LUẬN VĂN:
Nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
ở tỉnh hà giang hiện nay
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 20 năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân,
công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta đã có sự thay đổi đến cơ bản và toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu và
phương hướng tổng quát giai đoạn 2006 - 2010 là:
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy sức mạnh đoàn
kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn dân công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng
tốt nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá;
thực hiện tiến bộ công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh mở
rộng quan hệ đối ngoại; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định
chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại [20, tr.76].
Để thực hiện mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2006 - 2010 cũng như mục tiêu
tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung (xây dựng xong về
cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và
tư tưởng văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh), một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, trình
độ lý luận cho đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.
Thực tiễn cách mạng ở nước ta đã khẳng định, sau khi có đường lối đúng, nhân tố
quyết định sự thành công hay không thành công của sự nghiệp cách mạng phụ thuộc vào
vai trò, năng lực hoạt động lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đặc
chính trị nhất định. Cán bộ chủ chốt cấp xã có nắm vững, hiểu biết lý luận chính trị thì
mới nắm chắc các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, từ đó mà vận dụng một cách sáng tạo vào tình cụ thể ở địa phương. Trình độ lý
luận chính trị còn giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có cơ sở tổng kết một cách
có hiệu quả tình hình thực tiễn ở địa phương, qua đó rút ra những bài học kinh
nghiệm, những kết luận , góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung và phát triển lý luận,
đường lối, chính sách... của Đảng và Nhà nước. Do đó cán bộ chủ chốt nói chung và
cán bộ chủ chốt cấp xã nói riêng để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì cần phải có
trình độ, trong đó có trình độ lý luận chính trị.
Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn ở nước ta nói chung và ở tỉnh
Hà Giang nói riêng còn yếu và hạn chế nhiều mặt như: Bản lĩnh chính trị, trình độ nhận
thức chính trị, năng lực tổ chức quản lý, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn, phẩm chất
đạo đức cách mạng… Nhiều cán bộ được đề bạt, bổ sung vào những cương vị chủ chốt,
nhưng chưa qua đào tạo cơ bản về chuyên môn cũng như lý luận chính trị. Do đó, khi xử
lý công việc còn tuỳ tiện, kinh nghiệm, giáo điều, chưa vận dụng đúng với đường lối, chủ
trương, quan điểm của Đảng vào thực tiễn của địa phương, cơ sở. Để khắc phục tình
trạng trên cần phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, trong
đó vấn đề có ý nghĩ cấp bách là phải đổi mới, tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nâng
cao trình độ lý luận chính trị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách
mạng…cho họ trong quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở địa phương. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp cụ thể, thiết thực
nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có ý nghĩa
hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Nõng cao trỡnh độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Hà Giang hiện nay”, làm đề tài luận văn tốt
nghiệp
luận
văn
của
mình như:
"Quan hệ giữa lý luận và chính trị" của Nguyễn Thế Phấn, Tạp chí Cộng sản, số
8/1992; "Mấy vấn đề trong công tác lý luận" của Đỗ Nguyên Phương, Tạp chí Tư tưởng
văn hoá, số 7/1992; Hồ Bá Thâm “Phát triển năng lực tư duy của người lãnh đạo quản lý
hiện nay”, Tạp chí Cộng sản số 23/ 2002; Nguyễn Thái Sơn “Đổi mới công tác đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt” Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2001; Trần Thành
“Tư duy lý luận đối với người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn”, Nhà xuất bản Lý luận
chính trị, 2001; Ngô Ngọc Thắng “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở trong thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2004;Luận văn thạc
sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1995, "Nâng cao trình độ tư
duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay" của Đỗ Cao Quang;
Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998; "Nâng
cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện
nay" của Vũ Đình Chuyên; Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, năm 2001, “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay” của Nông Văn Tiềm; Luận văn thạc
sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006, “Nâng cao trình độ lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã miền Tây Nam Bộ hiện
nay” của Tô Hoàng Hiệp.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất cơ bản cả về lý
luận lẫn thực tiễn, đề ra những phương hướng và giải pháp để nâng cao trình độ lý luận chính
trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp này, cấp khác. Tuy nhiên, do giới hạn về mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nên cho tới nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu về thực trạng cũng như nêu
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị cho cán bộ.
- Các nghị quyết, chương trình hành động, quyết định, chỉ thị, báo cáo tổng kết của
tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
- Kế thừa, vận dụng, phát triển các công trình của các tác giả đi trước đã nghiên cứu
những nội dung liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, thống
kê, điều tra xã hội học...
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ vai trò, tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với
cán bộ chủ chốt cấp xã và tính tất yếu phải nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang qua nghiên cứu, đánh giá khái quát thực
trạng trình độ lý luận chính trị của cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà Giang.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Những giải pháp rút ra trong luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của
tỉnh Hà Giang nói riêng, của các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung.
- Là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giáo viên của Trường Chính trị trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng, lý luận cho cán bộ, đảng viên.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 4 tiết.
hoạt động thực tiễn. Trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn thì thực tiễn chính là
yếu tố cơ sở, nền tảng, quyết định sự hình thành lý luận. Mỗi bước phát triển của hoạt
động thực tiễn lại làm nảy sinh yêu cầu mới đòi hỏi phải được nghiên cứu, khái quát và
do đó được bổ sung vào lý luận những nhận thức mới. Nhờ đó mà lý luận hoàn thiện và
phát triển hơn. Ngược lại, trong mỗi hoạt động thực tiễn, lý luận hướng dẫn, mở đường
cho thực tiễn phát triển bằng những tổng thể tri thức nhất định. Không có hoạt động thực
tiễn nào đơn thuần là kinh nghiệm cụ thể, cũng như không có hệ thống tri thức lý luận
nào không xuất phát từ sự tổng kết thực tiễn.
Quá trình nhận thức của con người có thể khái quát lại dưới hai cấp độ: tri thức
kinh nghiệm và tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm là những tri thức do con người tiếp
nhận trực tiếp từ việc quan sát sự vật, hiện tượng cụ thể, khách quan; những tri thức này
còn mang tính rời rạc, bề ngoài, riêng lẻ, ngẫu nhiên chưa mang tính chặt chẽ, sâu sắc,
chưa đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng. Do đó, phạm vi áp dụng cũng như tính
hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức kinh nghiệm thường bị hạn chế trong phạm vi hẹp. Khẳng
định điều đó, Ph.Ăng ghen viết “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ
có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [30, tr.718]; cho nên, biện chứng của quá
trình nhận thức tất yếu vươn tới một tri thức sâu sắc hơn, bản chất hơn, đó là tri thức lý
luận.
Tri thức lý luận ở trình độ cao hơn so với tri thức kinh nghiệm. Bởi vì, tri thức lý
luận có được là dựa trên cơ sở khái quát từ những tri thức kinh nghiệm và được nâng nên
ở trình độ cao hơn, sâu sắc hơn về bản chất và quy luật của sự vật. Chính vì vậy, phạm vi
áp dụng cũng như tính hướng dẫn, cải tạo của tri thức lý luận rộng hơn so với tri thức
kinh nghiệm. Tri thức lý luận làm cho hoạt động của con người trở lên chủ động, tự giác
hơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát trong quá trình nhận thức, cũng như cải tạo
tự nhiên, cải tạo xã hội.
Mặc dù tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận có khác nhau về trình độ nhưng
giữa chúng lại có điểm chung là đều phản ánh hiện thực khách quan và có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Kinh nghiệm thực tiễn có vai trò quan trọng đối với lý luận, là cơ sở để
cố gắng làm sáng tỏ bản chất đầy bí ẩn của chính trị.
Chính trị, theo tiếng Hylạp là “politics” có nghĩa là những công việc liên quan đến
thành bang, những công việc quốc gia. Trong đó việc cốt lõi nhất, quan trọng nhất, thực
chất nhất là tổ chức ra cơ quan cai trị (chính phủ) và sau này, từ thế kỷ XVI trở đi gọi là
nhà nước [4, tr.7].
Trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài người từ thời kỳ cổ đại, trung đại và cận
đại các nhà tư tưởng phương Tây cũng như phương Đông đã cố gắng đi tìm một hình
thức nhà nước phù hợp để cai trị đất nước có hiệu quả nhất, hợp lý nhất. Do đó, “chính trị
theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước là phạm vi hoạt động gắn với
những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn
đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [1,tr.570]. Hơn nữa, chính trị là mối quan
hệ giữa các giai cấp là đấu tranh giai cấp trong giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước và
suy cho cùng là vấn đề lợi ích kinh tế. V.I.Lênin nêu ra một số nguyên tắc cơ bản trong
chính trị mà người cộng sản phải quán triệt, và đó cũng là bản chất của chính trị: “Chính
trị là biểu hiện tập trung của kinh tế” có nghĩa là: các tổ chức chính trị, các hình thức nhà
nước thay đổi và phát triển dựa trên cơ sở kinh tế của xã hội. Nhưng điều đó không có
nghĩa chính trị là biểu hiện thụ động của kinh tế. Những quan hệ chính trị, những vấn đề
chính trị có ảnh hưởng trở lại mạnh mẽ đối với kinh tế hoặc là thúc đẩy hoặc là cản trở sự
phát triển kinh tế. Chính trị biểu hiện bởi các tri thức được tích luỹ trong quá trình lịch sử
và những quan hệ kinh tế gắn với con người, với giai cấp, với dân tộc và với thời đại.
Theo V.I.Lênin, “chính trị có tính lôgíc khách quan của nó, không phụ thuộc vào
những dự tính cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng này hay đảng khác” [24, tr.246].
Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, nó luôn tồn tại và gắn liền với điều kiện lịch sử cụ
thể, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của một cá nhân hay giai cấp, chính đảng nào.
Và với tư cách là một thiết chế xã hội, chính trị luôn luôn tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư
tưởng của giai cấp nắm quyền thống trị xã hội.
Như vậy, tuỳ theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về chính trị,
song theo nghĩa chung nhất: Chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước
của mình đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; kinh tế
tăng trưởng khá nhanh, bước đầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng
lãnh đạo được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên
nhiều; vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao… Những thành
tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, là sáng tạo, con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Hiện nay, trong và
ngoài nước đã và đang xuất hiện tư tưởng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, tư tưởng dao động, hoài nghi, đòi xem xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta gây ra sự lo lắng, xáo trộn về mặt tư tưởng trong
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; Thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình đổi mới, Đảng kiên trì lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm cơ sở lý luận và phương
pháp luận trong quá trình phân tích tình hình, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự
thật, lấy đó làm cơ sở xuất phát để hoạch định và hoàn thiện đường lối đổi mới. Đảng
luôn khẳng định vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong
toàn bộ sự nghiệp của cách mạng Việt Nam đó là:
ở những bước ngoặt của cách mạng, trước những diễn biến phức tạp của
tình hình, Đảng ta kịp thời có định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, uốn nắn
nhận thức lệch lạc, chống những luận điều thù địch, tạo cơ sở cho sự thống
nhất tư tưởng trong toàn Đảng và trong nhân dân [14, tr.136].
Đây cũng là những định hướng chính trị quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và
phát triển đất nước, là điều kiện tiên quyết để chúng ta giành được những thắng lợi to lớn
trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới và cũng là tiền đề quan trọng để đưa nước
ta đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân ta
Với quan niệm như trên, lý luận chính trị có những đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, tính trừu tượng hoá và tính khái quát hoá cao
Đây là đặc trưng cơ bản của lý luận nói chung và lý luận chính trị nói riêng. Khi
đề cập đến lý luận là chúng ta liên tưởng ngay đến tính trừu tượng và tình khái quát của
nó. Tư duy là vấn đề cốt lõi của lý luận nhận thức, nếu như không có quá trình tư duy thì
nhận thức của con người sẽ mãi mãi chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính, mặt bề ngoài của
đối tượng, không thể hiểu được bản chất, tính quy luật của sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng nói chung. Trong quá trình nhận thức, tư duy của con người luôn diễn
ra quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá những tri thức thu được về thế giới, những quy
luật vận động và phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội.
Trừu tượng hoá, khái quát hoá là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
không thể tách rời, chúng xâm nhập lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Nhờ đó mà con người
có được những tri thức về các mối liên hệ bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát
triển sự vật.
Các hình thức thể hiện lý luận nói chung, lý luận chính trị nói riêng như khái
niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật… đều là kết quả của quá trình trừu tượng hoá, khái
quát hoá cao của tư duy con người trong quá trình nhận thức thế giới và chúng được biểu
đạt bằng những khía cạnh, những yếu tố khác nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ
với nhau, bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Nhờ đặc trưng của trừu tượng hoá, khái quát hoá cho nên lý luận nói chung và lý
luận chính trị nói riêng đã đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính
quy luật, các mối liên hệ… trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng, nó giúp
con người không ngừng tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới đáp ứng nhu cầu
thực tiễn đặt ra.
Hai là, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận khoa học nói chung và
của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý
luận thuộc về lĩnh vực hoạt động tinh thần, còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất.
đoạn hiện nay, việc thường xuyên tổng kết thực tiễn luôn là một đòi hỏi tất yếu đồng thời
là yêu cầu quan trọng để tiếp tục nâng cao trình độ tư duy lý luận của của Đảng:
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng, thường xuyên
tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn
đề do cuộc sống đặt ra [20,tr.131].
Tổng kết thực tiễn sau 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng
trong việc kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và vận dụng một cách sáng tạo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng về kinh tế xã hội, kinh tế
tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp
nhân dân không ngừng được cải thiện.
Ba là, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học.
Nói tới tính đảng là nói tới tính giai cấp, còn tính khoa học là sự phản ánh đúng
thực tế khách quan, tôn trọng hiện thực, khách quan. Lý luận nói chung và lý luận Mác Lênin nói riêng là nhằm bảo vệ lợi ích của một giai cấp trong một chế độ xã hội nhất
định. Do đó, lý luận chính trị của giai cấp cách mạng, giai cấp tiên tiến, giai cấp đại biểu
cho sự tiến bộ của lịch sử luôn có khả năng đảm bảo sự thống nhất giữa tính đảng và tính
khoa học.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống tư tưởng của giai cấp vô sản, giai cấp đại biểu
cho sự tiến bộ của thời đại, giai cấp mà lợi ích của nó phù hợp với lợi ích của quần chúng
nhân dân lao động, nó phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, cho nên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đảm bảo sự thống nhất giữa
tính đảng và tính khoa học.
Trong lý luận chính trị, tính đảng và tính khoa học có mối quan hệ biện chứng với
nhau, vì thế tính đảng càng cao thì tính khoa học càng thêm sâu sắc, tính đảng và tính
khoa học là điều kiện, tiền đề tồn tại, phụ thuộc lẫn nhau, không thể xem nhẹ, hoặc loại
bỏ cái nào được. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Khoa học càng được tiến hành một cách
Đảng ta đã và đang lãnh đạo toàn dân thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” từ một đất
nước có điểm xuất phát thấp, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá
nặng nề. Do đó, ngay từ đầu, Đảng ta đã xác định rõ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
không thể tách rời việc thực hiện các cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách
mạng tư tưởng-văn hoá, cách mạng khoa học kỹ thuật … Công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa tạo tiền để giải quyết các nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì
vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngoài việc đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, nó còn đòi
hỏi phải có một nguồn nhân lực tương ứng cả về số lượng, đặc biệt là về chất lượng.
Nước ta có tỷ trọng dân số và lao động trong công nghiệp, nông thôn khá lớn, trình độ
của lực lượng lao động ở nước ta phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước còn hạn chế, do vậy vai trò của lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ
trương, đường lối, chính sách… không chỉ là động lực thúc đẩy trang bị về trình độ
chuyên môn mà còn nâng cao trình độ về lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân để hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, đảm nhiệm được trọng trách của mình
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Như vậy, lý luận chính trị của nước ta là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của nhà nước. Đảng ta đã khẳng định: sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp
của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Vì lẽ đó, để thực hiện mục tiêu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, Đảng ta đã xác định rõ:
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp [14,tr.18-19].
triển hệ thống lý luận của Đảng, từng bước làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, lý luận vẫn chưa đi sâu, đi sát thực tiễn cuộc sống. Do đó,
nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm của công tác lý luận là nghiên cứu và tổng kết thực tiễn
nhận thức rõ hơn, đúng hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Điều này đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định:
Công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của
cách mạng, chưa làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới
để phục vụ việc hoạch định chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng, tăng
cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng trong xã hội [18,tr.78].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Công tác lý
luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới” [20,
tr.65].
Lý luận với vai trò tiên phong, hướng dẫn, cho nên lý luận không thể chậm trễ, lạc
hậu mà phải đi trước. Lý luận càng sáng tỏ, càng nhận rõ quy luật vận động khách quan
của lịch sử , nhất là trong sự nghiệp xây dựng sáng tạo xã hội mới - xã hội chủ nghĩa thì
hoạt động thực tiễn mới thực sự trở thành tự giác. Công tác lý luận càng phải khẳng định
và làm rõ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm rõ những vấn đề cần
nhận thức cho đúng, những kinh nghiệm thực tiễn mới và những thành tựu khoa học hiện
đại. Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời chú
trọng nghiên cứu những tinh hoa trí tuệ của dân tộc.
Thực tiễn ở nước ta trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, bên cạnh mặt tích cực, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường đã làm nảy
sinh những vấn đề chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chủ nghĩa, suy thoái
về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống … ở một bộ phận cán bộ đảng viên, đó là những
biểu hiện non kém về bản lĩnh chính trị. Cho nên để khắc phục những tiêu cực đó thì rèn
luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị của nước
ta hiện nay là một vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài. Nhưng bản lĩnh chính trị không phải
là cái “tiên thiên” có sẵn trong từng cán bộ, đảng viên mà phải thông qua việc giáo dục,
thuyết phục… nhằm đạt được mục đích đề ra. Theo từ điển tiếng Việt thì lãnh đạo là: “Đề
ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện” [38,tr.524].
Hoạt động quản lý là quá trình điều khiển trực tiếp thông qua sự xắp sếp, tổ chức,
chỉ huy của chủ thể quản lý đối với hoạt động của từng đối tượng theo những yêu cầu
nhất định. Theo từ điển tiếng Việt thì quản lý là: “Tổ chức và điều khiển hoạt động theo
những yêu cầu nhất định” [38, tr.772].
Hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý có đặc điểm chung giống nhau, đều là sự
tác động của chủ thể, những người có quyền uy đối với đối tượng là những người dưới
quyền để thực hiện một nhiệm vụ nào đó theo những yêu cầu, mục tiêu đã định.
Tuy nhiên, giữa hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý cũng có sự khác nhau
nhất định như:
+ Về mục tiêu: hoạt động lãnh đạo là định hướng chung, còn hoạt động quản lý là
tổ chức xắp sếp các vấn đề theo một trật tự nhất định để thực hiện có hiệu quả cao nhất
các quyết định của lãnh đạo.
+ Về nội dung: hoạt động lãnh đạo đề ra chủ trương, đường lối chung, phương
pháp triển khai, biện pháp thực hiện. Còn hoạt động quản lý là xây dựng các phương án,
chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể, tổ chức lực lượng để thực thi nhiệm vụ.
+ Về phương pháp: hoạt động lãnh đạo thường dùng phương pháp động viên, giáo
dục, thuyết phục nhằm phát huy tính tự giác của đối tượng. Còn hoạt động quản lý
phương pháp chung là dùng mệnh lệnh có tính bắt buộc với những chế tài, biện pháp
hành chính nhất định.
Vì vậy, hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý có những nội dung và tính chất
gần giống nhau nên ta thường dùng cụm từ chung là lãnh đạo, quản lý, hoạt động lãnh
đạo đồng thời cũng thực hiện chức năng quản lý và ngược lại hoạt động quản lý cũng
thực hiện luôn chức năng lãnh đạo.
Hiến pháp năm 1992 quy định cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta
được phân chia làm bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận,
huyện; xã phường thị trấn còn gọi chung là cấp cơ sở. ở mỗi cấp, Đảng và Nhà nước ta có
người trực tiếp, chủ yếu góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cơ sở. Họ là những người giữ chức vụ quan trọng nhất
ở xã, là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thuộc hệ thống chính trị cơ sở, là những người
giữ cương vị chính phụ trách trong tổ chức một tập thể, có ảnh hưởng chính, quyết định
và chi phối việc điều hành, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương đã đề ra, là nhưng người chịu trách nhiệm trước nhân dân. Do đó, để thực