luận văn thạc sĩ Chính sách thương mại nhằm nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng gạo xuất khẩu Việt Nam hiện nay - Pdf 26


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Chính sách thương mại
nhằm nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng gạo xuất khẩu Việt Nam
hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dựa trên cơ sở nghiên
cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng
dẫn khoa học của Tiến sĩ: Ngô Xuân Bình. Các số liệu và những kết quả
trong luận văn là trung thực. Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung
thực của lời cam kết trên.
i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường
Đại học Thương Mại, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho
tôi suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ: Ngô Xuân Bình đã dành
rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn
thành luận văn cao học này.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học
Thương Mại cùng quí thầy cô trong Khoa Sau Đại Học đã tạo rất nhiều
điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự
nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và
các bạn.
TRẦN VĂN MẠNH
Học viên cao học khoá 18A
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trường đại học Thương mại
ii

TT Thông Tư
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo của Việt Nam Error: Reference source
not found
iv

Bảng 1: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2: Tình hình giá gạo thị trường thế giới quý 1/2013 Error: Reference
source not found
Bảng 3: Bảng phân chia GTGT trong chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu
ĐBSCL Error: Reference source not found

v

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế của
đất nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất khả quan mà nổi bật
nhất là những thành tựu trong lĩnh vực nông nghiệp. Kể từ sau năm 1989
sản xuất lúa của Việt Nam luôn tăng cả về diện tích lẫn sản lượng. Vì vậy,
từ một nước nông nghiệp ở trong tình trạng thiếu lương thực kéo dài thì
đến nay, Việt Nam đã vươn lên không chỉ đáp ứng được nhu cầu lương
thực trong nước mà còn trở thành nước xuất khẩu gạo đứng vị trí thứ hai
trên thế giới.
Hàng năm, sản xuất lúa gạo đóng góp khoảng từ 12% đến 13% GDP
và xuất khẩu gạo là mặt hàng trong nhóm mười ngành hàng xuất khẩu
chính của Việt Nam. Hoạt động xuất khẩu gạo đã đem về cho đất nước
hàng năm một nguồn ngoại tệ lớn (hiện nay khoảng trên 3.4 tỷ USD), tạo ra
nhiều công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao đời sống của

như xuất khẩu.
Xuất phát từ những lý do trên em đã chọn đề tài: “chính sách thương
mại nhằm nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng gạo xuất khẩu Việt
Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
• Chính sách xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam và vấn đề cần điều
chỉnh – tác giả: Trần Tiến Khai.
Nghiên cứu này đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân của những yếu kém
trong chính sách sản xuất và thương mại gạo, đồng thời cũng đưa ra các
giải pháp để điều chỉnh. Tuy nhiên, đề tài này không đi sâu phân tích về
các chính sách cụ thể để nâng cao giá trị gia tăng của lúa gạo xuất khẩu.
2

Về phía sản xuất: nông dân có thu nhập và lợi nhuận thấp trong sản xuất
lúa gạo;
Về phía nhà kinh doanh xuất khẩu lúa gạo: Có hiện tượng doanh nghiệp
độc quyền nhóm; Có tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp
thành viên của VFA và không phải thành viên; giữa nhóm thành viên chủ
yếu chiếm thị phần lớn và các thành viên nhỏ; Doanh nghiệp xuất khẩu
chiếm giữ phần lớn lợi nhuận sinh ra từ chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu;
Về phía tổ chức sản xuất: Cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo bất hợp lý về cả
khía cạnh tổ chức, kinh tế và kỹ thuật; Phân bố cụm ngành cho chuỗi giá
trị lúa gạo không hợp lý.
Chính sách vĩ mô liên quan: Duy trì chính sách ổn định quy mô canh tác
lúa và định hướng xuất khẩu riêng cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
cần được xem xét lại tính hợp lý về sử dụng nguồn lực; Chưa có chính sách
cụ thể về dự trữ lương thực quốc gia gắn kết với ngành hàng lúa gạo ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long; Chính sách điều hành xuất khẩu gạo hiện nay
có lợi cho doanh nghiệp, bất lợi cho nông dân; Và cũng đưa ra một số gợi ý
chính sách như: i) cân nhắc lại việc duy trì cơ chế điều hành xuất khẩu gạo

sản phẩm gạo xuất khẩu của nước ta.
4. Đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách xuất khẩu gạo, giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị lúa gạo
Mục tiêu nghiên cứu
Để tác giả hiểu sâu hơn về thực trạng xuất khẩu gạo, giá trị gia tăng
của lúa gạo xuất khẩu, các chính sách cũng như cơ chế điều hành xuất khẩu
gạo ở nước ta.
4

Rà soát, điều chỉnh và bổ sung những chính sách thương mại hướng về
xuất khẩu cho phù hợp với xu thế của thế giới, nhằm nâng cao cả lượng và
chất cho lúa gạo xuất khẩu của nước ta, từ đó nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Xây dựng thương hiệu cho gạo xuất khẩu của việt nam từ đó nâng
cao giá trị gia tăng hướng tới xuất khẩu bền vững.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Đề tài này tập chung nghiên cứu chủ yếu ở khu vực
ĐBSCL.
Về mặt thời gian: Đề tài này tập chung nghiên cứu tình hình giá trị gia tăng
trong xuất khẩu gạo của Việt nam giai đoạn từ năm 2008 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: dựa trên nguồn tài liệu có sẵn
và những tài liệu ở dạng thô từ nguồn sách báo, internet, các công trình
nghiên cứu trước đó, nguồn Tổng cục thống kê, hiệp hội lương thực Việt
Nam VFA,
Phương pháp xử lý dữ liệu: Số liệu chủ yếu ở dạng bảng biểu, trong
quá trình nghiên cứu tác giả đã tiến hành thống kê phân tích đánh giá, tổng
hợp, so sánh,
6. Kết cấu của luận văn: Gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách thương mại nhằm nâng

Là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và các công cụ mà
Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể KT – XH nhằm giải quyết
vấn đề nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.
Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa
vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà
người ta định ra chính sách.
6

Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách
khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể có chính
sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao
giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi
không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhưng
sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo
nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp
luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa
nhận, được ban hành bởi nhà nước theo một trình tự luật định.
Vậy chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện
nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt
được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao
gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa –
xã hội – môi trường.
Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể
quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực
hiện đường lối ấy.
Các loại chính sách
Của Nhà nước gồm: Chính sách kinh tế, Chính sách đối ngoại, Chính
sách quốc phòng, Chính sách KH & CN, Chính sách giáo dục, Chính sách
dân tộc, Chính sách tôn giáo,…Ví dụ: Chính sách phát triển nông thôn là
tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm tạo cho nông

quá trình xây dựng và phát triển của đất nước, nó có vai trò rất quan trong
việc phát triển ngành, lĩnh vực mà chính sách hướng tới. Chính sách được
xây dựng nhằm mục đích định hướng, điều chỉnh tất cả những ngành những
lĩnh vực trong nền kinh tế cũng như xã hội.
8

Nhà nước là người đề ra chính sách và thực hiện chính sách, theo dõi
và giám sát việc thực thi chính sách, phát hiện những điểm bất cập, những
điểm không hợp lý để có sự điều chỉnh và sửa chữa, bổ sung kịp thời. Môi
trường luôn vận động và thay đổi mà chính sách luôn nằm trong một môi
trường nhất định do vậy đặt ra yêu cầu chính sách luôn cần phải có sự bổ
sung, điều chỉnh cho phù hợp quá trình vận động của môi trường.
Chính sách được xây dựng luôn nhằm vào phục vụ một đối tượng cụ
thể nào đó, ví dụ như: chính sách nông thôn thì luôn phục vụ mục đích vì
sự phát triển của nông thôn. Chính sách được xây dựng trên cơ sở thực
tiễn, nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.
1.1.2. Chính sách kinh tế
1.1.2.1. Khái niệm
Chính sách kinh tế đề cập đến các hành động của chính phủ áp dụng
vào lĩnh vực kinh tế. Chính sách kinh tế thường bị chi phối từ các chính
đảng, nhóm lợi ích có quyền lực trong nước, các cơ quan quốc tế như Quỹ
tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới hay tổ chức thương mại thế giới.
Chính sách kinh tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu phương thức
công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng tác động lên hành vi của chủ thể và
đối tượng nhằm thực hiện những nội dung quản lý kinh tế hướng đến
những mục tiêu đã xác định. Nói cách khác, chính sách kinh tế đó là những
giải pháp mà nhà nước sử dụng để xử lý và giải quyết các nội dung kinh tế
lớn trong quá trình hoạt động và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Trong hoạt động quản lý kinh tế, chính sách kinh tế có những vai trò như sau :
Một là định hướng cho hoạt động kinh tế xã hội của đất nước;

một số chính sách kinh tế khác cũng có tác động tới kinh tế vĩ mô,
như chính sách thương mại (quota, thuế quan) song mục đích chính của
10

chúng không phải là ổn định kinh tế vĩ mô, nên không được coi là chính
sách kinh tế vĩ mô. Chính sách kinh tế vĩ mô còn được gọi là chính sách
quản lý tổng cầu vì nó tác động đến phía cầu của nền kinh tế nó bao gồm
chính sách tài chính và chính sách tiền tệ.
Chính sách tài chính là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công để
tác động tới nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang suy thoái, nhà nước có thể
giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại. Chính sách tài
chính như thế gọi là chính sách tài chính nới lỏng. Ngược lại, khi nền kinh
tế ở pha bùng nổ và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế và
giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá
nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài chính như thế này gọi là chính sách tài
chính thắt chặt.
Chính sách tiền tệ là quá trình kiểm soát lượng cung tiền của nền kinh tế để
đạt được những mục đích như kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái.
Khi cần kích thích kinh tế tăng trưởng, ngân hàng trung ương sẽ làm tăng
lượng cung tiền. Chính sách tiền tệ thế này gọi là nới lỏng tiền tệ. Ngược
lại, khi cần hạ nhiệt cho nền kinh tế, chống lạm phát, ngân hàng trung ương
sẽ làm giảm lượng cung tiền. Chính sách tiền tệ khi đó gọi là thắt chặt tiền
tệ. Chính sách tiền tệ có thể chia làm: chính sách mở rộng và chính sách
thu hẹp. Chính sách mở rộng là tăng cung tiền lên hơn mức bình thường.
Các công cụ của chính sách tiền tệ gồm có 6 công cụ sau:
• Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung
ương đối với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho
Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung
ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông
khả năng thanh toán của họ.


nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ
giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều
nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là
công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ. Cơ quan hữu trách về tiền
tệ sử dụng chính sách tiền tệ nhằm hai mục đích: ổn định kinh tế và can
thiệp tỷ giá hối đoái.
Về ổn định kinh tế vĩ mô, nguyên lý hoạt động chung của chính sách
tiền tệ là cơ quan hữu trách về tiền tệ (ngân hàng trung ương

hay cục tiền
tệ

) sẽ thay đổi lượng cung tiền tệ. Các công cụ để đạt được mục tiêu này
gồm: thay đổi lãi suất chiết khẩu

, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc

, và
các nghiệp vụ thị trường mở

.
Chính sách kinh tế có vai trò chủ yếu sau:
Định hướng cho hoạt động kinh tế xã hội của đát nước, vai trò này bao quát
vĩ mô nhằm hướng tất cả các hoạt động kinh tế theo một mục tiêu đặt sẵn.
Tổ chức xử lý giải quyết các vấn đề kinh tế lớn vai trò này nhằm đưa
các phương pháp các biện pháp thực hiện các chính sách kinh tế xã hội
mang tầm vĩ mô, xử lý các vấn đề kinh tế lớn như: chính sách đầu tư, chính
sách thương mại, chính sách tiền tệ,
Hỗ trợ để phát triển các mục tiêu kinh tế đã xác định:

quy định này:
Chính sách thương nhân là hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp
thích hợp của Nhà nước để hỗ trợ, thúc đẩy và điều chỉnh các hoạt động của
thương nhân đi theo con đường, mục tiêu đã vạch ra của nhà nước.
14

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp khác của
thương nhân thuộc các thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân trong
thương mại; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân thuộc
các thành phần này hợp tác, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp nhà nước
dưới hình thức đại lý hoặc hình thành các doanh nghiệp tư bản nhà nước,
các hình thức sở hữu hỗn hợp khác nhằm phát huy tiềm năng của các thành
phần kinh tế, tạo nội lực cho các doanh nghiệp thương mại Việt Nam phát
triển, mở rộng thương mại hàng hoá và dịch vụ thương mại.
Chính sách thương nhân ở ước ta hiện nay quy định việc đăng ký kinh
doanh được thực hiện tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật; quy định quyền hạn và nghĩa vụ của thương nhân;
quy định quyền hạn và nghĩa vụ của thương nhân nước ngoài hoạt động
thương mại tại Việt Nam, theo đó các thương nhân nước ngoài phải tuân
thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và đồng thời cũng được hưởng
một số ưu đãi và được tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh tại
Việt Nam.
Chính sách thị trường là hệ thống các quy định, công cụ mà nhà nước
sử dụng để hỗ trợ phát triển, điều chỉnh thị trường đi theo một hướng nhất
định nhằm đặt được một mục tiêu đã đề ra.
Đối với thị trường trong nước, chính sách của Nhà nước ta hiện nay là
đảm bảo tập trung nguồn lực để thúc đẩy sản xuất hàng hoá, quy hoạch và
cơ cấu lại để có những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, đảm bảo
hệ thống lưu thông hàng hoá thông suốt giữa các vùng, các địa phương;
đảm bảo cho sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hoá cân đối, tránh

16

Là một bộ phận của chính sách kinh tế - xã hội: Chính sách thương
mại là một bộ phận của chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, có quan
hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác
động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất
nước, quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi nước vào phân
công lao động quốc tế và thương mại quốc tế, giúp khai thác triệt để lợi thế
so sánh của nền kinh tế và phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đạt quy
mô tối ưu với hiệu quả cao nhất.
Tác động đến giao lưu hàng hóa trong nước và xuất khẩu: Chính
sách thương mại tác động lớn đến việc mở rộng giao lưu hàng hoá trong
nước và xuất khẩu, có tầm quan trọng lớn đối với tăng trưởng trong thương
mại, nhất là trong điều kiện thương mại quốc tế chính sách thương mại tạo
ra một động lực quan trọng để phát triển kinh tế.
Là một trong các yếu tố cấu thành của chiến lược phát triển công
nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu:Chính sách thương mại là một trong các
yếu tố cấu thành của chiến lược phát triển công nghiệp và thúc đẩy xuất
khẩu. Cùng với các chính sách liên quan khác, chính sách thương mại góp
phần tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, nâng cấp cơ sở hạ tầng, hoàn thiện
hệ thống tài chính, đào tạo và nâng cao trình độ của lực lượng lao động,
khuyến khích việc tiếp nhận công nghệ mới và thúc đẩy hoàn thiện môi
trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử.
17

Góp phần vào công cuộc hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất
nước: Chính sách thương mại góp phần vào công cuộc hiện đại hoá và
công nghiệp hoá đất nước. Trong quá trình xây dựng chính sách và định
hướng phát triển thương mại, những chính sách ưu tiên nhập khẩu công
nghệ mới, công nghệ hiện đại, sản xuất hướng về xuất khẩu, nâng cao khả

đi giá trị của hàng hóa trung gian.
Như vậy, giá trị gia tăng được hiểu là phần giá trị chênh lệch giữa
giá trị hàng hóa bán ra và giá trị của những thứ dùng để làm ra hàng hóa
đó.
Giá trị gia tăng là mức đo độ thịnh vượng được tạo ra trong chuỗi giá trị.
Để tính được giá trị gia tăng trong một chuỗi giá trị, chúng ta tính như sau:
[Giá trị gia tăng]=[tổng giá bán sản phẩm]-[giá trị hàng hóa trung
gian] (ví dụ chi phí đầu vào: mua nguyên vật liệu, dịch vụ v.v.).
Giá trị gia tăng được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá
trị, các khâu này có mối liên hệ mật thiết nhau, thúc đẩy nhau. Hàng hóa
trung gian, đầu vào và dịch vụ vận hành được cung cấp bởi các nhà cung
cấp mà họ không phải là tác nhân của khâu.
Giá trị gia tăng mô tả những gì xảy ra khi bạn có một sản phẩm cơ bản
và nâng cao giá trị của sản phẩm đó bằng cách thêm các tính năng bổ sung
trong quá trình sản xuất, hoặc dính bám vào các sản phẩm bổ sung / hoặc
dịch vụ. Vì vậy, bạn có thể chọn một hạt hạt lúa nguyên liệu và gia tăng giá
trị bằng cách xay xát nó và một lần nữa gia tăng giá trị bằng cách đánh
bóng nó, hoặc chỉ đơn giản là đóng gói nó đã sẵn sàng để bán nó.
1.2.1.2. Chuỗi giá trị
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì chuỗi giá trị là
một khái niệm dùng trong quản trị kinh doanh và được sử dụng đầu tiên
bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn sách best-seller. Trong tài
liệu này chuỗi giá trị được định nghĩa là: “Tổng thể các hoạt động
liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.
Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để
19

tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ
sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định. Giá trị tạo
ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi”.

Phân loại
Làm sạch
Xay xát
Đóng gói
Bán sỉ
Bán lẻ
Tác nhân
Các nhà
cung cấp
đầu tư
đầu vào
Nông
dân,Tổ
HT, HTX
Người thu
gom
Nhà sơ chế Người bán
sỉ, người
bán lẻ
20
Tron
g
nước
Sản xuất Thu gom
Sơ chế Thương mại Đầu vào Tiêu dùng
Xuất
khẩu

Trích đoạn Nhóm chính sách thương mại liên quan đến sản xuất lúa Nhóm chính sách thương mại liên quan đến thu hoạch, thu gom, bảo quản và chế biến gạo xuất khẩu Nhóm chính sách thương mại liên quan đến xuất khẩu gạo Kết luận thực trạng CHƯƠNG 3: MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI NHẰM NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CHO GẠO XUẤT KHẨU VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status