TIỂU LUẬN:
Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam sang hai thị trường EU A.Lời mở đầu
Trung xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay,
hoạt động xuất nhập khẩu được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để
thúc đẩy tăng trưởng của mỗi quốc gia. Việt Nam là một nước nông nghiệp, khí hậu
nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp và nhiều loại cây
khác. Bên cạnh đó, vị trí địa lý đã tạo ra cho chúng ta các nguồn tài nguyên đa dạng
như: Đất sét, cát trắng, đá, các mỏ quặng, than, thêm vào đó là nguồn lao động dồi dào
của nước ta. Vì vậy, trong quá trình phân công lao động quốc tế, Việt Nam tham gia
xuất khẩu chủ yếu các hàng nông sản và các mặt hàng sử dụng nhiều lao động như
hàng dệt may, thủ công mỹ nghệ, lắp ráp các linh kiện điện tử. Trong đó hàng thủ
trò quan trọng trong nền kinh tế.
2-Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu.
2.1.Các hình thức:
-Xuất khẩu: bán hàng ra nước ngoài.
-Tạm xuất khẩu: là xuất khẩu hàng đã nhập về trong nước, bán lại cho người
nước khác, không qua chế biến. Cũng có thể hàng không về trong nước mà nhận từ
nước ngoài rồi giao lại ngay cho người mua hàng ở nước khác.
-Xuất khẩu trực tiếp: Các nhà sản xuất và kinh doanh bán hàng trực tiếp cho
người mua nước ngoài hoặc mua hàng trực tiếp từ người sản xuất hay kinh doanh
nước ngoài không qua trung gian. Phần lớn hàng ở thị trường thế giới là qua xuất
nhập khẩu trực tiếp (trên 2/3 kim ngạch).
-Xuất khẩu gián tiếp và nhập khẩu gián tiếp: là xuất khẩu, nhập khẩu qua
trung gian thương mại.
-Tạm xuất, tái nhập: hàng đưa ra khỏi nước mình rồi lại đưa hàng đó về
nước. Thí dụ như máy bay, tàu thuỷ đưa đi sửa chữa rồi lại đưa về nước, hàng đưa đi
triển lãm ở nước ngoài xong lại mang về nước.
Các loại hàng này được miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
-Tạm nhập, tái xuất: hàng cho phép đưa vào nước mình, sau đó lại phải
mang ra như hàng của nước ngoài đưa vào triển lãm hội chợ, hay tàu biển đưa vào
sửa chữa xong rồi lại mang ra. Các hàng này được miễn thuế nhập khẩu, xuất khẩu.
-Chuyển khẩu: Hàng mua ở nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục
xuất nhập khẩu. Thường thì hàng đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
Người kinh doanh chuyển khẩu trả tiền cho người xuất khẩu và thu tiền của người
nhập khẩu hàng đó, thường khoản tiền thu lớn hơn tiền trả cho người xuất khẩu.
Xét về đường vận động của hang hoá thì tái xuất và chuyển khẩu giống
nhau. Chỗ khác nhau là: kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ
2.3.Trình tự thực hiện hợp đồng XK.
-Làm đủ thủ tục hiện hành xin giấy phép xuất khẩu.
-Kiểm tra nội dung xem có phù hợp với hợp đồng không?
-Chuẩn bị giao hàng.
-Thuê tàu (lưu cước, lưu khoang, giữ chỗ – booking)
-Kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng hoá.
-Làm thủ tục hải quan.
-Giao hàng (ở cảng, ở ga) cho người vạn tải.
-Mua bảo hiểm hàng hoá (nếu bán CIF)
-Nhận tiền thanh toán (ngoại tệ)
-Giải quyết khiếu nại, trọng tài (nếu có).
3-Đặc điểm của sản phẩm TCMN xuất khẩu.
Hàng TCMN Việt Nam (mây tre, thêu ren, sơn mài, thảm, gốm sứ mỹ
nghệ…) của ta chủ yếu được sản xuất ở quy mô vừa và nhỏ. Do tính chất đặc thù
của ngành hàng này là sản xuất bằng tay, tỷ lệ làm bằng máy rất ít. Vì vậy nhưng sản
phẩm tạo ra tuy độc đáo nhưng năng suất không cao, chất lượng không đều.
Những sản phẩm TCMN không phải là những sản phẩm thiết yếu đối với
con người trong việc ăn, mặc, ở, đi lại… Nó chỉ là gia vị cho cuộc sống thêm đầy
đủ. Các sản phẩm TCMN có thể phù hợp người này mà không phù hợp với người
khác, có thể phù hợp lúc này nhưng không phù hợp lúc khác. Vì thế nó vừa được
tiêu dùng rộng rãi, vừa bị bó hẹp trong phạm vi không gian và thời gian. Nó phụ
thuộc vào mức sống và thu nhập của từng nước, từng vùng và từng lớp người.
Do tính chất khí hậu khô lạnh làm cho hàng TCMN Việt Nam dễ bị cong,
nứt nẻ. Hơn nữa hàng TCMN là mặt hàng dễ mốc, dễ nứt do được làm bằng những
chất liệu là thực vật. Và do tính chất hút ẩm cao nên các mặt hàng dễ bị mốc ngay cả
trong lúc sản xuất, lưu kho và quá trình vận chuyển, giao hàng ra nước ngoài…
quan tâm đến thị trường Việt Nam hơn, một phần vì muốn làm phong phú thêm
nguồn cung cấp hàng hoá, phần khác vì họ thấy nhiều mặt hàng Việt Nam đáp ứng
tốt yêu cầu của họ cả về giá cả lẫn chất lượng. Hàng Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường EU được hưởng GSP như hàng của các nước đang phát triển khác. Vì vậy,
hàng của ta gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh nặmg ký trên thị trường này, như hàng
của Trung Quốc, Thái Lan, và hàng của các nước ASEAN khác.
III.Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam sang hai thị trường EU
1-Các giải pháp đối với nhà nước
Hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay được nhà nước xếp và danh sách 10 mặt
hàng xuất khẩu chủ lực. Để thúc đẩy cũng như đảm bảo cho các mặt hàng chủ lực
được phát triển một cách bền vững, Nhà nước đẫ đề ra các chính sách nhằm hỗ trợ,
khuyến khích các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nói chung và mặt hàng thủ công mỹ
nghệ nói riêng phát triển
a-Chính sách đối với các làng nghề
Nghề thủ công truyền thống của Việt Nam được duy trì và phát triển chủ
yếu là ở các làng nghề. Để các làng nghề duy trì và phát triển hoạt động sản suất –
kinh doanh, Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ chủ yếu tập chung
trên các mặt.
Các làng nghề phải thông qua các đơn vị sản xuất kinh doanh của mình để
tranh thủ khai thác các chính sách khuyến khích ưu đãi hiện hành của nhà nước cũng
như các chính sách sẽ được ban hành trong tương lai.
Cần phân loại làng nghề với những tiêu chí phù hợp. Trong đó làng nghề thủ
công mỹ nghệ truyền thống được ưu đãi hỗ trợ với mức cao hơn.
b-Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu
Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ một phần chi phí xúc tiến thương mại,
Chính phủ cần thành lập một tổ chức chuyên trách về việc quản lý và hỗ trợ
nhằm phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ.Đề nghị sớm cho thành lập các
Hiệp hội ngành thủ công mỹ nghệ nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các doanh
nghiệp trong sản xuất kinh doanh.
2-Các giải pháp đối với doanh nghiệp
a-Nâng cao chất lượng hoạt động tạo nguồn hàng thủ công mỹ nghệ cho
xuất khẩu *Nguồn sản xuất
Để nâng cao hơn chất lượng sản phẩm công ty phải chú ý các điểm sau ở
khấu sản xuất
-Kiểm tra nghiêm ngặt các quy trình công nghệ sản xuất
-Xử lý kỳ nguyên vật liệu cả trước và sau khi sản xuất
-Công ty cần chú ý trọng hơn mức việc nâg cao tay nghề cho công nhân
-Nâng cấp cơ sở hạ tầng, điều kiện sản xuất cho các phân xưởng
*Nguồn mua từ các cơ sở sản xuất khác
Đáp ứng được nhu cầu của phía khách hàng về những sản phẩm không phải
là do công ty sản xuất ra và bổ xung vào nguồn hàng xuất khẩu kho công ty chưa kịp
sản xuất
*Nguồn liên doanh, liên kết
Công ty nên thực hiện các biện pháp liên kết với các cơ sở sản xuất, xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nước.
b-Đẩy mạnh công tác Marketing.
*Tập trung nghiên cứu thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường EU.
Nghiên cứu thị trường để phát hiện ra nhu cầu, dung lượng và cơ cấu của nó
để từ đó dự báo được thị trường nước ngoài về tổng nhu cầu, tổng mức nhập khẩu cơ
trường học hoặc có thể có các chương trình tài trợ nhỏ, bổ ích cho các trờng hoặc có
thể đăng tin quảng cáo nhỏ kèm những hình ảnh đẹp các sản phẩm của công ty lên
trang báo dành cho lứa tuổi này…
Đối với thị trường nước ngoài công ty phải đẩy mạnh việc chào hàng qua
mạng Internet.
Riêng với thị trường EU giới thiệu sản phẩm qua quan hệ cá nhân (nhất là
được một người có uy tín giới thiệu) có hiệu quả hơn nhiều so với gửi thư chào hàng
hoặc gửi mẫu mã, catalogue qua bưu điện.
c. Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
* Đa dạng hoá sản phẩm.
Để tiến hành đa dạng hoá sản phẩm công ty cần phải nghiên cứu kỹ về khả
năng tài lực, vật lực của công ty, đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường với
chi phí kinh doanh thấp nhất và phát huy tối đa tiềm lực của công ty.
* Xây dựng chính sách giá cả hợp lý.
Giá cả là một trong những yếu tố quyết định tới khả năng của doanh nghiệp.
Việc định giá công ty cần phải thu thập đủ các thông tin cần thiết cho các quyết định
về giá. Ngoài ra công ty cũng cần xác định mục tiêu của chính sách giá đưa ra là
tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị trường hay vì một mục tiêu khác.
* Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh.
Có câu “Biến người biết ta, trăm trận trăm thắng” vì vậy muốn nâng cao
năng lực cạnh tranh bất cứ công ty nào cũng phải nghiên cứu đối thủ cạnh tranh về
các mặt để xác định được điểm mạnh, điểm yếu của họ và từ đò có được chiến lược
phù hợp cho mình.
Việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dựa vào các yếu tố:
-Sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
-Thị trường của đối thủ cạnh tranh.
khách hàng EU. Đó là cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ xâm nhập thị trường.
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ là mong muốn, khát vọng
mà còn là hoạt động đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong hầu hết các doanh
nghiệp. Trước môi trường kinh doanh biến đổi không ngừng và bất dịch thì những
thành công của doanh nghiệp ngày hôm nay sẽ không có gì bảo đảm chắc chắn rằng
nó sẽ thành công trong tương lai. Việc chủ động mở rộng thị trường tiêu thụ của
doanh nghiệp một cách không ngừng và có hiệu quả sẽ góp phần tạo nên các điều
kiện thuận lợi lớn cho các bước tiếp theo của doanh nghiệp, thông qua mở rộng thị
trường doanh nghiệp cso thể nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thị phần, tăng
doanh thu và bảng lợi nhuận.
Mục lục
A. Lời nói đầu 1
B. Nội dung 2
I. Cơ sở lý luận 2
1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu 2
2. Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu 2
3. Đặc điểm cua sản phẩm TCMN xuất khẩu 4
II. Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam sang thị
trường EU 5
1. Khái quát chung về thị trường EU 5
2. Thực trạng của hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị
trường EU
III. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam sang hai thị trường EU 6
1. Các giải pháp đối với Nhà nước 6