LUẬN VĂN: Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là
người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang
giai đoạn hiện nay
cách mạng và năng lực, trí tuệ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đại hội Đại biểu lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh Kiên Giang nhiệm kỳ 2005-2010, đề ra nhiệm vụ trọng tâm của
công tác cán bộ là: “Chú trọng nâng cao chất lượng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ
cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ” [11, tr.72].
Ở những nơi có đồng đồng bào Khmer sinh sống, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
là người dân tộc Khmer có vị trí, vai trò quan trọng nhất định. Sau Đại hội, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo triển khai thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp đến năm 2010 và giai đoạn 2010-2015, trong đó cán bộ dân tộc
Khmer có 2.232 người, chiếm 5,54%. Tuy công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ là
người dân tộc Khmer đã được quan tâm, đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khmer tiếp
tục được nâng lên về số lượng và chất lượng, nhưng đội ngũ cán bộ này ở nhiều cơ sở
vẫn còn hụt hẫng. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở 64/142
xã, phường, thị trấn có đông đồng bào Khmer sinh sống, số lượng chỉ có 51 người,
chiếm tỷ lệ 8%; đa số trình độ hạn chế, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tạo
nguồn chưa được quan tâm đúng mức; việc bố trí đội ngũ cán bộ này ở những xã có
đông đồng bào Khmer chưa nhiều, còn bất cập, có những xã rất đông người Khmer
sinh sống nhưng không có nguồn để bố trí vị trí chủ chốt.
Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nghiên cứu một cách căn bản, đánh giá đúng
thực trạng, chỉ ra được mục tiêu và những giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã là người dân tộc Khmer ngang tầm với nhiệm vụ mới. Góp phần lý giải những vấn
đề trên, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc
Khmer ở tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ
khoa học chính trị, chuyên nghành Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã nói riêng đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu. Trong các đề tài và bài viết
liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đáng chú ý là các công trình:
* Đề tài cấp Nhà nước KX 05-11: “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo

Văn Long làm chủ nhiệm. Đề tài cũng có một phần đề cập đến cán bộ chủ chốt cấp xã người Khmer nhưng chủ yếu hướng của đề tài khai thác về phương hướng và giải
pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này.
* Một số luận án tiến sĩ có liên quan đến đề tài:
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên
hiện nay”(1996), Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của
Nguyễn Mậu Dựng.
- “Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện
nay”(1994), Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của Hồ
Bá Thâm.
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu
Long hiện nay” (2000), Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, của Phạm Công Khâm.
- “Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong công
cuộc đổi mới hiện nay” (2002), Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, của Trần Thanh Nam.
Tổng quan chung mà các luận án đề cập có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu là
“đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở”. Tác giả sử dụng các luận án như là những tài liệu
tham khảo, trong đó có kế thừa những luận cứ khoa học đã được các tác giả của các luận
án trên nghiên cứu một cách có hệ thống.
* Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã:
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bình Thuận hiện nay" (1999),
Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của
Nguyễn Thị Quỳnh Xê.
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở tỉnh Bình Thuận trong giai
đoạn hiện nay” (2000), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, của Nguyễn Văn Phích.
- “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng ở vùng có đông
người Khmer trong giai đoạn hiện nay” (2005), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của Nguyễn Sỹ Đệ.
- “Xây dựng đội ngũ đảng viên ở các xã có đông đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh
giai đoạn hiện nay” (2005), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, của Lâm Văn Rạng.
- “Chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ xã vùng có đông đồng bào
Khmer tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay” (2006), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của
Thái Thị Duy Quyên.
- “Chất lượng các đảng bộ xã có đông đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng giai
đoạn hiện nay” (2006), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, của Nguyễn Thị Hồng Cẩm.
- “Phát triển đảng viên trong đồng bào Khmer của các đảng bộ xã ở tỉnh Trà Vinh
giai đoạn hiện nay” (2006), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, của Trần Thị Chính.
- “Quản lý đảng viên là người Khmer ở các đảng bộ xã, thị trấn thuộc huyện Tịnh Biên,
tỉnh An Giang giai đoạn hiện nay” (2008), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của Nguyễn Sơn Hải.
- “Tỉnh uỷ Sóc Trăng lãnh đạo các đoàn thể chính trị - xã hội ở vùng đông đồng bào
Khmer trong giai đoạn hiện nay” (2008), Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, của Trần Thanh Sang.
Đối tượng nghiên cứu của các đề tài nói trên hoặc là đảng viên người dân tộc
Khmer hoặc đối tượng ở vùng dân tộc Khmer. Tác giả tham khảo để có cái nhìn bao quát
về đặc điểm người dân tộc Khmer, cán bộ, đảng viên là người Khmer và những cơ sở có
đông đồng bào Khmer sinh sống.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp rất lớn về mặt khoa
học xoay quanh vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, mỗi công trình đều có sự

a. Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối, quan điểm, các nghị quyết của Đảng ta về công tác cán bộ nói chung, cán bộ
người dân tộc Khmer nói riêng. Đồng thời, tham khảo những tài liệu của các công trình
khoa học, các văn kiện, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
b. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; kết hợp chặt chẽ
giữa lý luận và thực tiễn, lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, đồng thời coi trọng điều
tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ được vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là
người dân tộc Khmer trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về
công tác cán bộ và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc
Khmer và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ này ở tỉnh Kiên Giang trong những năm qua.
- Đưa ra phương hướng và giải pháp thiết thực nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp những luận cứ khoa học về vai
trò, đặc điểm cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer cho các cấp uỷ đảng ở các
địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống. Nhằm tổ chức thực hiện thắng lợi chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là các chủ trương, chính sách,
nghị quyết của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn học
Xây dựng Đảng trong các Trường chính trị tỉnh.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.

thành lập trên cơ sở từ xã chuyển thành phường, đó là những phường còn mang đậm dáng dấp của xã. Về mặt tổ chức hoạt động và thiết chế chính trị - xã hội, xã chuyển
thành phường đòi hỏi phải chuyển từ quản lý và tự quản công cộng làng xã sang quản lý
hành chính đô thị. Cái cũ định hình bền vững từ rất lâu đời chưa mất hẳn, cái mới đang
hình thành, chưa thật sự định hình, chưa có được một diện mạo đặc thù của chính nó. Từ
cội nguồn sâu xa đến hiện trạng đang tồn tại, ta đều thấy phường được sinh ra từ xã và
biến đổi từ xã mà ra.
Từ khi có chính thể dân chủ cho tới nay chúng ta mới nói tới xã như một tập hợp mở
rộng của các làng và coi xã là cấp cơ sở ở nông thôn trong hệ thống bốn cấp của quản lý
hành chính nhà nước [8, tr.170].
Xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống quản lý hành
chính, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng cái thấp nhất không đồng nghĩa
với cái ít quan trọng nhất.
Do vậy, cấp xã là chủ yếu và điển hình, bao trùm và phổ biến trong sự hình dung về
cấp cơ sở, về đời sống kinh tế - xã hội và văn hoá cũng như về hệ thống chính trị ở cơ sở
hiện nay.
Cấp xã được xem là cơ sở của xã hội, là nơi cư trú, sinh sống của người dân, nơi
thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu
nối trực tiếp giữa dân với Đảng. Mối quan hệ công tác của hệ thống chính trị cấp cơ
sở thể hiện trong cơ chế tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động: tổ chức đảng có
vai trò hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở; chính quyền xã, phường, thị
trấn có vai trò quản lý nhà nước; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên bao gồm
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội liên hiệp Phụ nữ và Hội
Cựu chiến binh, v.v có vai trò đoàn kết, tập hợp quần chúng tham gia vào các hoạt
động xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Tổ chức đảng ở cấp xã hay tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là tế bào đầu tiên, trực tiếp liên kết các đảng viên lại
với nhau thành tổ chức. Với mạng lưới tổ chức của mình, các cơ sở Đảng ở cấp xã là

nơi có nhiều dân cư sinh sống nhất và gần dân nhất, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, vùng
nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống còn, thành
bại của chế độ. Cấp xã là nơi hiện thực hoá và kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nơi đảm bảo phát huy quyền
làm chủ của nhân dân lao động, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân
dân. Cấp xã chính là địa bàn thuận lợi để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc, tạo điều kiện thực hiện công
cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cấp xã còn là đơn vị tổ
chức cơ bản của huyện, xã mạnh thì huyện mạnh và ngược lại các xã yếu, không ổn định
là những “điểm nóng” thì huyện không thể phát triển, vững mạnh, thậm chí còn gây
những hậu quả khó lường.
Bắt nguồn từ tầm quan trọng của cơ sở, cho nên xây dựng và củng cố hệ thống
chính trị cấp cơ sở là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giữ vững ổn định chính trị,
phát triển kinh tế - xã hội, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta luôn coi cơ sở là nền tảng của Đảng, quan tâm
nâng cao sức chiến đấu, xây dựng cơ sở thật sự là những pháo đài nhằm củng cố vai trò lãnh
đạo của Đảng.
Đối với các xã có đông đồng bào Khmer sinh sống ở Kiên Giang, ngoài những vị trí,
vai trò và đặc điểm của cấp xã nói trên còn nổi lên một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, hầu hết đều là những nơi kinh tế - xã hội phát triển chậm, thuộc diện vùng
sâu vùng xa, xã, thị trấn khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.
Hiện nay, đơn vị hành chính cấp xã ở tỉnh Kiên Giang là 142 xã, phường, thị trấn,
có 64 xã, phường, thị trấn có đông đồng bào Khmer sinh sống, trong đó có 53 xã thuộc
diện xã khó khăn [42], có 27 xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn [41], đang thụ hưởng
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Cụ thể, đối với huyện Kiên
Lương có hơn 3.400 hộ người Khmer (chiếm 15% dân số huyện), có 5 xã biên giới (Vĩnh
Phú, Vĩnh Điều, Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hoà) với gần ba nghìn hộ và cũng là
những xã chiếm hai phần ba tổng số nghèo toàn huyện. Xã Phú Lợi là một trong những

Các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer ở Kiên Giang là nơi cố kết cộng đồng giữa
ba dân tộc chính: dân tộc Kinh, dân tộc Khmer và dân tộc Hoa. Vùng đất Kiên Giang nói
riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung, mấy thế kỷ qua do những biến cố
lớn về chính trị, kinh tế - xã hội, sự quy tụ và khuyết tán dân cư đã xảy ra thường xuyên, nơi đây là vùng cư trú hỗn hợp nhiều thành phần dân cư có nguồn gốc tộc người khác
nhau tụ hợp lại, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh, dân tộc Khmer và dân tộc Hoa. Họ
sống xen kẽ, hoà thuận với nhau từ lâu đời đến nay, cùng nhau xây dựng quê hương
phum sóc, tạo nên những nét văn hoá đặc sắc, có sự kế thừa và giao thoa lẫn nhau. Đa
số người Khmer nói được tiếng Kinh, và phần đông người Kinh cũng nói được tiếng
Khmer; ở những nơi như xã Bình An (Châu Thành), xã Bình An (Kiên Lương), xã Mỹ
Đức, phường Pháo Đài (Hà Tiên) cả ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa đa số nói được và
hiểu được tiếng của nhau, dễ dàng trong giao tiếp cũng như đoàn kết trong xây dựng
quê hương, xóm làng, phum sóc. Cho đến nay, sự cố kết cộng đồng ngày càng thêm
bền chặt, do có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta với những chủ trương, chính
sách đúng đắn, mang lại nhiều hiệu quả thực tế ở những vùng này.
Bốn là, các xã biên giới của tỉnh Kiên Giang đều là những xã có đông đồng bào
Khmer, có vị trí chiến lược quân sự trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Kiên Giang có đường biên giới đất liền giáp với CamPuChia dài hơn 56 km, có 7 xã
biên giới là: Vĩnh Phú, Vĩnh Điều, Phú Mỹ, Phú Lợi, Tân Khánh Hoà, Mỹ Đức, Đông
Hồ. Các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống ở những vùng biên giới, chính là
những pháo đài vững chắc trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ lãnh thổ vùng biên
ải quốc gia. Ở những xã này, thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhân dân trong xã đã ý
thức rõ chủ quyền quốc gia chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ từng tấc đất của quê hương,
khi đất nước đã hoà bình, có xã được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu anh hùng như:
xã Phú Mỹ (Kiên Lương). Với sự quan tâm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, cho đến nay, các xã biên giới tiếp tục là những pháo đài vững chắc canh giữ vùng
biên cương của Tổ quốc.
Ngoài ra, hệ thống chính trị ở các xã, thị trấn có đông đồng bào Khmer sinh

- Trong hệ thống nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ công chức,
chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngành hành chính, tư pháp, kinh
tế, văn hoá và xã hội. Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ
huy, phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó phòng, vụ, cục, v.v ).
Ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ hợp thứ tư Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật
Cán bộ, công chức, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Tại khoản 1 Điều 4 đã quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là
cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, tuy Luật
Cán bộ, công chức chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 nhưng đây là
căn cứ pháp lý quan trọng để hiểu đúng bản chất, ý nghĩa của từ “cán bộ”.
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ cán bộ trong các trường hợp, các
lĩnh vực cụ thể xét về cơ bản có thể quan niệm một cách chung nhất như sau: cán bộ là
khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức,
có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ
huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức [53, tr.17-18].
Đối với cán bộ cấp xã được quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức:
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được
bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”.
Trong đội ngũ cán bộ, có một nhóm được gọi là cán bộ chủ chốt. Tiếng Anh gọi
nhóm này là Leader (người cầm đầu). Đó là những người đứng đầu quan trọng nhất, có
chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền ra những quyết định, có trách nhiệm và
quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của
tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ
chức nhất định. Đây là lực lượng nòng cốt trong đội ngũ cán bộ, là nhân tố quan trọng

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang, phần
lớn trưởng thành từ phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở. Bởi vậy, họ rất am
hiểu đặc điểm tình hình chung của cơ sở, luôn có những ý kiến phản ánh tình hình thực tế
về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của xã nói chung, của đồng bào Khmer nói riêng để
cùng với cấp uỷ cơ sở đề ra chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở.
- Hầu hết đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang
đều xuất thân từ nông dân, với đặc tính siêng năng, cần cù trong lao động; điều kiện kinh tế,
hoàn cảnh gia đình còn rất nhiều khó khăn. Thế nhưng, tinh thần tham gia hoạt động công tác ở xã của họ chủ yếu bằng lòng nhiệt tình cách mạng, một lòng, một dạ đi theo Đảng.
Hiện nay, lương, phụ cấp đối với cán bộ cấp xã rất thấp, không đủ để nuôi sống bản thân
mình, trung bình từ một triệu đồng trở xuống. So với một người nông dân đầu tư chăn nuôi,
sản xuất mức thu nhập khá hơn nhiều, hoặc một người đi làm ngày công một tháng thu nhập
cũng hơn hai triệu đồng cao hơn mức lương, phụ cấp được nhận nhưng họ vẫn nhiệt tình
công tác, hăng hái trong phong trào cách mạng ở cơ sở.
- Cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở Kiên Giang là con em của đồng
bào dân tộc Khmer, gắn với phum, sóc; rất am hiểu phong tục tập quán của dân tộc
mình; khả năng giao tiếp rất tốt, nói được cả tiếng Kinh và tiếng của dân tộc mình, dễ
dàng trong việc nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc Khmer ở cơ sở.
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang, về cơ
cấu độ tuổi khá trẻ, nhỏ hơn đến bằng 30 tuổi chiếm 33%, và từ 31 đến 40 tuổi là 20%;
nhưng về trình độ thì rất thấp, học vấn dưới cấp III chiếm 33%, số chưa qua đào tạo
chuyên môn 51%, chưa qua đào tạo lý luận chính trị 41% (xem phụ lục 6).
- Ngoài ra, cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở Kiên Giang hiện nay,
chiếm tỷ lệ rất ít, cá biệt có những xã có đông đồng bào Khmer sinh sống nhưng không
bố trí được vị trí chủ chốt là người Khmer.
Từ những đặc điểm trên, trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người
dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang, đòi hỏi các cấp ủy đảng cần có sự quan tâm đúng mức
và có những tầm nhìn chiến lược, để xây dựng đội ngũ cán bộ này đồng bộ, đáp ứng yêu

V. I. Lênin lại khẳng định: “Nghiên cứu con người tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện
nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ là mớ giấy
lộn” [30, tr.449].
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng đã chứng minh và khẳng định vai trò quan
trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [35,
tr.269,240].
Trong cuốn Sửa đổi lối làm việc, Người viết: “Cán bộ là những người đem chính
sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [35, tr.269]. Cán bộ là gốc của mọi công việc, trong đội ngũ cán bộ nói chung,
cán bộ chủ chốt là gốc của cái gốc đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng trong
bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị các cấp.
Cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị
công tác, sản xuất - kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ
chính trị ở đó, phân công nhiệm vụ, chỉ đạo cán bộ công chức của mình hoàn thành
nhiệm vụ được giao phó. Cán bộ chủ chốt giỏi thì đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật,
chuyên môn nghiệp vụ được sử dụng, phát huy được mọi khả năng, tổ chức đó sẽ mạnh,
nâng cao được hiệu quả, chất lượng công tác. Cùng một tổ chức bộ máy tương tự, cùng
một cơ chế, chính sách giống nhau, nhưng có địa phương phát triển kinh tế - xã hội
nhanh, mọi nhiệm vụ đều thực hiện và hoàn thành xuất sắc; có địa phương kinh tế - xã
hội trì trệ, mọi nhiệm vụ bê trễ. Trong thực tế, có những ngành, địa phương sản xuất đình
đốn, kinh doanh thua lỗ, đời sống cán bộ, nhân dân hết sức khó khăn, thế nhưng chỉ cần thay
đổi cán bộ đứng đầu là tình hình mọi mặt được cải thiện. Điều đó cho thấy vai trò quyết định
của cán bộ chủ chốt.
Trên cơ sở vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt nói chung, cán bộ chủ chốt cấp xã là
người dân tộc Khmer cũng có vai trò hết sức quan:
- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer giữ vai trò quyết định

ngoài đội ngũ cán bộ này ra, khó có thể đưa đến một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Do vậy, tính thiết thực và hiểu quả của các quyết định nói trên đến với đồng bào Khmer
phụ thuộc rất lớn ở khả năng lĩnh hội và truyền đạt các quyết định đó của cán bộ chủ chốt
cấp xã là người Khmer.
- Cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer là cầu nối quan trọng nhất giữa
Đảng với đồng bào dân tộc Khmer. Sự lãnh đạo của Đảng đối với đồng bào dân tộc
Khmer ở cơ sở, hiệu quả nhất thông qua cán bộ chủ chốt cấp xã là là người Khmer. Bởi
vì, đội ngũ cán bộ này là những người tiêu biểu, tích cực nhất trong đồng bào Khmer;
thay mặt cho Đảng đem mọi đường lối, chủ truơng, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước giải thích cho đồng bào hiểu rõ một cách cặn kẽ và tự giác thực hiện, chấp
hành nghiêm túc. Họ nắm rất chắc về đặc điểm văn hoá, tâm lý, phong tuc tập quán của
dân tộc mình - cán bộ chủ chốt là người dân tộc Khmer dễ dàng tiếp cận, đi sâu nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng bào để kịp thời phản ánh cho Đảng và Nhà nước, gần hơn
là cơ sở, địa phương để đặt đường lối, chủ trương, pháp luật sát hợp với thực tiễn. Trong
quá trình quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ đảng, tổ chức chính
quyền cấp trên đến với đồng bào dân tộc Khmer, đội ngũ cán bộ này là người trực tiếp
nắm rõ thực tiễn đời sống của đồng bào, nắm mọi tâm tư nguyện vọng chính đáng của
đồng bào, hơn ai hết họ biết rõ tính đúng đắn, phù hợp của mọi quyết định của cấp cấp
trên, kể cả những điểm chưa phù hợp của những quyết định đó đối với đồng bào Khmer,
phản ánh với cấp trên để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
- Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một phong trào mang tính tự giác rất cao, đòi hỏi ở
sự giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, có như vậy phong trào mới đi đúng theo quỹ đạo
và thể hiện được tính ưu việt của nó. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người Khmer giữ
vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần
chúng sâu rộng ở nông thôn phum, sóc. Trong phong trào đó đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã là người dân tộc Khmer chính là những hạt nhân của phong trào, là bộ phận tiên phong
trong phong trào, chi phối và quyết định tính chất của phong trào. Họ là những hạt nhân ở
cơ sở là, những người giác ngộ lý tưởng cách mạng, có lập trường chính trị vững vàng,

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tại Hội nghị Trung
ương sáu khoá IX, Trung ương đã kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung
ương ba khoá VII, nghị quyết Trung ương ba và nghị quyết Trung ương bảy khoá VIII về
công tác tổ chức, cán bộ. Tháng 01 năm 2004, tại Hội nghị Trung ương chín khoá IX
kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Ban Chấp hành
Trung ương đã thông qua báo cáo về công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, đưa ra những
quan điểm và giải pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng về công tác tổ
chức và cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng. Trong nhiệm kỳ Đại hội
X, Đảng ta tiếp tục quan tâm tạo sự chuyển biến trong công tác tổ chức, cán bộ qua các
nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu khoá X ngày 02 tháng 02 năm 2008 về nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ,
đảng viên; và Kết luận của Hội nghị Trung ương chín khoá X của Đảng ngày 02 tháng 02
năm 2009 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020. Nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp và nông thôn đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải có một
đội ngũ cán bộ ngang tầm cả về đức và tài, trong đó cần phải thấy rõ vai trò của việc xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã. Các cấp uỷ đảng ở những nơi có đông đồng bào
Khmer sinh sống phải nhận thức và có chiến lược trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã là người dân tộc Khmer, hội tụ cả đức và tài, phát huy được khả năng hoạt
động thực tiễn, gây dựng phong trào cách mạng trong quần chúng nhân dân vùng đồng
bào Khmer để cùng góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Xây dựng đội ngũ chủ chốt cấp xã là người Khmer ở tỉnh Kiên Giang, là việc làm hết
sức cấp bách, thể hiện ở vai trò hết sức quan trọng của công tác này:
- Xây dựng được một đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Khmer ở
những xã có đông đồng bào dân tộc Khmer - một trong những yếu tố góp phần thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Bởi vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
nhiệm vụ chính trị ở cơ sở nơi có đông đồng bào Khmer tập chung nhất vẫn là nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo. Thực tế cho thấy đối tượng khó khăn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status