Luận văn: Một số biện pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty XNK BAROTEX - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Một số biện pháp phát triển thị trường
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại
Công ty XNK BAROTEX

triển thị trường xuất khẩu đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu. Chính vì
vậy em đã chọn đề tài: "Một số biện pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ tại Công ty XNK BAROTEX" cho luận văn tốt nghiệp này.

Nội dung luận văn tốt nghiệp của em gồm 3 chương:
Chương I- Công tác phát triển thị trường đối với doanh nghiệp kinh doanh
xuất khẩu.
Chương II- Thực trạng hoạt động xuất khẩu và công tác phát triển thị
trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty XNK
BAROTEX.

Chương III- Phương hướng và biện pháp phát triển thị trường hàng thủ công
thủ công mỹ nghệ của Công ty XNK BAROTEX.
Chương I: Công tác phát triển thị trường đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

I- Tổng quan về thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá.
1. Tầm quan trọng của xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, đem lại hiệu quả lớn
cho nền kinh tế của mỗi quốc gia. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu,
xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. Từ năm 1995 trở lại đây
bình quân nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu đáp ứng được đến 90% ngoại tệ cho nhập
khẩu.
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại:
xuất khẩu làm thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng theo hướng cớ lợi nhất. Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta là phù hợp với
xu hướng phát triển của thời đại.
Xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành liên quan phát triển.

* Căn cứ vào mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với khách hàng, có thị trường
xuất khẩu trực tiếp và thị trường xuất khẩu gián tiếp.
- Thị trường xuất khẩu trực tiếp là thị trường mà doanh nghiệp trực tiếp tiến
hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu vào thị trường mà không qua trung gian xuất
nhập khẩu.
- Thị trường xuất khẩu gián tiếp xuất hiện khi doanh nghiệp không có quyền
hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp mà phải thông qua các trung gian như
đại lý xuất khẩu, hãng xuất khẩu trong nước hay nước ngoài
* Căn cứ vào thời gian thiết lập mối quan hệ với khách hàng có thị trường
truyền thống và thị trường xuất khẩu mới.
- Thị trường xuất khẩu truyền thống là thị trường mà doanh nghiệp đã có quan
hệ làm ăn trong một thời gian lâu dài và khá ổn dịnh.
- Thị trường mới là thị trường doanh nghiệp mới thiết lập mối quan hệ làm ăn
và có nhiều tiềm năng phát triển.

* Căn cứ vào mặt hàng xuất khẩu có: thị trường xuất khẩu hàng may mặc, thị
trường xuất khẩu hàng nông sản, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ,
Việc phân chia theo mặt hàng chỉ có ý nghĩa trong phân tích kinh tế và các
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nhiều mặt hàng.
* Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu của chính phủ: thị trường hạn ngạch và
thị trường phi hạn ngạch. Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng, chất
lượng hàng hoá xuất nhập khẩu với mục đích bảo vệ sản xuất trong nước. Đối với thị
trường có hạn ngạch doanh nghiệp cần phải xin hoặc mua hạn ngạch, xuất hàng theo
hạn ngạch được cấp. Đối với thị trường phi hạn ngạch doanh nghiệp không bị giới
hạn về số lượng hàng xuất, doanh nghiệp có thể xuất khẩu hàng hoá với số lượng tuỳ
theo khả năng của mình và nhu cầu của người mua.
* Căn cứ vào mức độ quan trọng của thị trường: thị trường xuất khẩu chính và
thị trường xuất khẩu phụ.
Nếu trong kinh doanh xuất khẩu doanh nghiệp chỉ dựa chủ yếu vào một thị
trường thì rủi ro sẽ cao hơn là xuất khẩu sang nhiều thị trường. Do đó, trong quá trình

Với những nước đang phát triển các nhà cung ứng của các nước này chủ yếu
cung cấp những sản phẩm chứa nhiều hàm lượng lao động, tài nguyên.
ở Việt Nam hầu hết các nhà cung ứng là các doanh nghiệp mới kinh doanh xuất
nhập khẩu chưa có uy tín trên thị trường quốc tế nên chịu sức ép rất lớn từ các nhà
cung ứng nước ngoài đặc biệt là Trung Quốc và các nước Đông Nam á do phần lớn
các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trùng với các nước này và sức cạnh tranh của
chúng ta yếu hơn. Vì vậy nâng cao sức cạnh tranh cho các nhà xuất khẩu Việt Nam là
mục tiêu hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới.
* Cầu về một mặt hàng là tập hợp những nhu cầu, mong muốn của khách hàng
về hàng hoá đó mà các khách hàng này có khả năng và sẵn sàng trả tiền để thoả mãn
các nhu cầu đó. Cầu về hàng hoá trên thị trường rất lớn và có thể được phân chia
thành các loại sau: Cầu của nhà sản xuất, cầu của các nhà kinh doanh thương mại và
cầu của người tiêu dùng cuối cùng.
Do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, rất nhiều sản phẩm có khả năng
thay thế nhau ra đời, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến vòng đời sản phẩm và nhu
cầu về mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Ngoài ra nhu cầu về một loại sản

phẩm trên các thị trường khác nhau cũng rất khác nhau do ảnh hưởng của các yêú tố
văn hoá, xã hội, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển, ở mỗi quốc gia là khác nhau.
* Giá cả: Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với mỗi loại hàng hoá nhất định
trên thị trường, giá đó phải là giá của những giao dịch thông thường không kèm theo
bất kỳ một điều kiện thương mại đặc biệt và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển
đổi. Trong thực tế, giá cả quốc tế của mỗi loại hàng hoá biến động rất phức tạp và
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau như:
+ Nhân tố chu kỳ: đó là sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế.
+ Khách hàng: tác động lên giá cả bởi khả năng mua của họ, sự bằng lòng mua,
vị trí của sản phẩm trong lối sống của họ, giá cả của sản phẩm thay thế.
+ Cạnh tranh: bao gồm cạnh tranh giữa người bán với người bán, người mua
với người mua và người bán với người mua. Cạnh tranh thường làm cho giá cả hàng
hoá rẻ hơn. Thông thường cạnh tranh tác động lên giá cả dưới góc độ số lượng các

trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá và dịch vụ . Vì vậy
khi nhìn vào thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp ta có thể thấy tình hình phát
triển, mức độ tham gia vào thị trường quốc tế của doanh nghiệp cũng như quy mô sản
xuất kinh doanh và khả năng phát triển trong thời gian tới.
* Thị trường xuất khẩu trực tiếp điều tiết, hướng dẫn việc sản xuất kinh doanh
các mặt hàng xuất khẩu.
Để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải giải quyết
tốt mục tiêu: thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng để từ đó tăng khả năng tiêu
thụ sản phẩm. Việc quyết định cung ứng sản phẩm gì, bằng phương thức nào, cho ai
là do nhu cầu của thị trường quyết định. Chính sách khách hàng trên thị trường xuất
khẩu sẽ định hướng cho chính sách về sản phẩm xuất khẩu, chính sách giá cả, những
hoạt động xúc tiến, Từ đó doanh nghiệp sẽ phải xây dựng kế hoạch sản xuất, thu
mua hàng của mình cho phù hợp và đề ra các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, nâng
cao hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp. Như vậy thị trường quyết định đến từng
quyết định kinh doanh của doanh nghiệp và các doanh nghiệp muốn thành công đều
phải thích ứng tốt với thị trường.
* Thị trường xuất khẩu là nơi kiểm tra đánh giá các chương trình kế hoạch
quyết định kinh doanh của doanh nghiệp: thông qua tình hình tiêu thụ sản phẩm, khả
năng cạnh tranh và vị trí của sản phẩm trên thị trường xuất khẩu doanh nghiệp sẽ

đánh giá được mức độ thành công của các chiến lược kinh doanh từ đó đưa ra những
phương hướng phát triển cho tương lai.
II- Nội dung của công tác phát triển thị trường xuất khẩu đối với doanh
nghiệp xuất nhập khẩu.
1. Sự cần thiết của việc phát triển thị trường xuất khẩu đối với doanh nghiệp
xuất nhập khẩu.
Nền kinh tế thị trường hết sức năng động và khốc liệt mà ở đó các doanh nghiệp
bị cuốn vào vòng quay của sự phát triển không ngừng. Doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu trên thị trường theo đuổi rất nhiều mục tiêu tuỳ theo từng thời
điểm và vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Song mục tiêu cơ bản

- Doanh nghiệp có đủ tiềm lực để mở rộng thêm thị trường mới, tăng doanh thu,
lợi nhuận.
Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể hiểu theo 3 cách:
- Theo tiêu thức địa lý: Quy mô thị trường của doanh nghiệp được mở rộng.
- Theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp thường đưa ra những sản phẩm mới
có tính năng phù hợp với khách hàng ở thị trường mới thoả mãn được tốt nhất nhu
cầu của họ. Các doanh nghiệp khi mở rộng thị trường thường áp dụng chính sách đa
dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng.
- Theo tiêu thức khách hàng: Doanh nghiệp kích thích, khuyến khích các nhóm
khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm của mình, đó có thể là khách hàng của đối thủ
cạnh tranh, có thể là khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.
Muốn thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần phải nhanh nhạy trong việc
nắm bắt nhu cầu của khách hàng và hành vi mua hàng của họ, điểm, điểm yếu của
đối thủ cạnh tranh để có được chiến lược Công ty hiệu quả nhất.
b. Phát triển thị trường theo chiều sâu.
Phát triển thị trường theo chiêu sâu là doanh nghiệp cố gắng tăng khả năng tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại. Phát triển thị trường theo
chiều sâu thường được các doanh nghiệp sử dụng khi:
+ Thị trường hiện tại có nhiều tiềm năng để phát triển mà doanh nghiệp chưa
khai thác hết.

+ Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại là khá lớn.
+ Sản phẩm của doanh nghiệp có uy tín trên thị trường.
Phát triển thị trường theo chiều sâu cũng được hiểu theo 3 cách:
- Theo tiêu thức địa lý: Doanh nghiệp cố gắng bán thêm hàng hoá vào thị
trường hiện tại bằng việc sử dụng hữu hiệu các công cụ marketing chiêu dụ khách
hàng, đánh bật đối thủ cạnh tranh và có thể tiến tới độc chiếm thị trường.
- Theo tiêu thức khách hàng: là việc doanh nghiệp nỗ lực bán thêm sản phẩm
của mình vào nhóm khách hàng của doanh nghiệp, biến nhóm khách hàng đó trở
thành khách hàng thường xuyên và trung thành của mình.

Thực hiện
chiến lư
ợc
phát tri
ển
th
ị tr
ư
ờng
Kiểm tra
và đánh
giá kết
qu
ả việc

+ Môi trường vĩ mô: chính sách xuất nhập khẩu của chính phủ trong và ngoài
nước, mức thuế, hạn ngạch,
+ Văn hoá phong tục tập quán và thói quen tiêu dùng của khách hàng.
+ Ngôn ngữ, phong cách, lối sống con người,
Nghiên cứu thị trường tức là nghiên cứu các yếu tố trên để biết rõ thuận lợi và
khó khăn cho việc tiếp cận.
Quá trình nghiên cứu thị trường được tiến hành theo trình tự sau:
+ Phát hiện vấn đề và xác định mục đích nghiên cứu.
+ Thu thập thông tin: Thu thập tại bàn và điều tra thị trường: thu thập tại bàn là
hình thức thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn như tạp chí, Internet
Điều tra thị trường tức là doanh nghiệp đi khảo sát thị trường, dự hội chợ, chào
hàng, bán hàng trực tiếp,
+ Phân tích đánh giá thị trường: Đó chính là việc dựa vào thông tin thị trường
thu thập được để xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đối với kế hoạch, mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp. Sự phân tích đánh giá này phải dựa trên cơ sở nguồn

thủ cạnh tranh, chiến lược phân phối sản phẩm, chất lượng giá cả, chiến lược quảng
cáo khuyến trương sản phẩm, chiến lược phát triển vốn, nguồn nhân lực.
c. Thực hiện chiến lược phát triển thị trường.
Trên thực tế nhiều doanh nghiệp thường chỉ chú trọng đề ra các chiến lược kinh
doanh mà ít quan tâm tổ chức thực hiện chiến lược. Việc thực hiện chiến lược khẳng
định sự đúng đắn của việc lập chiến lược và đó là khâu thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp. Hoạt động thực hiện chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp bao
gồm các bước sau:
+ Xem xét lại mục tiêu, thực trạng thị trường, nguồn lực của doanh nghiệp và
chiến lược phát triển thị trường. Từ đó doanh nghiệp có thể có những điều chỉnh cho
phù hợp với thực tế.
+ Sau khi xác định sự đúng đắn của mục tiêu chiến lược doanh nghiệp thực hiện
phân phối nguồn lực hợp lý cho từng chiến lược bộ phận như chiến lược phát triển
sản phẩm, chiến lược khuyếch trương sản phẩm, chiến lược phát triển kênh phân
phối Việc phân phối nguồn lực hiệu quả là cơ sở để thực hiện mục tiêu chiến lược
một cách hiệu quả nhất.
+ Sử dụng các chính sách, công cụ để thực hiện chiến lược phát triển thị trường,
thông thường doanh nghiệp sử dụng chính sách marketing hỗn hợp bao gồm chính
sách sản phẩm, giá cả, phân phối và khuyếch trương sản phẩm.

Tóm lại, thực hiện chiến lược phát triển thị trường trước hết doanh nghiệp phải
huy động được nguồn lực doanh nghiệp bao gồm vốn và nguồn nhân lực, thứ hai là
sử dụng hài hoà các chính sách marketing - mix.
d. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển thị trường.
Sau khi thực hiện chiến lược doanh nghiệp cần kiểm tra lại hệ thống mục tiêu
chiến lược để có những điều chỉnh thích hợp nếu cần thiết. Ngoài ra cần có tiêu
chuẩn đánh giá kết quả phát triển thị trường như qui mô và sự tăng trưởng, sức hấp
dẫn của thị trường từ sức ép hay đe doạ khác nhau, vị trí của sản phẩm trên thị
trường
Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá là xác định những kết quả thực hiện được

cầu thị trường mới

Công ty không nên chỉ sử dụng một biện pháp phát triển thị trường trên mà có
thể kết hợp hai hay nhiều biện pháp.
* Sử dụng công cụ marketing - mix.
+ Chiến lược với sản phẩm.
Khi đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài các doanh nghiệp nên sử dụng chính
sách thích nghi sản phẩm. Đó là việc đổi mới sản phẩm để thoả mãn các nhu cầu và
thị hiếu của thị trường nước ngoài. Trên thực tế một sản phẩm được coi là mới nếu
như sản phẩm đó chưa được sản xuất hoặc giới thiệu tại thị trường nước ngoài.
Các doanh nghiệp bắt buộc phải liên tục đổi mới sản phẩm của mình vì hầu như
tất cả các sản phẩm đều có một chu kỳ sống nhất định và đôi khi vì sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế đã dẫn đến thay đổi nhu
cầu ở thị trường nước ngoài. Quá trình đổi mới sản phẩm diễn ra khác nhau ở các
doanh nghiệp khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm và thị trường mục
tiêu của mỗi doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có chính sách về sản phẩm mới cho
mỗi thị trường về chất lượng, chủng loại, bao gói, nhãn hiệu, dịch vụ chính sách về
sản phẩm mới có thể chia theo 3 cách:
+ Sản phẩm cũ nhưng lần đầu tiên đưa đến thị trường mới này
+ Sản phẩm được cải tiến về mẫu mã, nhãn hiệu, chất lượng, dịch vụ.
+ Sản phẩm đựơc chế tạo hoàn toàn mới.
Đây là một trong các cách sử dụng để phát triển thị trường bằng cách chiếm
lĩnh khách hàng nhiều hơn ở thị trường hiện tại hoặc thị trường mới.
+ Chiến lược giá cả: Nguyên lý của chính sách giá ở thị trường xuất khẩu và thị
trường nội địa là không khác nhau tức là phải làm cho khách hàng thấy được họ đã
nhận được giá trị tương ứng với số tiền mà họ bỏ ra và đồng thời doanh nghiệp phải
thu được lợi nhuận ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, chính sách giá trên thị trường
xuất khẩu phức tạp hơn nhiều vì bị chi phối bởi nhiều yếu tố hơn như chi phí, thị
trường , mức độ cạnh tranh, sự kiểm soát và quản lý ở nước ngoài, tỷ giá hối đoái,


là một công cụ chiếm lĩnh thị trường rất hữu hiệu của các doanh nghiệp hiện nay.

* Đối với nguồn lực của doanh nghiệp.
Để phát triển thị trường thì các kế hoạch, chiến lược muốn thực hiện được phải
có nguồn lực của doanh nghiệp. Vì vậy việc ổn định và phát triển nguồn vốn, nguồn
nhân lực, trình độ quản lý, kinh nghiệm kinh doanh sẽ đảm bảo cho việc phát triển thị
trường đạt hiệu quả. Để sử dụng hiệu quả các nguồn lực đó doanh nghiệp cần có kế
hoạch phân bổ chúng một cách hợp lý cho từng mục tiêu chiến lược.
2. Biện pháp đối với khách hàng.
Đặc điểm nhu cầu và mong muốn của các khách hàng có thể rất khác nhau tại
những thị trường khác nhau.
* Đối với phát triển thị trường theo chiều rộng.
Giai đoạn đầu của việc phát triển thị trường theo chiều rộng khách hàng còn ít
và nhu cầu đặt hàng khá nhỏ, mang tính thăm dò là chính. Việc khách hàng mới có
quan hệ lâu dài với doanh nghiệp hay không phụ thuộc rất lớn vào mức độ thoả mãn
với lô hàng đầu. Trong trường hợp này doanh nghiệp cần tạo ra hình ảnh tốt về
doanh nghiệp thông qua hoạt động quảng cáo, khuyếch trương về doanh nghiệp và
sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng biện pháp đa dạng
hoá kinh doanh và đưa các sản phẩm mới để thâm nhập vào thị trường mới này với
các dịch vụ đi kèm.
* Đối với trường hợp phát triển thị trường theo chiều sâu.
Khách hàng mà doanh nghiệp hướng tới để tác động bao gồm các khách hàng
hiện tại, khách hàng của các đối thủ cạnh tranh và các khách hàng chưa sử dụng sản
phẩm đó. Để tăng thị trường của mình doanh nghiệp cần có các biện pháp sau:
+ Doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp như quảng cáo, khuyếch trương
sản phẩm, cung cấp các dịch vụ trước và sau khi bán đối với các khách hàng hiện tại
chưa thấy được lợi ích của sản phẩm hoặc chưa được thoả mãn nhu cầu hoặc có nhu
cầu về sản phẩm đó.
+ Doanh nghiệp có thể sử dụng biện pháp phát triển sản phẩm đối với thị trường
đang có xu hướng bão hoà về sản phẩm hiện tại để tăng khả năng cạnh tranh cho


IV- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển thị trường.
Doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trên thị trường thường chịu tác động
của nhiều yếu tố. Thông thường các yếu tố này được chia ra làm 2 nhóm: - Nhóm
các yếu tố khách quan.
- Nhóm các yếu tố chủ quan.
1. Các yếu tố khách quan.
Các yếu tố khách quan là các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như khách hàng,
các đối thủ cạnh tranh, luật pháp, chính trị các doanh nghiệp không thể điều khiển
chúng theo ý muốn của mình mà chỉ có thể cố gắng thích ứng một cách tốt nhất với
xu hướng vận động của chúng, nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
* Các yếu tố văn hoá xã hội.
Yếu tố văn hoá xã hội là yếu tố mà bất kỳ doanh nghiệp nào khi thâm nhập vào
thị trường nước ngoài đều phải nghiên cứu. Trong đó yếu tố văn hoá đầu tiên cần
quan tâm là văn hoá tiêu dùng của khách hàng vì đây là yếu tố quyết định đến việc
mua hàng và lợi ích khi tiêu dùng hàng hoá của khách hàng. Tại các quốc gia khác
nhau văn hoá tiêu dùng cũng rất khác nhau.
Sau khi nghiên cứu văn hoá tiêu dùng sẽ gợi ý cho doanh nghiệp nên kinh
doanh mặt hàng gì, ở thị trường nào?
Bên cạnh việc nghiên cứu về văn hoá tiêu dùng, doanh nghiệp cũng không thể
bỏ qua quy mô dân số của thị trường, độ tuổi, cơ cấu gia đình, các tổ chức xã hội, thu
nhập của dân cư, các yếu tố này giúp cho doanh nghiệp phân chia thị trường thành
các đoạn và chọn ra những đoạn phù hợp nhất để khai thác và thu lợi nhuận.
* Môi trường chính trị, pháp luật.
Yếu tố chính trị, pháp luật có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp. Môi trường chính trị trong nước và nước ngoài ổn định là điều kiện
thuận lợi để cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Yếu tố luật pháp
cũng chi phối nhiều đến khả năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp. Trong
khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, các nhà doanh nghiệp cần lưu ý đến:
- Các quy định và luật pháp của Việt Nam về hoạt động xuất nhập khẩu như

Các yếu tố cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu.
+ Hệ thống cảng biển, mức độ trang bị, độ sâu của các cảng biển sẽ ảnh hưởng
đến khối lượng của từng chuyến tàu, tốc độ của các phương tiện vận tải sẽ ảnh hưởng
đến tốc độ thực hiện hợp đồng. Hệ thống cảng biển được trang bị hiện đại cho phép

giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá
xuất nhập khẩu.
+ Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đặc biệt là hoạt
động ngân hàng cho phép các nhà kinh doanh thuận lợi hơn trong việc thanh toán, huy
động vốn, bảo đảm lợi ích cho các nhà xuất khẩu bằng các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng như thanh toán theo phương thức L/C.
+ Hệ thống bảo hiểm và kiểm tra chất lượng cho phép hoạt động xuất nhập
khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt mức độ thiệt hại trong
trường hợp rủi ro xảy ra.
2. Các yếu tố chủ quan.
Là các yếu tố thuộc về tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm
soát ở một mức độ nào đó như yếu tố tài chính, con người, tài sản vô hình của doanh
nghiệp, Khả năng phát triển thị trường của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố
sau:
- ý chí, tư tưởng của ban lãnh đạo.
Khả năng kinh doanh ở mỗi thị trường có độ may rủi khác nhau và mỗi nhà
lãnh đạo có thể chấp nhận mức độ rủi ro khác nhau và điều này ảnh hưởng đến quyết
định lựa chọn cơ hội kinh doanh. Những người lãnh đạo có tính tiên phong, ưa đổi
mới, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm thường thích chinh phục những thị trường mới.
- Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Yếu tố này cho thấy sức mạnh của
doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn, khả năng phân phối quản lý có hiệu quả các
nguồn vốn. Thông thường các doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính thì việc tiến
hành các hoạt động kinh doanh sẽ có nhiều thuận lợi hơn, đặc biệt là đối với việc mở
rộng thị trường của doanh nghiệp.
- Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp:

độc đáo thể hiện qua kiểu dáng, hoa văn, đường nét trên mỗi sản phẩm. Chúng được
tạo ra nhờ sự khéo léo của những người thợ thủ công sản xuất bằng tay là chủ yếu
nên sản phẩm này rất phong phú về mẫu mã, kiểu dáng song chất lượng thường
không đồng đều, khó tiêu chuẩn hoá.
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu tại nhiều làng
nghề truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá Việt
Nam. Cùng với sự mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế với các nước trên thế giới, mặt

hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên nhiều nước Châu Âu, Châu á,
Nam Mỹ, Châu úc, và đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường quốc tế.
2. Vai trò của hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm đã đem về cho đất nước một lượng
ngoại tệ lớn và không ngừng tăng lên qua các năm. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam năm 1999 mới chỉ là 111 triệu USD, đến năm 2000 đã
tang lên 237 triệu USD, năm 2002 đạt 300 triệu USD. Theo dự đoán của các chuyên
gia thì kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng lên 500 triệu trong các năm
tới. Đặc biệt đây là 1 trong 10 mặt hàng xuất khẩu đem lại cho đất nước nhiều ngoại
tệ nhất, trên cả hạt tiêu và hạt điều.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đem lại một lượng lớn công ăn việc làm, giải
quyết tình trạng dư thừa lao động nhất là lao động nông thôn, giúp nông dân có thêm
thu nhập nâng cao đời sống.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ góp phần đẩy mạnh giao lưu văn hoá giữa
Việt Nam và thế giới. Ngoài ra việc đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này trong mấy
năm gần đây đã khôi phục các làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn và phát triển
những di sản văn hoá dân tộc.
Như vậy phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ đem
lại lợi ích kinh tế mà còn có ý nghĩa văn hoá, xã hội to lớn. Vì vậy cần phải có những
biện pháp phù hợp nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mặt hàng thủ công mỹ
nghệ Việt Nam trong những năm tới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status