LUẬN VĂN:
Giải pháp đẩy mạnh Xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hoá mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chính sách mở cửa với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá kinh
tế đối ngoại, hoạt động xuất khẩu được coi là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc
dân. Thực tế đã chứng minh, xuất khẩu là một phương hướng hữu dụng nhất để hội nhập
và tận dụng những cơ hội trong quá trình hội nhập để tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Xuất khẩu phát triển kéo theo sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, là điều kiện tiền đề để
nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, giải quyết công ăn việc làm và làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Thanh Hoá là tỉnh có dân số đông với nhiều làng nghề truyền thống sản xuất hàng
thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là ngành hàng thu hút nhiều
lao động, tận dụng được thế mạnh của các làng nghề truyền thống. Sản phẩm thủ công mỹ
nghệ của Tỉnh được ưa chuộng tại nhiều thị trường nước ngoài. Trong những năm qua Tỉnh
trơng, biện pháp của Tỉnh Thanh Hoá đối với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Góp phần vào nghiên cứu đưa ra các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của tỉnh Thanh Hoá, tôi chọn đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh Xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Quản lý
kinh tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
a) Mục đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của ngành hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu
- Đề xuất giải pháp từ góc độ quản lý Nhà nước để phát triển hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu của tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay.
b) Nhiệm vụ:
Để đạt mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài cần thực hiện các nội dung sau:
- Đưa ra những luận cứ khoa học làm cơ sở và định hướng cho vấn đề nghiên cứu
thông qua hệ thống hoá lý luận về xuất khẩu, vai trò và công cụ quản lý của chính quyền
địa phương đối với đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng thủ công
mỹ nghệ nói riêng.
- Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, các chủ tr-
ương và biện pháp của tỉnh Thanh Hoá đối với hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ trên địa bàn tỉnh thời kỳ 2001 - 2007.
- Đề xuất với tỉnh Thanh Hoá những chủ trương, giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đến năm 2010, hướng tới năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài lấy hoạt động tổ chức sản xuất, kinh doanh xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và các chủ trương, biện pháp của tỉnh Thanh Hoá đối với xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ làm đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn nghiên cứu các chủ trương, biện pháp của cơ
quan Quản lý Nhà nước tỉnh Thanh Hoá đối với hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ trên địa bàn tỉnh, các vấn đề khác có liên quan chỉ được đề cập ở mức độ cần thiết để
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Thanh Hoá giai
đoạn 2001 - 2007
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010, hướng tới năm 2020.
Chương 1
Những vấn đề cơ bản
về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
1.1. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam có truyền thống hàng trăm hàng ngàn năm, gắn
liền với tên những làng nghề phố nghề, được biểu hiện qua những sản phẩm độc đáo - tinh
xảo - hoàn mỹ. Từ thế kỷ XI dưới thời Lý việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã được
thực hiện. Khi đó các sản phẩm chỉ bao gồm: gốm, đồ gỗ, mây tre, giấy đó, tơ lụa, đồ bạc,
sừng, ngà Qua 11 thế kỷ các phường thợ, làng nghề truyền thống đã trải qua nhiều bước
thăng trầm, một số làng nghề bị suy vong (giấy sắc, dệt quai thao) nhưng bên cạnh đó cũng
có một số làng nghề mới xuất hiện và phát triển.
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như đồ gốm sứ, sơn
mài, đồ gỗ, mây tre, tơ lụa, đồ bạc, ngà, sừng nổi tiếng trên thế giới nhờ những nét độc
đáo mang đậm sắc thái văn hoá dân tộc, những đường nét hoa văn tinh tế qua bàn tay khéo
léo, tinh xảo của các nghệ nhân. Gắn liền với những sản phẩm đó là các làng nghề truyền
thống đã tồn tại và phát triển từ ngàn đời nay và đã trở thành một trong những di sản văn
hoá quý báu của dân tộc Việt Nam. Ngày nay hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó
có nhiều sản phẩm của các làng nghề truyền thống, đã có mặt và được ưa chuộng trên thị
trường thế giới.
1.1.1. Vai trò, đặc điểm của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
a) Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Xuất khẩu và nhập khẩu là 2 lĩnh vực hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
khẩu đối với sự phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do vượt quá nhu cầu, nếu chỉ
thụ động chờ sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé, tăng trưởng chậm
chạp, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế hạn chế.
- Thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất, xuất khẩu do đó cần
xuất phát từ nhu cầu thị trường quốc tế để tổ chức sản xuất. Điều này sẽ có tác dụng tích
cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động của xuất
khẩu thể hiện: (1) Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành sản xuất có cơ hội phát triển
thuận lợi. Chẳng hạn nếu phát triển xuất khẩu TCMN tức là tạo cơ hội cho các ngành trồng
cói, đay và các vùng nguyên liệu phát triển, sẽ phát triển các làng nghề về TCMN. Xuất
khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất. (2) Xuất
khẩu tạo những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất.
Nói cách khác xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ nước
ngoài vào doanh nghiệp sản xuất.
Thứ ba, xuất khẩu góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống, giảm bớt tệ nạn xã
hội.
Tác động của xuất khẩu đối với xã hội bao gồm nhiều mặt, trước hết thúc đẩy các
ngành sản xuất phục hồi và phát triển, sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng vạn lao
động thủ công, tạo việc làm có thu nhập ổn định. Góp phần giải quyết nỗi lo không có việc
làm của thanh niên và các tầng lớp xã hội khác. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập
khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu
cầu tiêu dùng của nhân dân.
Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu là một hoạt động có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo
điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chính sách xuất khẩu hàng hoá thúc đẩy
quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng thị trường du lịch, vận tải quốc tế Mặt khác các quan
hệ này lại tạo điều kiện để mở rộng xuất khẩu, kinh tế phát triển và gắn bó chặt chẽ với
phân công lao động quốc tế.
Thứ năm, xuất khẩu là nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp luôn đổi mới và hoàn
gia tăng, đặc biệt ở các nước phát triển. Vì vậy, cần tận dụng những điểm mạnh có được để
đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Đây là việc làm cần thiết vì không
những thu được nhiều ngoại tệ về cho đất nước mà còn tạo được nhiều công ăn việc làm cho
người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn. Do hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất
chủ yếu từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước và nguyên liệu nhập khẩu thường không
đáng kể nên xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt mức thực thu ngoại tệ rất cao, góp phần
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động nông thôn. Mặt khác, hầu hết các mặt hàng
thủ công mỹ nghệ đều mang những giá trị văn hoá, lịch sử nhất định nên việc xuất khẩu các
mặt hàng này cũng có một vai trò không nhỏ trong việc truyền bá, giao lưu văn hoá Việt
Nam đến các nước trên thế giới.
b) Đặc điểm xuất khẩu hàng TCMN
- Đặc điểm về sản phẩm:
Đặc điểm nổi bật về sản phẩm hàng TCMN chủ yếu và phổ biến là sản phẩm thủ
công truyền thống in đậm sắc thái văn hoá trong sản phẩm.
Sản phẩm thủ công truyền thống chủ yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày; phần lớn quá
trình sản xuất bằng tay, riêng công đoạn hỗ trợ có thể sử dụng máy móc; sản xuất dựa trên
kỹ thuật hay công nghệ truyền thống (có từ 100 năm về trước) nhưng có thể tiến hành cải
tiến kỹ thuật hay công nghệ mà không ảnh hưởng cơ bản đến sản phẩm thủ công đó; sử
dụng phần lớn nguyên liệu truyền thống có tại địa phương.
Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống đều là sự kết
giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Các sản phẩm đều
mang tính cá biệt và có sắc thái đặc trưng riêng của mỗi một làng nghề. Cùng là đồ gốm
sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt đâu là gốm, sứ Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc
Ninh) với Đông Triều (Quảng Ninh). Từ những con rồng chạm trổ ở các đình, chùa, hoa
văn trên các trống đồng đến những nét chấm phá trên các bức thêu đều mang vóc dáng
dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và
tín ngưỡng tôn giáo của từng vùng.
Các sản phẩm hàng TCMN vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao, nhiều
loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền, chùa,
làng nghề phát triển, không thể dựa hoàn toàn vào nguồn vốn tự có được, do lượng vốn
này quá nhỏ so với yêu cầu đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ. Đặc biệt, đối với
các cơ sở sản xuất đã chuyên môn hoá, cần mở rộng phát triển sản xuất luôn đi cùng với
đôỉ mới công nghệ, tạo lập mặt bằng nhà xưởng.
Vốn vay đang có nhu cầu ngày càng tăng. Việc đầu tư đổi mới công nghệ, đa dạng
hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như đào tạo công nhân đòi hỏi cũng
phải có vốn đầu tư. Vốn tự có trong các cơ sở sản xuất của làng nghề không đáng kể so với
nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt do đổi mới công nghệ hay mở rộng quy mô sản
xuất. Bởi vậy, vốn vay hiện nay chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển làng nghề
nói riêng cũng như ngành nghề nông thôn nói chung.
Tại các làng nghề hiện nay quy mô vốn của đa số các cơ sở còn nhỏ, mức độ đầu tư
cho tài sản cố định còn thấp, nhiều cơ sở thiếu vốn nhưng lại không có nhiều cơ hội để tiếp
cận các nguồn vốn vay, đặc biệt là các nguồn vốn vay ưu đãi; đã xuất hiện một số hộ và cá
nhân có vốn đứng ra làm “chủ bao mua”, “cai đầu dài”, làm đại lý cung ứng nguyên liệu
và bao tiêu sản phẩm cho cả làng. Nhiều “ông cai” có trong tay từ hàng trăm triệu đồng
đến hàng tỷ đồng. Những nguời này có quan hệ với chủ bao mua lớn ở các đô thị như Hà
Nội, Thành phố HCM và hiểu rõ nhất các kênh cung ứng và xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ.
1.1.2. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ
a) Cơ cấu sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Ngành thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam có thể được phân loại thành 10 tiểu ngành,
gồm các nhóm cơ bản dưới đây:
- Tre, mây, cói, lá
- Gốm
- Gỗ
- Thêu
- Dệt
- Kim loại
- Giấy thủ công
lọ hoa, tượng và những vật dụng trang trí khác. Tuỳ thuộc vào công nghệ và nhiệt độ nung
mà các sản phẩm sẽ là gốm, sứ. sành hay đất nung. Nghề gốm đã có ở Việt Nam từ hàng
ngàn năm nay và các cơ sở sản xuất gốm phân bổ trên khắp cả nước. Tuy nhiên, một số
trung tâm sản xuất sản phẩm gốm lớn nằm ở Hà Nội (Bát Tràng), Đồng Nai và Bình Dương.
Gần đây, các sản phẩm nghệ thuật làm từ sành phục vụ nhu cầu trang trí nhà và vườn đã phát
triển mạnh ở các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nam và Bắc Ninh và đã thu hút được sự chú
ý đặc biệt của các nhà nhập khẩu trên khắp thế giới.
* Thêu ren và các sản phẩm dệt
Các sản phẩm thêu ren bằng tay hầu hết là khăn trải bàn, quần áo, váy, túi và những
vật dụng sử dụng thông thường. Những sản phẩm này được tạo ra chủ yếu ở các làng nghề
trong các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Ninh Bình và Hà Nam. Trước kia, những sản phẩm này
chủ yếu được xuất khẩu sang các nước Đông Âu nhưng ngày nay, thị trường xuất khẩu đã
mở rộng sang nhiều nước, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp và Italia. Các nhà xuất
khẩu sản phẩm này gặp nhiều khó khăn trong hoạt động thâm nhập thị trường mới và cạnh
tranh với các sản phẩm sản xuất bằng máy từ các nhà máy của Trung Quốc.
Sản phẩm dệt ở Việt Nam được tạo ra từ 432 làng nghề, trong đó có nhiều sản phẩm
từ các dân tộc thiểu số. Các nguyên liệu sử dụng phổ biến là lụa, cotton, len và sợi lanh.
Hầu hết 90% các làng nghề dệt đan phân bổ ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là khu vực đồng
bằng Sông Hồng. Quy mô sản phẩm dệt nhìn chung không đa dạng và hầu hết thành phẩm
có giá trị gia tăng thấp. Sản phẩm từ lụa và cotton là các nguồn thu nhập chính. Khăn tay
làm từ cotton (ở Thái Bình, Hà Tây, Nam Định ), sản phẩm dùng trong nhà tắm và nhà
bếp làm từ các nguyên liệu dệt khác (Ninh Bình, Hà Tây ) là một số những sản phẩm dệt
có tiềm năng xuất khẩu cao nhất. Tuy nhiên, hầu hết các nguyên liệu cotton thô đều phải
nhập khẩu. Nhóm khác gồm có các dân tộc thiểu số sống ở các khu vực miền núi sử dụng
các khung cửi và một số nguyên liệu đặc biệt và nhuộm màu tự nhiên. Đây là các nhóm
sản phẩm có tiềm năng phát triển rất tốt nếu chúng ta phát triển các thị trường ngách cũng
như tập trung vào thị trường thương mại bình đẳng. Do những khó khăn về nguồn nguyên
liệu thô, các nhà sản xuất đang ngày càng sử dụng các nguyên liệu thô nhập khẩu giá rẻ,
điều này sẽ làm giảm chất lượng các sản phẩm. Đối với các sản phẩm dệt và các sản phẩm
Cũng có các hoạt động sản xuất lớn về các phụ kiện như khung tranh, khung ảnh, khung
gương. Một số các sản phẩm thủ công đồ gỗ đòi hỏi sự tinh xảo như tượng, gỗ chạm khảm
đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt phục vụ cho các thị trường châu á như Trung Quốc,
Hồng Kông, Đài Loan.
b) Phân loại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
- Phân loại theo tính chất của sản phẩm, có hai nhóm lớn:
Nhóm các sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như: chạm, khảm
vàng - bạc, chạm khảm gỗ, đồ sơn mài, tranh dân gian, đồ gốm mỹ nghệ, lụa tơ tằm, thổ cẩm,
thêu Đây là nhóm các mặt hàng không thể mất vị trí trong quá trình CNH, HĐH bởi sản
phẩm mang tính nghệ thuật, không thể sản xuất hàng loạt bằng máy móc được. Đối với các
nghề và làng nghề sản xuất các mặt hàng này, chúng ta cần phải phát huy được công nghệ
truyền thống, động viên được các nghệ nhân tích cực truyền nghề để tránh đứt gãy nghề
truyền thống, song vẫn cần phải sử dụng một số yếu tố kỹ thuật hiện đại vào những khâu sản
xuất cần thiết, nhưng chủ yếu là cải tiến, nhằm giảm nhẹ sức người, nâng cao hiệu quả công
nghệ truyền thống và sự sáng tạo của nghệ nhân.
Nhóm các sản phẩm mà phần nhiều mang giá trị sử dụng như gạch, ngói thông
dụng, dệt may thông dụng, nông cụ, đồ gỗ thông dụng, các hàng nhựa - cao su - thuỷ tinh,
đường kẹo, nước chấm Nhìn về tương lai, những làng nghề sản xuất các mặt hàng này sẽ
bị sức ép mạnh của kỹ thuật và công nghệ hiện đại Bởi thế, những nghề và làng nghề đó
cần được đầu tư đổi mới công nghệ, đi dần vào guồng máy công nghiệp hiện đại.
- Phân loại theo mục đích sản xuất, có 3 nhóm sản phẩm:
Các sản phẩm được sản xuất nhằm mục đích xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của khách
hàng quốc tế (xuất khẩu qua hải quan và xuất khẩu tại chỗ cho khách du lịch quốc tế).
Các sản phẩm được sản xuất nhằm mục đích tiêu thụ trên thị trường trong nước,
đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nước.
Các sản phẩm được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính gia đình sản
xuất tự sản tự tiêu (phần sản phẩm này chiếm tỷ trọng rất nhỏ).
- Phân loại theo định hướng khách hàng tiêu thụ, có 3 nhóm sản phẩm cơ bản:
Các sản phẩm được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu trang trí trong các gia đình
Các thương nhân ở các đô thị lớn ký hợp đồng.
1.1.3. Các chủ thể tổ chức sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ
Tất cả các nhóm ngành chính về gỗ, mây, tre, cói, gốm, dệt, thêu và sơn mài thông
thường được sản xuất thông qua các hộ gia đình nhỏ trong làng nghề. Nguyên liệu thô hoặc
là được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu (các nhóm nguyên liệu như mây, tre, cói,
chạm khắc gỗ, gốm ) thường được các cá nhân hoặc các hộ sản xuất đơn lẻ trực tiếp khai
thác và thu hoạch từ các khu rừng lân cận ở các địa phương hoặc ở các tỉnh khác trong
nước. Sau đó, họ bán nguyên liệu này cho những người thu gom với giá rất thấp để kiếm
sống hàng ngày. Đối với các sản phẩm khác như dệt và thêu, hầu hết nguyên liệu thô gồm
có vải hoặc chỉ được nhập khẩu do nguyên liệu sẵn có trong nước chất lượng thấp. Tơ Việt
Nam có chất lượng tốt nhưng kỹ thuật nhuộm lại không đảm bảo.
- Doanh nghiệp thu gom nguyên liệu thu thập nguyên liệu thô từ những nhà sản xuất
nguyên liệu, tiến hành phân loại cơ bản xong rồi họ vận chuyển nguyên liệu tới các nhà
bán buôn ở các tỉnh. Nhiều khâu trung gian tham gia vào mạng lưới này làm cho kênh
nguyên liệu thô trở nên phức tạp và làm nâng giá mặt bằng sản xuất.
- Doanh nghiệp xử lý nguyên liệu thô thu mua nguyên liệu từ những nhà thu gom
hay những người bán buôn ở các tỉnh. Họ hoàn toàn khác những nhà sản xuất nguyên
liệu/thu gom nguyên liệu/nhà bán buôn do họ tham gia vào nhiều hơn khâu xử lý và bán
nguyên liệu đã được chế biến
- Nhà sản xuất chủ yếu là các hộ gia đình tại làng nghề ở các khu vực nông thôn,
đây là lực lượng lao động chính trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Ngành gốm phát
triển ở mức độ cao hơn với sự xuất hiện của nhiều nhà máy tuyển dụng các lao động làm
việc dài hạn.
Mặc dù mức thu nhập vẫn còn thấp, nhưng sản xuất hàng thủ công vẫn mang lại cho
các hộ nhỏ kiếm được nguồn thu phi nông nghiệp bền vững bên cạnh việc sản xuất lương
thực cơ bản. Trong nhiều trường hợp, thu nhập từ sản xuất hàng thủ công cao hơn so với
sản xuất nông nghiệp. Chẳng hạn, với công việc đan ghế mây, một người nông dân có thể
kiếm được trung bình 20.000 đồng/ngày (tương đương với 1 euro), số tiền này gấp hai lần
khâu hoàn thiện sản phẩm, sản xuất những cấu phần làm sẵn cho những thợ dệt và thợ gốm
đòi hỏi công nghệ hiện đại) với lực lượng lao động gồm vài trăm, thậm chí hàng ngàn
người.
Trước đây, các nhà xuất khẩu hàng thủ công ở một số thành phố chính và các tỉnh
khác hầu như đều là những doanh nghiệp nhà nước. Vài năm trở lại đây, có sự gia tăng
nhanh chóng về số lượng các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân hoạt động kinh doanh
rất thành công và đang cạnh tranh mạnh với các doanh nghiệp quốc doanh. Các nhà xuất
khẩu khu vực tư nhân có tầm quan trọng ngày càng tăng.
Doanh nghiệp nhập khẩu hầu hết là những nhà bán buôn ở Châu Âu, Châu á hoặc
Chây Mỹ, các cửa hàng lớn ở nước ngoài và những chuỗi bán lẻ mua trực tiếp từ các nhà
sản xuất hoặc xuất khẩu của Việt Nam. Một số khách hàng quốc tế có đại lý hoặc văn
phòng đại diện ở Việt Nam để tìm kiếm các sảm phẩm thủ công. Một vài người trong số
họ là những doanh nghiệp lớn có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Những công ty nước
ngoài này có vai trò quan trọng trên thị trường và họ mua với số lượng lớn.
Toàn bộ khối lượng xuất khẩu hàng thủ công Việt Nam hiện nay phụ thuộc lớn vào
một số rất ít những nhà mua hàng lớn. Một chuỗi bán lẻ ở Châu Âu chiếm khoảng 20%
khối lượng xuất khẩu trên toàn quốc, một số ít hãng khác cũng nắm giữ vị trí quan trọng.
Sự có mặt và các hoạt động mua hàng của những chuỗi như vậy ở Việt Nam mang lại một
lợi thế lớn cho đất nước và cũng là lý do chính làm cho ngành có mức tăng trưởng nhanh
chóng. Tuy nhiên, sự chiếm ưu thế cũng là một mối đe dọa lớn do ngành phải phụ thuộc
nhiều vào họ.
Thông thường, các công ty nước ngoài tìm kiếm sản phẩm thông qua các nhà xuất
khẩu (công ty tư nhân và những công ty xuất khẩu của nhà nước). Khách hàng thường lập
kế hoạch sản xuất của họ trước từ 3-6 tháng. Họ cung cấp cho các nhà xuất khẩu
catalogue, hình ảnh và những bức vẽ cùng với mã hàng và đặt hàng theo các mã hàng của
họ.
Doanh nghiệp bán lẻ trong nước, đặc biệt là các cửa hàng ở các thành phố lớn là Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng có vai trò quan trọng trong marketing sản phẩm thủ công
của Việt Nam. Các sản phẩm thủ công trưng bày ở những cửa hàng này hầu hết được các chủ
thời kỳ chuyển sang kinh tế thị trường.
b) Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc khôi phục và phát triển của các làng
nghề ở nông thôn
- Sự biến động của nhu cầu thị trường
- Các chính sách của Nhà nước
- Kết cấu hạ tầng (Hệ thống đường giao thông, hệ thống cung cấp điện nước, bưu
chính viễn thông, y tế, giáo dục, điều kiện sinh hoạt )
- Yếu tố truyền thống (sự lưu giữ truyền đạt những kinh nghiệm, kỹ thuật của sản
xuất, những thói quen nghề nghiệp, những đức tính kiên trì, cần mẫn sáng tạo và cả ý chí
quyết tâm đạt tới giá trị sản phẩm tốt, bền, đẹp về hình dáng mẫu mã của các nghệ nhân,
thợ cả cho người thợ thế hệ sau)
- Nguồn nguyên liệu là nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển làng
nghề, tới việc đa dạng hoá sản phẩm trong các làng nghề (khối lượng, chất lượng và
khoảng cách cung cấp nguyên vật liệu cho làng nghề có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát
triển của các làng nghề bởi lẽ chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm làng
nghề làm ra, trữ lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng đến sự tồn tại lâu dài của làng nghề, khoảng
cách cung cấp nguyên vật liệu ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm của các cơ sở sản xuất).
c) Đặc điểm của các làng nghề ở nông thôn Việt Nam
- Làng nghề tồn tại ở nông thôn gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp
- Sản xuất trong các làng nghề (đặc biệt là làng nghề thủ công truyền thống) chủ
yếu bằng phương pháp thủ công, công nghệ thô sơ, lạc hậu
- Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề nông thôn chủ yếu là
quy mô gia đình
- Phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền nghề
- Sản phẩm của các làng nghề đa dạng trong đó có một số sản phẩm có tính mỹ
thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
d) Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Làng nghề không chỉ đơn thuần làm ra các sản phẩm hàng hoá, mà còn là nơi tiềm
ẩn những giá trị văn hoá tinh thần và nơi bảo lưu, giữ gìn công nghệ truyền thống lâu đời
không nắm bắt kịp thời thông tin hoặc am hiểu ít về thị trường thế giới và đối thủ cạnh
tranh thì rủi ro trong hình thức kinh doanh này không phải là ít.
b) Xuất khẩu gián tiếp
Hình thức xuất khẩu này không đòi hỏi sự tiếp xúc giữa nhà sản xuất và người mua
ở nước ngoài. Nhà sản xuất bán sản phẩm của mình cho một công ty khác và công ty đó
tiếp tục làm công tác xuất khẩu trực tiếp. Phương thức này thường áp dụng đối với các
công ty có quy mô nhỏ hoặc trung bình mới xâm nhập thị trường chưa đủ điều kiện xuất
khẩu trực tiếp. Hình thức xuất khẩu gián tiếp cũng gặp phải một số nhược điểm là nhà sản
xuất không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Điều này làm cho nhà sản xuất không biết
được sở thích mong muốn của khách hàng. Các doanh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu
gián tiếp thông qua các hình thức sau:
- Các công ty quản lý xuất khẩu (Exporrt Management Company - EMC): Công ty
quản lý xuất khẩu hoạt động như một phòng xuất nhập khẩu của công ty. EMC sẽ thực
hiện việc tìm kiếm thị trường cho nhà sản xuất, cố vấn cho nhà sản xuất về thị trường nước
ngoài. Dịch vụ EMC được thanh toán bằng tiền hoa hồng.
- Khách hàng nước ngoài (Foreign Buyer): Là hình thức xuất khẩu thông qua các
nhân viên của các công ty nhập khẩu nước ngoài. Họ là những người được đào tạo và có
hiểu biết về điều kiện cạnh tranh trên thị trường thế giới. Hình thức này nhà sản xuất
không cần phải đích thân ra nước ngoài để đàm phán trực tiếp với đối tác. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp cũng cần xem xét kỹ khách hàng để thiết lập mối quan hệ.
- Nhà uỷ thác xuất khẩu (Exporrt Commission House): Là những người đại diện
cho người mua nước ngoài cư trú trên nước của nhà xuất khẩu. Hoạt động dựa trên lợi ích
của người mua và người mua trả tiền uỷ thác. Khi chuẩn bị có đơn đặt hàng nhà uỷ thác
lập phiếu đặt hàng với nhà sản xuất và lo mọi chi tiết liên quan đến quá trình xuất khẩu.
Bán hàng cho các nhà uỷ thác là một phương thức thuận lợi cho xuất khẩu, việc thanh toán
diễn ra nhanh chóng cho nhà sản xuất, những vấn đề vận chuyển do nhà uỷ thác chịu hoàn
toàn.
- Môi giới xuất khẩu (Exporrt Borker): Là thực hiện chức năng làm môi giới giữa
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu mà không xử lý mua bán trực tiếp. Người môi gới được nhà
d) Gia công xuất khẩu (gia công quốc tế)
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó một bên nhận gia công
nguyên vật liệu hay bán thành phẩm của bên kia đặt gia công nhằm thu lợi nhuận (phí gia
công).
Hình thức này được vận dụng khá phổ biến, nó mang lại lợi ích to lớn cho cả 2 bên
đặt gia công và bên nhận gia công. Phương thức này đặt ra về phía nhà nước cần phải có
một cơ chế định hướng và quản lý hoạt động gia công. Về phía các doanh nghiệp phải
nghiên cứu lựa chọn khai thác có hiệu quả hình thức gia công.
Các hình thức gia công như gia công thuê, gia công mua đứt bán đoạn và gia công
kết hợp.
e) Xuất khẩu tại chỗ
Xuất khẩu tại chỗ là hình thức kinh doanh mà hàng xuất khẩu không cần vượt qua
biên giới quốc gia nhưng khách hàng vẫn có thể mua được. ở hình thức này doanh nghiệp
không cần phải đích thân ra nước ngoài đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người
mua lại tìm đến với doanh nghiệp do vậy doanh nghiệp không phải làm thủ tục hải quan,
không phải thuê phương tiện vận chuyển, không phải mua bảo hiểm hàng hoá. Hình thức
này thường được áp dụng với nước có thế mạnh về du lịch, có nhiều tổ chức nước ngoài
đóng tại quốc gia đó.
1.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng TCMN
a) Các nhân tố của môi trường vĩ mô
- Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Hoạt động xuất nhập khẩu thực chất là bắc cầu để giao lưu hàng hoá giữa trong
nước và ngoài nước, trong quá trình đó sẽ bộc lộ sự khác nhau về trình độ phát triển kinh
tế và xã hội giữa các nước. Bởi vậy trình độ phát triển kinh tế giữa các nước, trình độ dân
trí, thu nhập và mức sống của dân cư, sự ổn định của môi trường pháp luật của quốc gia
nhập khẩu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp
xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu.
Một nền kinh tế phát triển ổn định của quốc gia nhập khẩu sẽ tạo điều kiện tốt để
các doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu, ngược lại, một nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng