
trị ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm xã hội và trong số
người có việc làm. Do vậy, các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn, thì du lịch
là một lĩnh vực hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác. Du lịch đem lại tỷ suất lợi
nhuận cao, vì vốn đầu tư vào du lịch tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao
thông vận tải mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh, kỹ thuật không phức tạp. Đặc biệt
trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bổ sung thì nhu cầu về vốn đầu tư lại càng ít hơn mà
lại thu hút lao động nhiều hơn, thu hồi vốn nhanh hơn.
Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế, cụ thể
thông qua các mặt sau:
- Các tổ chức quốc tế mang tính chất chính phủ và phi chính phủ về du lịch tác
động tích cực trong việc hình thành các mối quan hệ quốc tế.

quốc tế, tăng trung bình hàng năm là 22%. Trong 7 tháng đầu năm 2006, lượng khách
quốc tế vào Việt Nam đạt gần 2,2 triệu lượt, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2005. Bên
cạnh đó lượng khách nội địa cũng tăng trung bình hàng năm là 15%. Về thu nhập
ngành Du lịch cũng đã tăng trung bình hàng năm là 33% (năm 1995 thu nhập xã hội từ
du lịch đạt khoảng 500 triệu USD, 2005 thu nhập xã hội từ du lịch xấp xỉ 2 tỉ USD).
(Xem bảng trang 17).Kết cấu hạ tầng tại các trung tâm du lịch lớn và tại nhiều điểm du
lịch đã được quan tâm đầu tư xây dựng lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt là lưu trú
phát triển nhanh, năm 2005 Việt Nam có 3810 cơ sở lưu trú với tổng số 85381 phòng,
trong đó có 1951 khách sạn, 666 nhà nghỉ, 434 căn hộ và còn lại là các cơ sở lưu trú
khác. Trong số khách trên có 927 khách sạn, resort cao cấp được xếp hạng từ 1-5 sao
với tổng số phòng là 36687 chiếm hơn 1/3 tổng số phòng cơ sở lưu trú trên cả nước.
Khách sạn từ 3-5 sao chỉ chiếm khoảng 50% tổng số phòng ở trên. Tốc độ phát triển du
lịch nhanh,đặc biệt là các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Hạ Long, SaPa, Đà Lạt,
Nha Trang, Hội An, Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Thành Phố Hồ Chí Minh. Đến nay cả
nước có gần 500 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, khoảng trên 10000 doanh nghiệp đăng
kí kinh doanh lữ hành nội địa với đội ngũ hưóng dẫn viên là 5000 ngựời. Tính đến hết
năm 2005; 29 tỉnh thành trong cả nước đã thu hút được 190 dự án đầu tư trực tiếp từ
21
nc ngoi vo cỏc lnh vc khỏch sn, resort, sõn golf...vi tng s vn ng ký l 4,64
t USD. Thnh ph H Chớ Minh, H Ni, Lõm ng, Qung Ninh, B Ra-Vng Tu,
Khỏnh Ho, Bỡnh Thun l cỏc a phng thu hỳt c nhiu d ỏn v vn u t ln
nht. T nm 2000, Tng cc du lch trin khai Chng trỡnh Hnh ng quc gia v du
lch vi nhiu hot ng sụi ni trong v ngoi nc ó to ng lc thỳc y du lch
phỏt trin. thu hỳt v to iu kin thun li cho khỏch quc t vo Vit Nam, Chớnh
Ph Vit Nam ó cú nhiu ch trng, chớnh sỏch mi nh thc hin chớnh sỏch cp th
thc ca khu, min th thc song phng cho 6 nc ASEAN, min th thc n
phng cho Nht Bn, Hn Quc v 4 nc Bc u, min th thc cho khỏch quc t
n o Phỳ Quc trong vũng 15 ngy v ang tip tc nghiờn cu, min th thc cho
khỏch t mt s th trng trng im khỏc.
Bng Kt qu kinh doanh ca ngnh du lch Vit Nam thi k 1990-2006

định, phát triển Du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế
của đất nước; đồng thời, đưa ra những chủ trương chính sách và hành lang pháp lý quan
trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và hội nhập của du lịch Việt Nam vào
nền kinh tế Thế Giới. Bên cạnh đó, việc Việt Nam tham gia vào tổ chức dự án hội nghị,
diễn đàn cho du lịch Việt Nam như : tham gia vào tổ chức UN_WTO(1981),
PATA(4/1989), ASEAN, diễn đàn hợp tác kinh tế APEC, ASEM, đã cho ta thấy được
du lịch Việt Nam đang phát triển trên một tầm cao mới. Điều này cùng với các ưu thế
về đất nước và con người, an toàn-an ninh của Việt Nam đã tại nên lợi thế cạnh tranh
đặc biệt cho Việt Nam nâng cao uy tính của thương hiệu du lịch Việt Nam trên trường
quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam được mời đăng cai tổ chức các sự kiện lớn của PATA.
2.2.Cơ hội đối với ngành du lịch Việt Nam hội nhập Quốc tế sau khi gia
nhập WTO.
Hội nhập WTO có thách thức và cơ hội song cơ hội lớn hơn rất nhiều.
Thứ nhất, thị trường mở cửa rộng hơn
Khi gia nhập vào tổ chức thương mại Thế Giới thì Việt Nam sẽ có cơ hội để mở
rộng hơn thị trường khách du lịch của mình. Trước hết đó là cơ hội kinh doanh lữ hành
gửi khách từ Việt Nam sang các nước thành viên (out-bound). Khi đã cùng đứng trên
23
sân chơi WTO, cùng thực hiện những cam kết chung thì các nước trong thành viên
trong WTO cũng sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho Việt Nam so với trước khi gia nhập. Bên
cạnh đó cơ hội kinh doanh khách du lịch nội địa cũng được mở rộng hơn bởi vì khi gia
nhập vào WTO dựa trên bản cam kết về phương thức hiện diện thương mại sẽ phân
định thị trường “nhập khẩu du lịch” và thị trường khách du lịch nội địa cho các doanh
nghiệp trong nước. Mặt khác, nhu cầu du lịch của người Việt Nam đi du lịch trong nước
và nước ngoài được khơi dậy và làm tăng cầu về du lịch. Điều đó tạo cơ sở thuận lợi
cho việc trao đổi khách du lịch giữa các công ty du lịch. Chính vì vậy mà cơ hội đầu
tiên đối với Việt Nam nói chung và ngành du lịch Việt Nam nói riêng đó là thị trường
khách du lịch sẽ được mở rộng hơn.
Thứ hai,kinh nghiệm học tập từ các doanh nghiệp nước ngoài.
Việt Nam khi gia nhập WTO thì sẽ được giao lưu học hỏi và tiếp thu những kinh

lữ hành cũng ngày một phát triển để phục vụ cho nhiều nhu cầu du lịch của con người.
Bên cạnh đó ngành khách sạn cũng phát triển theo để phục vụ nhu cầu lưu trú của con
người.
Ngoài ra, lữ hành có vị thế trung gian để thực hiện phân phối sản phẩm trong du
lịch và các lĩnh vực khác trong ngành kinh tế quốc dân. Vì vậy, cam kết của Việt Nam
trong lĩnh vực du lịch mở rộng kênh phân phối sản phẩm du lịch Việt Nam đến 150
nước thành viên của WTO, khi đó ngành du lịch Việt Nam càng thu hút được nhiều
lượng khách du lịch đến Việt Nam.
Thứ năm, khả năng huy động vốn cho hoạt động du lịch thông qua thị trường và
doanh nghiệp nước ngoài.
Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ tạo niềm tin và sức thu hút mới đối với các nhà
đầu tư nước ngoài vào lĩnh vuẹc du lịch nhất là các nhà đầu tư chiến lược, các công ty
xuyên quốc gia hàng đầu Thế Giới có tiềm lực tài chính lớn, tăng vốn đầu tư trực tiếp,
25

Trích đoạn Tăng cường Hội nhập Quốc tế trong xỳc tiến du lịch Việt Nam Hội nhập Quốc tế để nõng cao chất lượng đào tạo nguồn nhõn lực và khả năng cạnh tranh ở cấp ngành và doanh nghiệp Cảnh giỏc ngăn ngừa cỏc hạn chế của NGOs trong hội nhập Quốc tế thụng qua du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status