MỤC LỤC
I.LỜI MỞ ĐẦU
II.NỘI DUNG
*CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỆT MAY TRONG ĐIỀU
KIỆN VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ
GIỚI WTO…..…………………………………………...………………………...3
1.1.Dệt may và đặc đỉêm của ngành dệt may ………………………………………3
1.2.Quy định của WTO ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam..4
1.3.Những cơ hội và thách thức với ngành dệt may Việt Nam sau khi Việt Nam là
thành viên của WTO………………………………………………………………..7
* CHƯƠNG2: THỰC TRẠNG, TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP
WTO…………........................................................................................................14
2.1. THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA
NHẬP WTO………………………………………………………………………14
2.1.1Thị trường xuất khẩu của Việt Nam trước khi gia nhập WTO………………14
2.1.2Thị trường nguyên phụ liệu của ngành dệt may trước khi gia nhập WTO…..15
2.1.3Cơ sở hạ tầng và nhân lực ngành dệt may trước khi gia nhập WTO………...15
2.1.4.Chính sách của nhà nước đối với ngành dệt may………………………........16
2.2.THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP
WTO………………………………………………………………........................16
2.3TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI…………………….24
2.3.1. Thuận lợi……………………………………………………………………25
2.3.2. Khó khăn …………………………………………………………………...25
2.3.3. Triển vọng ………………………………………………………………….26
2.4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO NGÀNH DỆT MAY…………………..29
2.4.1. Các giải pháp về chính sách:………………………………………………..29
2.4.2. Nhóm giải pháp về thị trường………………………………………………30
2.4.3. Sự nỗ lực của chính bản thân doanh nghiệp………………………………..30
III.KẾT LUẬN…………………………………………………………………...32
DANH MỤC THAM KHẢO………………………………………………….....33
*CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỆT MAY TRONG ĐIỀU
KIỆN VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ
GIỚI WTO
1.1.Dệt may và đặc đỉêm của ngành dệt may
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành sử dụng nhiều lao động đơn giản,
vốn đầu tư ban đầu không lớn ,nhưng có tỉ lệ lãi khá cao, chính vì vậy sản xuất dệt
may thường phát triển mạnh và có hiệu quả ở các nước đang phát triển. Sản xuất
ngành dệt may có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến sản xúât và buôn bán quốc tế,
trong lịch sử của nền mậu dịch thế giới, sản phẩm của ngành dệt may là một trong
những sản phẩm đầu tiên tham gia vào thị trường, nó có những đặc điểm chủ yếu
sau:
♦ Sản phẩm dệt may có nhu cầu rất phong phú, đa dạng tuỳ theo đối tượng tiêu
dùng, người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác
nhau về khu vực địa lý, tuổi tác… sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục.
♦ Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi mẫu
mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng tâm lý đổi mới, độc đáo và gây ấn
tượng của người tiêu dùng.
♦ Nhãn mác sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với tiêu thụ sản phẩm, người tiêu
dùng thường căn cứ vào nhãn mác để đánh giá chất lượng sản phẩm. Tên tuổi của
các hãng nổi tiếng trên thế giới đều gắn liền với mỗi nhãn mác sản phẩm.
♦ Tập quán và thói quen tiêu dùng là một yếu tố quyết định nguyên liệu và
chủng loại sản phẩm, yếu tố thời vụ liên quan chặt chẽ tới thời cơ bán hàng. Điều
này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những nhà xuất khẩu trong vấn đề giao
hàng có thời hạn.
♦ Các sản phẩm dệt may là một trong những mặt hàng được bảo hộ chặt chẽ.
Trước đây có hiệp định về hàng may mặc, việc buôn bán các sản phẩm dệt may
được điều chỉnh theo những thể chế thương mại đặc biệt mà nhờ đó, phần lớn các
nước nhập khẩu thiết bị hạn chế số lượng để hạn chế hàng dệt may nhập khẩu. Mặt
khác, mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với những hàng
hoá công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những điều
o Được bảo đảm và ổn định cho việc xâm nhập các thị trường của các nước
thành viên vì hàng xuất khẩu được hưởng thuế suất giới hạn.
o Được đảm bảo bằng bộ máy điều hành của WTO và nguyên tắc các nước
thành viên cùng tích cực trao đổi, đàm phán về vấn đề thương mại để giải quyết các
tranh chấp thương mại giữa các thành viên và tìm giải pháp vượt qua các khó khăn.
o Sử dụng tích cực vai trò của WTO như là diễn đàn cho các cuộc thương
thuyết đa phương hay song phương trong các vấn đề thương mại.
o Được WTO giúp đở về kỷ thuật , thông tin và đào tạo.
1.2.1.2.Nghĩa vụ của các nước thành viên WTO:
o Phải tuân thủ các nguyên tắc đã thỏa thuận chung và không còn được tự do
lựa chọn chính sách thương mại riêng biệt.
o Phải dành cho các nước thành viên khác chế độ tối huệ quốc (MFN) bằng
biện pháp cắt giảm đáng kể thuế nhập khẩu, chỉ bảo vệ nền công nghiệp nội địa
bằng các biện pháp thương mại khác như hạn ngạch, trợ cấp, ưu đãi riêng , v.v…
o Phải tuân thủ thể chế điều hòa các tranh chấp thương mại trong Hiệp định
về qui chế của WTO, không được kế hoạch hóa lưu thông hàng hóa giữa hai bên để
dành lại ưu thế cho riêng một nước nào đó.
o Phải cung cấp thường xuyên , đầy đủ các thông tin về cơ cấu quản lý kinh
tế quốc gia, chính sách ngoại thương và cả hệ thống thuế quan.
1.2.2.Quy định của WTO ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành dệt may
Việt Nam
1.2.2.1 Hiệp định tổng quan về thuế quan và thương mại (1994)
Một số hiệp định của WTO có thể điều chỉnh hoạt động của ngành may mặc.
Thứ nhất, Hiệp định Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (1994) được ký kết
vào năm 1994 có những quy định chung về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia
đối với hoạt động trao đổi hàng hóa, trong đó có hàng dệt may. Theo đó, hàng dệt
may xuất khẩu của thành viên WTO vào một nước thành viên khác sẽ nhận được
những đối xử tốt nhất (chẳng hạn, về thuế nhập khẩu) mà nước thành viên ấy dành
cho các thành viên WTO.
1.2.2.2. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
các quốc gia đều thừa nhận rằng việc hài hòa hóa các quy định này sẽ góp phần
thúc đẩy thương mại quốc tế. Các quy định về xuất xứ được sử dụng nhằm: thực
hiện các biện pháp và công cụ chính sách thương mại như thuế chống bán phá giá,
các biện pháp tự vệ, v.v.; xác định xem liệu sản phẩm nhập khẩu sẽ nhận được ưu
đãi tối huệ quốc hay chỉ là ưu đãi thương mại; thống kê thương mại; vận dụng các
quy định về nhãn mác; và phục vụ cho mua sắm chính phủ. Tuy vậy, các quy định
này cũng có thể được vận dụng thiếu hợp lý với mục đích bảo hộ. Chính vì vậy,
Hiệp định về xuất xứ hàng hóa có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngành dệt may.
1.2.2..4. Định giá hải quan
Định giá hải quan cũng là một vấn đề cần được tính đến. Định giá hải quan
là một thủ tục hải quan được thực hiện nhằm xác định giá trị hải quan của hàng
nhập khẩu. Đối với các đơn vị nhập khẩu, quá trình này có ý nghĩa quan trọng như
là mức thuế được áp dụng, vì nếu mức thuế được tính theo tỷ lệ % của giá trị hải
quan, giá trị hải quan cũng ảnh hưởng đến mức thuế phải chịu đối với hàng nhập
khẩu. Hiệp định về định giá hải quan trong khung khổ WTO hướng tới một hệ
thống định giá hàng hóa cho mục đích hải quan được thực hiện một cách công
bằng, đồng nhất, và trung tính. Kể từ khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, Hiệp
định này đã được thay thế bằng Hiệp định về thực thi Điều VII của GATT 1994, và
chỉ áp dụng đối với quá trình định giá hàng nhập khẩu để áp dụng mức thuế nhập
khẩu theo tỷ lệ %.
Theo đó, định giá hải quan chủ yếu dựa trên giá hàng hóa thực trả - thường
được thể hiện trên hóa đơn - có thực hiện một số điều chỉnh được nêu trong Điều
VIII. 6 phương pháp định giá được sử dụng là: (1) giá trị giao dịch; (2) giá trị giao
dịch của hàng hóa giống hệt; (3) giá trị giao dịch của hàng hóa tương tự; (4)
phương pháp trừ (deduction); (5) phương pháp tính toán (computed method); (6)
phương pháp dự phòng (fall back method).
Hiện tại các Doanh nghiệp Dệt May Việt Nam đang thực hiện các hợp đồng
gia công là chủ yếu, vì vậy các DN chưa thấy rõ được sự ảnh hưởng của Hiệp định
này. Tuy nhiên các DN đang phấn đấu tăng dần tỷ lệ đơn hàng theo phương thức
Thứ nhất, hàng dệt may của Việt Nam khi xuất khẩu vào một nước thành
viên WTO sẽ nhận được đối xử tối huệ quốc mà nước thành viên ấy dành cho các
thành viên WTO khác. Điều này có nghĩa là về số lượng xuất khẩu: Hạn ngạch vào
các thị trường được dỡ bỏ, doanh nghiệp dệt may có thể tự do xuất khẩu theo nhu
cầu thị trường;
Thứ hai, khi đã thâm nhập được thị trường một nước thành viên WTO, hàng
dệt may của Việt Nam sẽ không còn bị phân biệt với sản phẩm bản xứ nữa mà thay
vào đó sẽ được đối xử bình đẳng về thuế, phí, lệ phí, các qui định liên quan đến
việc bán hàng, cạnh tranh...
Thứ ba, khi gặp tranh chấp thương mại, hàng dệt may của Việt Nam có thể
nhận được bảo vệ từ cơ chế xử lý tranh chấp trong khung khổ WTO.
Thứ tư, trong những trường hợp khó khăn, ngành dệt may Việt Nam có thể
nhận được bảo hộ tạm thời từ cơ chế tự vệ.
Thứ năm, sau khi gia nhập WTO, hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ
không còn chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào các nước thành viên khác nữa.
Thứ sáu, ngành dệt may Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi từ đầu tư nước
ngoài, đi kèm với trình độ quản lý và kỹ thuật công nghệ mới.
Cuối cùng, việc trở thành thành viên WTO cho thấy những nỗ lực cải cách
và phát triển kinh tế của Việt Nam đã được quốc tế công nhận, và đây là cơ sở để
Việt Nam tham gia đàm phán và thực thi các cam kết tự do hóa thương mại ngày
một sâu rộng hơn.
Như đã trình bày ở trên, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã tham ký
kết các hiệp định khác như VJCEP, AANZFTA, AJCEP. Chính những hiệp định
này cho thấy doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể sẽ nhận được tiếp cận thị
trường tốt hơn.
1.3.2.Những thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam
Cái được lớn nhất của ngành dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO là thị
trường xuất khẩu, nhưng ngược lại, các doanh nghiệp cũng sẽ phải chia sẻ thị
trường nội địa cho các đối thủ nước ngoài. Có thể nói sự kiện Việt Nam đạt được
thỏa thuận với Mỹ về việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mở ra hy
cầu các sản phẩm phải có chứng chỉ sạch và thân thiện với môi trường.Ngành Dệt
may VN đang phải đối mặt với rất nhiều rào cản kỹ thuật mới trong việc bảo vệ
môi trường cho người tiêu dùng Mỹ, có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Theo đạo luật
này, các lô hàng XK vào Mỹ phải có giấy kiểm nghiệm của bên thứ 3 xác nhận sản
phẩm sử dụng nguyên liệu đảm bảo cho sức khỏe người tiêu dùng. Nhà sản xuất sẽ
phải chịu trách nhiệm về bất kỳ thiệt hại nào gây ra cho người tiêu dùng. Theo rào
cản kỹ thuật này, VN phải có 1 phòng thí nghiệm hiện đại đủ tiêu chuẩn để được
phía Mỹ công nhận và cấp giấy chứng nhận.
Áp lực này khiến ngành Dệt may phải xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn sản
phẩm dệt may phù hợp và hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời đầu tư
nâng cấp các trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm dệt may để hỗ trợ
cho các doanh nghiệp trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ thuật.
Được biết, theo Viện Kinh tế Kỹ thuật Dệt May thống kê, phần lớn các thiết bị
nghiên cứu, thử nghiệm chất lượng hàng dệt may được đầu tư từ những năm 90,
nay đã cũ và lạc hậu.
Ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội Dệt-may VN cho biết: “Ngành Dệt
may đang phải quan tâm đến việc bảo vệ môi trường nơi sản xuất, xây dựng thêm
các khu công nghiệp dệt nhuộm có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn tại một
số địa phương như Thái Bình, Nghệ An, Trà Vinh… Ðồng thời xây dựng phòng thí
nghiệm sinh thái tại Viện dệt may, làm cơ sở cấp chứng chỉ an toàn cho hàng xuất
khẩu và kiểm tra các loại hàng hóa, bảo đảm an toàn cho người sử dụng tại Việt
Nam cũng như tại các thị trường nhập khẩu. Ngoài ra là việc xây dựng và quản lý
các tiêu chuẩn an toàn sản phẩm và các hàng rào kỹ thuật cần thiết, nhằm bảo vệ
người tiêu dùng và thị trường trong nước “.
1.3.2.3.Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư nhiều vào ngành dệt may nước
ta tạo nên áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam :
Như đã nói ở phần 1 và phần 2 : nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc
thu hút lao động và các hàng rào về kĩ thuật do các nước nhập khẩu đặt ra. Khi gia
nhập WTO, mở cửa thị trường, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
và được đối xử ưu đãi như các doanh nghiệp trong nước. Như vậy, dệt may nước ta
Bông
1000
tấn
11 165 154 20 255 235 60 430 370
Sợi nhân
tạo
1000
tấn
140 140 260 220 600 370
Chỉ và
filamen
1000
tấn
260 510 250 350 790 440 650 1.350 700
Vải
Triệu
m2
618 2.280 1.662 1.000 3.525 2.525 2.000 5.950 3.950
Tuy nhiên, xét trên tổng nhu cầu sử dụng các nguyên phụ liệu trên thì năng lực
sản xuất trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước , còn phải nhập khẩu
từ nước ngoài với số lượng lớn thể hiện qua các số liệu ở bảng tính dưới đây:
2005 2010
Mặt hàng
Năng
lực
Nhu
cầu
Nhập
khẩu
Năng
máy móc, phụ
tùng
1.825,9 1.724,3 1.774,2 1.952,0 2.152 2.376
Cộng nhập (chưa
kể hóa chất thuốc
nhuộm)
4.054,2 4.180,0 4.679,96 5.699,6 7.144 8.086
Kim ngạch xuất
khẩu
3.609,1 4.385,6 4.838,4 5.834,0 7.794 9.082
Nguồn: Tài liệu xúc tiến kêu gọi đầu tư phát triển ngành dệt may
Mặc dù ngành Dệt may đã có kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu và có
chính sách hỗ trợ giá cho nông dân, nhưng vấn đề giá còn rất nan giải. Nếu giá thấp
hơn so với các cây trồng khác sẽ khó khuyến khích được nông dân tham gia trồng
bông, và mục tiêu 1 tỷ mét vải vào năm 2010 sẽ còn gặp nhiều khó khăn và thách
thức. Và như vậy, thách thức tiếp theo của ngành Dệt may là phải làm thế nào tạo
được vùng nguyên liệu ổn định, không bị phụ thuộc vào nước ngoài như hiện nay.
1.3.2.5.Các chính sách bảo hộ, trợ cấp của chính phủ bị dỡ bỏ :
Thứ nhất, hàng rào bảo hộ dệt may trong nước không còn. Nếu như hiện nay,
thuế nhập khẩu hàng may mặc vào Việt Nam là 50%, thuế nhập khẩu vải là 40%,
thuế nhập khẩu sợi là 20% thì khi vào WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện đúng cam
kết theo Hiệp định Dệt may (với mức giảm thuế lớn, ví dụ thuế suất đối với vải
giảm từ 40% xuống 12%, quần áo may sẵn giảm từ 50% xuống 20% và sợi giảm từ
2% xuống 5%). Do vậy vải Trung Quốc sẽ tràn vào nước ta vì lúc nước sẽ phải
cạnh tranh với vải Trung Quốc nhập khẩu.
Thứ hai, nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở các thị
trường xuất khẩu lớn hơn.
Thứ ba, với cam kết xóa bỏ các hình thức trợ cấp không được phép, ngành
dệt may không còn được hưởng một số loại hỗ trợ như trước đây như các hình thức
hỗ trợ XK và thưởng XK từ Quỹ hỗ trợ XK; các biện pháp miễn giảm thuế hoặc