TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Theo xu thế chung của đất nước, trong những năm gần đây tỉnh Thanh
Hóa đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế, đặc biệt là ngành công
nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Những
năm qua, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đẩy
mạnh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần gia tăng đáng kể lượng hàng
xuất khẩu, thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chưa đạt được kết quả
như mong muốn: kim ngạch xuất khẩu còn thấp, hiệu quả chưa cao, sản xuất còn
manh mún… Vì thế, việc làm thế nào để xây dựng chính sách thương mại đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu hiện đang là câu hỏi lớn đang đặt ra cho các cấp lãnh đạo
tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Trước yêu cầu bức thiết đó của tỉnh, tôi lựa chọn đề tài:
"Chính sách thương mại đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành: Quản lý kinh tế.
Luận văn được kết cấu thành 3 chương rõ ràng từ lý luận đến thực tế tác
động của chính sách thương mại đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Sau đó là hệ thống các giải pháp, đề xuất kiến nghị tới Chính quyền tỉnh, các
cơ quan Nhà Nước dựa trên cơ sở những thành công và hạn chế mà chính
sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đang có.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Lê Bá Đạt
ii
LỜI CẢM ƠN
Reference source not found
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCMN : Thủ công mỹ nghệ
vi
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài luận văn
Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động thương mại
quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Đối với mỗi quốc gia, xuất khẩu đóng vai
trò vô cùng quan trọng tạo nên sự tăng trưởng cho nền kinh tế, góp phần nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân mỗi nước. Vì vậy, chính sách
đẩy mạnh xuất khẩu ra đời nhằm định hướng, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động
xuất khẩu nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước.
Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hướng tới định hình cấu trúc các ngành
hàng phục vụ xuất khẩu, sử dụng các nguồn lực từ ngân sách Nhà nước và huy
động từ các thành viên trong nền kinh tế để tiến hành khuyến khích, hỗ trợ hoạt
động sản xuất và xuất khẩu những ngành hàng có lợi thế so sánh, phù hợp với
đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời chính sách đẩy mạnh xuất
khẩu cũng phải tính đến đặc điểm của các địa phương, tận dụng được ưu thế của
các vùng, miền để phát triển nền sản xuất phục vụ xuất khẩu thực sự bền vững.
Việt Nam là nước có nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên lao động chủ yếu
vẫn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, có nhiều thời gian nhàn
dỗi, năng suất lao động chưa cao, thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Do đó
rất cần Nhà nước có chính sách kinh tế phù hợp nhằm tận dụng những nguồn lực
trên để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống cho người dân. Việc lựa
chọn phát triển ngành thủ công mỹ nghệ (TCMN) để phục vụ nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu được coi là một lựa chọn đúng đắn.
Trong nội dung các văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X đều dành những ưu
tiên cho phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, theo đó Chính phủ đưa ra các
quyết định về quy hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế - xã hội và các quyết
động thương mại, xuất khẩu nói chung, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng
từ nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau đã được công bố:
- Nguyễn Xuân Thiện: "Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước về thương mại
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2000 : Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử cùng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, Luận văn đã
2
nghiên cứu hệ thống lý luận về vai trò quản lý của nhà nước về thương mại ; thực
trạng quản lý của nhà nước về hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa,
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý của Nhà nước về
hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh.
- Vũ Thị Hà: "Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng
bằng sông Hồng - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2002 : Dựa trên phương pháp luận duy vật
lịch sử, duy vật biện chứng và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như
phỏng vấn điều tra số liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, luận văn đã phân tích thực
trạng hoạt động các làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng, từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm khôi phục và phát triển các làng nghề ở nông thôn vùng đồng
bằng sông Hồng.
- Trần Lê Đoài: "Những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2010", Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, năm 2006 : Với phương pháp luận duy
vật biện chứng cùng các phương pháp nghiên cứu như phỏng vấn điều tra, thống kê,
so sánh, phân tích – tổng hợp, Luận văn đã đưa ra hệ thống lý luận về đẩy mạnh
xuất khẩu hàng TCMN ; phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng TCMN trên
địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất
khẩu hàng TCMN trên địa bàn tỉnh Nam Định cho giai đoạn 2006 – 2010.
- Bộ Thương mại: "Đề án phát triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đến
2010", năm 2006 : Từ việc phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN
của Việt Nam còn nhiều hạn chế, đề án đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt
Kể từ khi gia nhập WTO, tỉnh đứng trước rất nhiều thay đổi, có rất nhiều
cơ hội mới như cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng, đầu tư nước ngoài ra tăng, tiếp
cận khoa học công nghệ tiên tiến… tuy nhiên kèm theo những cơ hội luôn là
những thách thức như sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, một số thị trường bị thu
hẹp do có nhiều đối thủ lớn xuất hiện, các hành động tranh chấp trong thương
mại quốc tế gia tăng…Trước những cơ hội và thách thức đó, tỉnh Thanh Hóa đã
ra một loạt các quyết định về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của
4
tỉnh đến năm 2020, xây dựng chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 –
2020, định hướng 2030, xây dựng chương trình phát triển xuất khẩu của tỉnh…
Tuy nhiên các quyết định này chỉ liên quan đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa
nói chung, quyết định nhằm phát triển sản xuất và xuất khẩu đối với hàng
TCMN còn khá hạn chế, chính vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu chính sách thương
mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Thanh Hóa. Việc nghiên
cứu liên quan đến những vấn đề đổi mới để phù hợp với chính sách của tỉnh,
chính vì vậy đề tài của tôi ở đây là mới mẻ không bị trùng lắp.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu :
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách đẩy mạnh
xuất khẩu hàng hóa, luận văn hướng đến những mục đích cụ thể sau :
Hệ thống hóa lý thuyết về chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Phân tích, đánh giá thực trạng về chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng
TCMN của tỉnh Thanh Hóa
Hoàn thiện chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh
Thanh Hóa
*Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các công tác hoạch định và tổ chức thực thi chính
sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
*Phạm vi nghiên cứu:
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015, tầm nhìn
đến năm 2020
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH CẤP TỈNH ĐỐI VỚI
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG TCMN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH CẤP TỈNH ĐỐI VỚI
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG TCMN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1.1. Bản chất của chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
1.1.1.1. Các khái niệm
- Xuất khẩu:
Xuất khẩu là việc một nước mang hàng hóa hoặc dịch vụ của mình bán
ra thị trường ngoài nước trên cơ sở dùng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán.
Trong quan hệ ngoại thương của các nước, xuất khẩu được chia làm hai loại:
+ Xuất khẩu hữu hình: là xuất khẩu hàng hóa
+ Xuất khẩu vô hình: là xuất khẩu dịch vụ
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực từ hàng tiêu dùng cho đến
hàng sản xuất công nghiệp, từ máy mọc thiết bị cho tới các công nghệ kỹ thuật
cao. Xuất khẩu không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp tham gia quá trình
xuất khẩu mà còn mang lại nhiều lợi ích cho cả quốc gia.Tuy nhiên khác với
hoạt động thương mại trong nước, xuất khẩu thuộc phạm vi của thương mại quốc
tế, do vậy nó chịu sự chi phối và điều khiển của các quy luật vượt ra khỏi phạm
vi biên giới của một quốc gia. Do đó hoạt động xuất khẩu thường phức tạp hơn
nhiều so với các hoạt động thương mại trong nước. Do đó Nhà nước cần có
những chính sách kinh tế phù hợp nhằm định hướng và hỗ trợ cho hoạt động
xuất nhập khẩu.
- Chính sách:
Có nhiều quan niệm về phạm trù “chính sách’’ .Theo từ điển giải thích
thuật ngữ hành chính: “ chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể để đạt được
mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế”.
Đây là một trong những chính sách có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự
phát triển của đất nước, góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng nguồn thu
8
ngoại tệ, cải thiện việc làm, gia tăng vị thế của đất nước và mang lại nhiều lợi ích
khác. Với hàng hóa nói chung và hàng TCMN nói riêng thì việc đẩy mạnh xuất
khẩu có ý nghĩa vô cùng lớn.
1.1.1.2 Phân loại chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
* Theo phạm vi, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa gồm:
- Chính sách của nhà nước Trung ương
- Chính sách của nhà nước địa phương
* Theo hướng tác động, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa gồm:
- Chính sách mặt hàng
- Chính sách đối với thương nhân
- Chính sách thị trường
* Theo nội dung hỗ trợ, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu bao gồm:
- Chính sách sản xuất
- Chính sách giá cả
- Chính sách phân phối
- Chính sách xúc tiến thương mại
Theo các cách phân loại khác nhau sẽ có những chính sách khác nhau
nhưng ở đây luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vào 3 chính sách chủ yếu theo
hướng tác động là chính sách mặt hàng, chính sách đối với thương nhân, chính
sách thị trường
1.1.1.3. Đặc điểm chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Là một chính sách kinh tế quan trọng, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách là các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, bao gồm các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Chính
sách sẽ bao gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau, mang tính hệ thống, ổn
định và phù hợp với quan điểm phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đối
hoạt động sản xuất trong nước. Do đó rất cần có sự can thiệp hỗ trợ của nhà
nước cho các chủ thể tham gia. Với chính sách đẩy mạnh xuất khẩu, nhà nước
đã tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển hoạt động sản xuất trong nước, hỗ
10
trợ các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, góp phần tạo đà cho sự phát triển nền sản
xuất của đất nước.
1.1.2. Vai trò của chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN ở nước ta hiện
nay
Là một trong những công cụ quản lý quan trọng nhất của Nhà Nước,
chính sách đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò hết sức to lớn, thể hiện ở những chức
năng cơ bản sau:
1.1.2.1. Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu giúp định hướng và tạo khuôn khổ cho
hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Chính sách là một công cụ quan trọng góp phần định hướng hành vi của
các chủ thể kinh tế - xã hội để cùng đạt được những mục tiêu chung của đất
nước. Với chính sách đẩy mạnh xuất khẩu, các chủ thể kinh tế - xã hội có được
định hướng cho hoạt động xuất khẩu trong việc huy động, phân bổ các nguồn lực
hiệu quả, định hướng thị trường đầu ra cho các nhà sản xuất, đồng thời nhắc nhở
họ những quyết định nào là có thể và quyết định nào là không thể trong điều kiện
cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường quốc tế. Bằng cách đó, chính sách
đẩy mạnh xuất khẩu hướng suy nghĩ và hành động của các thành viên liên quan
vào việc thực hiện các mục tiêu chung.
1.1.2.2. Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu giúp điều tiết hoạt động xuất khẩu hàng
hóa theo các mục tiêu đề ra
Vì bất kỳ chính sách kinh tế nào được Nhà Nước ban ra cũng đểu nhằm
giải quyết các vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế, điều tiết những sự
mất cân đối và hành vi không phù hợp. Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu giúp
điều tiết hoạt động xuất khẩu hàng hóa theo các mục tiêu đề ra, tránh tình trạng
sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phi tập trung, cạnh tranh không lành mạnh, mang lại
lợi ích lớn nhất cho các chủ thể trong nền kinh tế và cho đất nước.
đồng thời tăng cường vị thế của quốc gia trên trường quốc tế
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đang là xu thế vận động tất yếu của nền
kinh tế thế giới, các nước sẽ không thể phát triển nếu biệt lập, tách biệt với xu
thế chung đó mà phải tham gia vào các mối quan hệ kinh tế thông qua sự phân
công lao động quốc tế. Theo đó, mỗi nước sẽ trở thành một mắt xích quan trọng
12
trong toàn bộ hệ thống, các nền kinh tế sẽ được gắn kết một cách chặt chẽ hơn,
có điều kiện khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia mình giúp nền kinh tế
phát huy hiệu quả, từ đó gia tăng vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
1.2. NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA VIỆC HOẠCH ĐỊNH VÀ TỔ
CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH CẤP TỈNH ĐỐI VỚI ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
1.2.1. Chu trình chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa được xem xét như là một quá
trình gồm nhiều hoạt động liên tục theo thời gian, từ khi phát hiện vấn đề chính
sách cho đến khi vấn đề được giải quyết thông qua các công cụ giải pháp mà
Nhà nước sử dụng để can thiệp vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Với đặc trưng
riêng của một chính sách kinh tế, chu trình chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng
hóa được thực hiện với bước cơ bản như sau:
Sơ đồ 1.1: Chu trình chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Có thể thấy rằng trong chu trình chính sách thì tất cả các giai đoạn đều có
vai trò quan trọng làm nên hiệu quả của chính sách, cũng có thể coi chu trình
chính sách gồm hai giai đoạn lớn là hoạch định chính sách và tổ chức thực thi
chính sách ( bao gồm các giai đoạn tổ chức các hình thái cơ cấu, chỉ đạo thực
hiện và kiểm tra sự thực hiện). Cụ thể các giai đoạn được thực hiện như sau:
1.2.1.1. Hoạch định chính sách
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu trình chính sách, bao gồm quá trình xác
định các vấn đề, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm thực hiện các mục
tiêu đề ra. Sản phẩm của quá trình này là một chính sách đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa hợp lý được thể chế hóa, được tồn tại dưới dạng văn bản đã được cấp
nước và hệ thống luật pháp, thông lệ quốc tế liên quan, khả năng về ngân sách và
các nguồn tài chính ngoài ngân sách được huy động từ xã hội, cơ sở vật chất,
nguồn nhân lực và thời gian Để xác định các công cụ của chính sách đẩy mạnh
xuất khẩu có thể dựa trên các mô hình lý thuyết và các quy luật thị trường như
quy luật tự do cạnh tranh, quy luật cung cầu, đồng thời dựa trên những kinh
nghiệm trong nước và nước ngoài về thương mại quốc tế.
- Đánh giá lựa chọn phương án chính sách tối ưu và thông qua quyết định
chính sách: đây là quá trình xem xét đánh giá các phương án để tìm ra phương án
hiệu quả nhất. Việc đánh giá này cần cân nhắc dựa trên các nhân tố như chi phí
14
cho thực hiện phương án, kết quả hay lợi ích sẽ thu được từ các phương án, lợi
ích ròng xã hội, vấn đề thời gian, tính thực tế và các nguồn lực dùng để thực
hiện từ đó lựa chọn phương án tối ưu nhất để lựa chọn làm chính sách đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hóa.
1.2.1.2. Tổ chức các hình thái cơ cấu để thực thi chính sách
Sau khi có quyết định chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thì bước tiếp theo là
tổ chức các hình thái cơ cấu để thực thi chính sách bao gồm tổ chức bộ máy để
thực thi chính sách, tổ chức các nguồn lực và thời gian để thực thi chính sách
đồng thời ban hành các văn bản pháp quy để cụ thể hóa chính sách đến từng địa
phương và tập huấn cho cán bộ và những đối tượng cơ bản của chính sách như
các doanh nghiệp và các cá nhân liên quan.
1.2.1.3. Chỉ đạo thực hiện
Đây là quá trình triên khai chính sách, đưa chính sách vào thực tiễn để
chính sách phát huy hiệu quả. Việc chỉ đạo thực hiện chính sách đẩy mạnh xuất
khẩu có thể thông qua việc thực hiện các chương trình và dự án đào tạo cho các
doanh nghiệp liên quan, phối hợp với các ngành, địa phương và các tổ chức
đồng thời huy động sự vào cuộc của các phương tiện thông tin và truyền thông
để đưa chính sách đến với từng thành viên trong nền kinh tế, đặc biệt là các nhà
sản xuất hàng xuất khẩu.
1.2.1.4. Kiểm tra sự thực hiện chính sách
tư sản xuất hàng xuất khẩu. Dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật ở trên, các
cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh sẽ tiến hành hoạch định và tổ chức thực thi
chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của địa phương nhằm phát triển
kinh tế của tỉnh.
b. Căn cứ vào điều kiện kinh tế
Quá trình hoạch định chính sách phải dựa trên cơ sở các điều kiện kinh tế
cụ thể, đó là các nguồn lực, tiềm năng, trình độ phát triển của nền kinh tế, mức độ
tăng trưởng kinh tế, cơ cấu nền kinh tế, tình hình lạm phát…Thanh Hóa là tỉnh có
nhiều tiềm năng trong phát triển kinh tế như tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tương
đối ổn định, cơ cấu nền kinh tế đang chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp,
16
nguồn thu ngân sách ổn định qua các năm, nguồn lao động dồi dào. Tỉnh đang có
lợi thế so sánh trong việc phát triển ngành dịch vụ du lịch, có nhiều làng nghề
truyền thống trong đó một số làng nghề sản xuất hàng TCMN có giá trị cao. Ngoài
ra Thanh Hóa có vị trí địa lí khá thuận lợi, là cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ
và Nam Bộ, có đường quốc lộ IA và đường sắt xuyên Việt Bắc Nam.
Tuy nhiên tỉnh cũng có một số khó khăn như thu nhập bình quân đầu người
chưa cao, mức độ chênh lệch về thu nhập giữa các địa phương trong tỉnh còn lớn,
cơ sở hạ tầng còn hạn chế, tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây có xu
hướng chững lại do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế nói chung…
. Từ những căn cứ về kinh tế ở trên, tỉnh xem xét trong quá trình hoạch
định và thực thi sẽ dành nhiều ưu đãi cho một số lĩnh vực nhằm khuyến khích
hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu như ưu đãi về đầu tư (giảm hoặc miễn) đối
với thuê đất đai, thuế sử dụng đất, tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu
nhập cá nhân, thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị được nhập khẩu để tạo tài
sản cố định…
c. Căn cứ vào đặc điểm xã hội
Các điều kiện về mặt xã hội của đất nước cũng như của từng địa phương
cũng ảnh hưởng tới quá trình hoạch định chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
yếu tố môi trường để có thể phát triển lâu dài và bền vững.
e. Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên
Đặc điểm tự nhiên là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn
chính sách và hiệu quả chính sách. Các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên khí hậu
và sinh thái, đặc biệt là các nhân tố bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch
bệnh…Những thay đổi bất lợi từ phía môi trường tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu quả của chính sách, đôi khi có thể gây ra những tổn thất nặng nề ảnh
hưởng đến đời sống dân dư trong tỉnh. Là tỉnh chịu điều kiện khí hậu khắc nghiệt
như thiên tai lũ lụt, mưa đá thường xuyên xảy ra, đồng thời có gió Lào làm nền
nhiệt liên tục gia tăng trong những ngày hè, lại gần biển nên thường phải chịu
hậu quả nặng nề của những trận bão lớn… tất cả những điều đó cần phải được
tính đến trong chính sách kinh tế nói chung và chính sách đẩy mạnh xuất khẩu
nói riêng của tỉnh để có thể có được các phương án dự phòng rủi ro thích hợp.
18
1.2.2.2. Nguyên tắc hoạch định chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
Việc hoạch định chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa phải tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản sau:
- Thứ nhất, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa phải phù hợp với
những nguyên tắc quốc tế mà nước ta đã thực hiện.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, các nguyên tắc quốc tế cơ bản bao gồm:
+ Tối huệ quốc: theo nguyên tắc này, các bên tham gia trong quan hệ
buôn bán quốc tế sẽ giành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn
những ưu đãi mà mình đã, đang và sẽ dành cho bất kỳ nước thứ ba nào.
+ Ngang bằng dân tộc: đây là nguyên tắc mà một nước dành cho hàng
hóa, thương nhân và pháp nhân nước ngoài trên lãnh thổ nước mình những ưu
đãi ngang bằng với hàng hóa, tư nhân và pháp nhân nước mình.
+ Có đi có lại: là nguyên tắc yêu cầu các bên khi tham gia thương mại
quốc tế phải có những nhượng bộ tương xứng nhất định.
- Thứ hai, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu phải được đảm bảo theo yêu
cầu, chủ trương của Đảng và Nhà nước.