z
LUẬN VĂN:
Phân tích thực trạng xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ của công ty
ARTEXPORT
Chương I
Những vấn đề lý luận chung về hoạt động xuất khẩu
i. Bản chất và vai trò của xuất khẩu
1. Khái niệm
Trong mỗi một giai đoạn phát triển quan hệ kinh tế thì người ta đưa ra một
khái niệm về xuất khẩu khác nhau sao cho nó có thể phản ánh một cách toàn diện
sự nhận thức ở giai đoạn đó cũng như trình độ phát triển của nó.
Ngày nay, xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc hàng hoá hoặc
Công nghiệp hoá với bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình
trạng nghèo nàn lạc hậu nhưng công nghiệp hoá đòi hỏi phải có lượng vốn lớn để
nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau: Đầu tư nước
ngoài, vay nợ, các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại
tệ trong nước.
Các nguồn như đầu tư nước ngoài, viện trợ hay vay nợ … có tầm quan trọng
không thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng, hơn
nữa đi vay thường chịu thiệt thòi và phải trả về sau này.
Do vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo tiền đề cho
nhập khẩu, quyết định đến quy mô tăng trưởng của nền kinh tế.
b.Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sản
xuất.
Có hai cách nhìn nhận về tác dụng của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Một là: Xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.
Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản
chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ vào sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu
chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm.
Hai là: Có thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu,
quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất, thể hiện ở các điểm sau.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cùng cơ hội phát triển
chẳng hạn như khi phát triển sản xuất ngành thủ công mỹ nghệ thì kèm theo phát
triển ngành gốm sứ mây, tre đan …
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm góp phần ổn
định sản xuất, tạo lợi thế kinh doanh nhờ quy mô.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào mở
rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia. Vì ngoại thương cho phép một nước có
thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiêù giới hạn sản xuất của
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động,
tạo ra thu nhập ổn định, tạo ngoại tệ nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng, đáp ứng được
nhu cầu của nhân dân đồng thời thu được ngoại tệ.
- Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn, nó chứa đựng nhiều
cơ hội cũng như rủi ro, những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường nếu thành
công có thể tăng cao thế lực, uy tín của doanh nghiệp mình trong cả nước và nước
ngoài, thành công doanh nghiệp lại có nhiều cơ hội để tái đầu tư phát triển sản
xuất. Qua các hợp đồng làm ăn kinh tế, các mối quan hệ của doanh nghiệp ngày
càng được mở rộng, thế lực và uy tín của doanh nghiệp không ngừng được nâng
cao.
5. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động rất phức tạp và chịu nhiều rủi ro, đặc
biệt có rất nhiều hình thức xuất khẩu, mỗi công ty cần lựa chọn cho mình hình
thức xuất khẩu phù hợp với hàng hoá, tiềm lực của doanh nghiệp mình để đảm bảo
điều kiện của hợp đồng, hai bên cùng có lợi.
5.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hoá dịch vụ do chính doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất tới khách hàng nước ngoài
thông qua các tổ chức của mình.
Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp
- Giảm bớt chi phí trung gian, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Có thể liên hệ trực tiếp với thị trường và khách hàng nước ngoài.
biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng nếu có thể thay đổi sản
phẩm và những điêù kiện bán hàng trong trường hợp cần thiết để đáp ứng tốt nhu
cầu của thị trường.
Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp
- Rủi ro trong kinh doanh cao
- Yêu cầu nghiệp vụ của cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập
khẩu cao.
5.2 Xuất khẩu gia công uỷ thác
Nhược điểm của phương thức mua bán đối lưu:
- Tính chất mềm dẻo, linh hoạt của thị trường không thực hiện được
5.4 Phương thức mua bán tại hội chợ, triển lãm.
Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian và ở
vào một địa điểm cố định trong một thời gian nhất định, tại đó người bán đem
trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua
bán.
Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nền kinh
tế hoặc của một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật. Liên quan chặt
chẽ đến ngoại thương là cuộc triển lãm công thương nghiệp. Tại đó người ta
trưng bày các loại hàng hoá nhằm mục đích quảng cáo để mở rộng khả năng
tiêu thụ.
Ngày nay, triển lãm không chỉ là nơi trưng bày giới thiệu hàng hoá mà
còn là nơi được ký kết các hợp đồng kinh tế, mở rộng thị trường, quảng cáo,
xúc tiến … tại hội chợ và triển lãm đặc biệt là mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
5.5 Giao dịch qua trung gian:
Giao dịch qua trung gian là hình thức giao dịch trong đó bên mua hoặc bên
bán thông qua người thứ ba đứng ra tiến hành công việc mua bán thay cho mình.
Những công việc này có thể nghiên cứu thị trường, đàm phán ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng. Đây là phương thức giao dịch phổ biến, chiếm khoảng 50%
tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Thông thường người thứ ba ở đây là người
môi giới hoặc đại lý.
Ưu điểm của phương thức giao dịch qua trung gian
-Giao dịch qua trung gian tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh hơn
như mở rộng kênh phân phối, mạng lưới kinh doanh, am hiểu thị trường, đặc biệt
người uỷ thác có thể có lợi về cơ sở vật chất của người trung gian, tiết kiệm được
chi phí kinh doanh.
Nhược điểm của phương thức giao dịch qua trung gian
- Lợi nhuận bị chia sẻ do phải trả thù lao cho người trung gian thêm vào đó là
doanh nghiệp khó kiểm soát được hoạt động của người trung gian, do đó khó kiểm
không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi cho nước
xuất khẩu, nếu như họ có thể tác động đáng kể đến mức giá quốc tế. Một mức thuế
suất cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh tranh.
Như vậy, thuể xuất khẩu nói riêng và thuế xuất nhập khẩu nói chung đều làm
giảm “ lượng cầu quá mức” đối với hàng hoá có thể nhập khẩu và giảm “ lượng
cung quá mức” đối với hàng hoá xuất khẩu.
b. Các công cụ phi thuế quan
Công cụ quota (Hạn ngạch xuất khẩu): Hình thức này áp dụng như một
công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng
trong xuất khẩu hàng hoá, hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá được quyết định theo
mặt hàng, theo từng quốc gia, theo từng thời gian nhất định.
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Nó bao gồm quy định vệ sinh,
đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đăc biệt là quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực vật tươi sống, tiêu chuẩn và
bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây truyền thiết bị cộng nghệ.
Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp trực tiếp
hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước, bên cạnh đó
chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các bạn hàng nước
ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra và để
xuất khẩu ra bên ngoài.
2. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động đến
hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài
nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ: Xuất
khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung gốm và
vận chuyển gốm v v …
3. Tác động của tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị của đồng tiền các
nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với quá trình
ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác nó tác động tới tương quan giá cả
yếu tố bên trong hoặc bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh
nghiệp không thể kiểm soát được. Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm để điều
khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một
cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó.
iii. Nội dung của công tác xuất khẩu
1. Lập phương án kinh doanh
Nội dụng của công việc này là trên cơ sở khả năng và các nguồn vốn chủ
doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định cho mình hàng loạt các vấn đề như:
Lập phương án sản xuất và xác định các nguồn hàng tiềm năng
Lựa chọn các bạn hàng: Việc lựa chọn tuân thủ nguyên tác hai bên cùng có
lợi, thông thường khi lựa chọn doanh nghiệp thường lưu tâm đến khách hàng
truyền thống. Sau đó là bạn hàng mà các doanh nghiệp khác trong nước đã quen,
khách hàng tiềm năng cũng là căn cứ để xem xét lựa chọn.
Lựa chọn các phương thức giao dịch: Mỗi phương thức giao dịch có đặc
điểm riêng, kỹ thuật tiến hành riêng, nhược điểm nhất định, song doanh nghiệp
phải lựa chọn phương thức giao dịch nào phù hợp với yêu càu của thị trường, với
khả năng của doanh nghiệp.
Lựa chọn điều kiện cơ sở giao dịch
Lựa chọn phương thức thanh toán
Các phương tiện lưu thông tín dụng (hối phiếu, kỳ phiếu, séc …) được dùng làm
phương tiện thanh toán quốc tế hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương
nghiệp và tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong thanh toán quốc tế.
2. Tổ chức điều tra nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế là một loạt các
thủ tục và kỹ thuật được đưa ra để giúp các nhà kinh doanh thương mại có đầy đủ
thông tin cần thiết để từ đó đưa ra những quyết định chính xác về Marketing bởi
vậy nghiên cứu thị trường giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong công tác
kinh doanh thương mại quốc tế.
quy cách, công suất, hiệu suất, thẩm mĩ, để phân biệt giữa hàng hoá này với hàng
hoá khác. Khi đánh giá phẩm chất hàng hoá cần căn cứ vào tiêu chuẩn quốc tế, tập
quán các nước hoặc tiêu chuẩn các bên, đồng thời thống nhất cách giải thích và ghi
rõ trong hợp đồng. Có một số cách xác định được phẩm chất như sau
-Dựa vào mẫu hàng
-Dựa vào phẩm cấp hoặc tiêu chuẩn
-Dựa vào quy cách của hàng hoá
-Dựa vào các chỉ tiêu đại khái quen dung
-Dựa vào hàm lượng thành phẩm thu được từ hàng hoá đó.
-Dựa vào hiện trạng hàng hoá
-Dựa vào sự xem hàng trước
-Dựa vào dung trọng hàng hoá
-Dựa vào tài liệu kỹ thuật
-Dựa vào nhãn hiệu hàng hoá
-Dựa vào mô tả hàng hoá
c. Điều kiện số lượng:
Nhằm nói lên “lượng” của hàng hoá được giao dịch, điều khoản này bao gồm
các vấn đề về đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng) của hàng hoá, phương pháp
quy định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng
Trong khi mua bán hàng hoá, người ta thường dùng một số phương pháp sau:
-Trọng lượng cả bì: Đó là trọng lượng của hàng hoá cùng với trọng
lượng của các loại bao bì hàng đó (VD: một số mặt hàng giấy làm báo, các loại
đậu tập …)
-Trọng lượng tịnh (TLT): đó là trọng lượng thực tiế của bản thân hàng
hoá
TLT = Trọng lượng cả bì - Trọng lượng của vật liệu bao bì
-Trọng lượng thương mại: Là trọng lượng của hàng hoá có độ ẩm tiêu
chuẩn.
100 + W
TC
phương pháp xác định giá bao bì.
Nếu bên bán chịu trách nhiệm cung cấp bao bì, sau đó không thu hồi, thì hai
bên giao dịch thường phải thoả thuận với nhau việc xác định giá bao bì, có một số
trường hợp tính giá bao bì.
-Giá cả bao bì được tính vào giá cả hàng hoá, không tính riêng
-Giá cả của bao bì do bên mua trả riêng
-Giá cả của bao bì được tính như giá cả của hàng hoá
e. Điều kiện giá cả:
Là điều kiện rất quan trọng nó bao gồm những vấn đề: Đồng tiền tính giá,
mức giá, phương pháp quy định giá, phương pháp xắc định mức giá, cơ sở của giá
cả và việc giảm giá.
- Đồng tiền tính giá; giá cả trong buôn bán quốc tế có thể được thực hiện
bằng đồng tiền của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc của một nước thứ ba
nhưng phải là đồng tiền ấn định và tự do chuyển đổi được.
- Mức giá nêu ra là mức giá quốc tế: Việc xuất khẩu thấp hơn giá quốc tế và
nhập khẩu cao hơn giá quốc tế làm tổn hại đến tài sản quốc gia, tuỳ từng điều kiện
mà doanh nghiệp thoả thuận phương pháp quy định giá cố định, giá quy định sau,
giá linh hoạt, giá đi động.
- Giá di động : là giá cả được tính toàn dứt khoát vào lúc thực hiện hợp đồng
trên cơ sở giá cả quy định ban đầu.
b
1
c
1
P
1
= P
0
( A + B + C
)
hàng đã bao hàm các trách nhiệm và chi phí mà người bán phải chịu trong
việc giao hàng: Vận chuyển bốc dỡ, mua bảo hiểm, chi phí lưu kho, làm thủ
tục hải quan …
- Giảm giá: là một trong kỹ thuật xúc tiến quan trọng có hiệu quả nhất
đối với khách hàng có nhiều hình thức giảm gía:
- Giảm giá do trả tiền sớm
- Giảm giá thời vụ
- Giảm giá đổi hàng cũ để mua hàng mới
- Giảm giá đối với những thiết bị đã dùng rồi
- Giảm giá do mua
- Giảm giá đơn
- Giảm giá kép
- Giảm giá luỹ tiến
- Giảm giá tăng trưởng
f. Điều kiện giao hàng:
Nội dung cơ bản của điều kiện giao hàng là sự xác định thời hạn và địa
điểm giao hàng, sự xác định phương thức giao hàng và việc thông báo giao
hàng.
g. Điều kiện thanh toán trả tiền:
Các bên quy định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả
tiền, phương thức trả tiền và các điều kiên bảo đảm hối đoái.
h. Điều kiện khiếu nại:
Khiếu nại là một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất
hoặc thiệt hại mà bên kia đã gây ra, hoặc những sự vi phạm điều đã được
cam kết giữa hai bên. Nội dung cơ bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các
vấn đề: Thể thức khiếu nại, thời hạn khiếu nại, quyền hạn và nghĩa vụ các
bên có liên quan đến khiếu nại, cách thức giải quyết khiếu nại (bằng văn bản
với các nội dung về hàng hoá khiếu nại, yêu cầu khiếu nại và các tài liệu
chứng minh).
i. Điều kiện bảo hành:
Các điều kiện trên có tính chất tuỳ ý, cho phép hai bên được tự nguyện
vận dụng. Nhưng một khi đã được vận dụng vào hợp đồng, chúng trở thành
bắt buộc với các bên ký kết và phải được thực hiện nghiêm chỉnh.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng
4.1. Xin giấy phép xuất khẩu
Giấy phép xuất nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để nhà nước quản lý
xuất nhập khẩu. Công Ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ thường xuất khẩu theo
nghị định thư và các hiệp định đã ký kết với nước ngoài thì hàng năm 6 tháng một
lần bộ chủ quản hoặc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cần đăng ký với Bộ Thương
mại kế hoạch Xuất Nhập Khẩu của mình.
4.2. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu
Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm 3 khâu chủ yếu sau:
- Thu gom bao bì hàng xuất khẩu
- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu
- Việc kể ký mã hiệu hàng xuất khẩu
4.3. Kiểm tra chất lượng
Trước khi giao hàng, người xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng về
phẩm chất, số lượng, trọng lượng bao bì, (trừ kiểm nghiệm) hoặc nếu hàng hoá
xuất khẩu là động vật, thực vật phải kiểm tra về khả năng lây lan bệnh (trừ kiểm
dịch động vật, kiểm dịch thực vật). Vật kiểm nghiệm và kiểm dịch được tiến hành
ở hai cấp: câp cơ sở và ở cửa khẩu
Thuê tàu lưu cước: Trong hợp đồng mua bán ngoại thương việc thuê tàu chở
hàng chỉ được tiến hành dựa vào 3 căn cứ sau đây: Những điều khoản của hợp
đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải, việc
thuê tàu, lưu cước đòi hỏi phải có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình hình
thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu.
4.4 Mua bảo hiểm
Khi mua bảo hiểm doanh nghiệp phải lưu ý tới cái điều kiện bảo hiểm và lựa
chọn công ty bảo hiểm. Có 3 điều kiện bảo hiểm chính:
- Bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiện A)
- Lập bảng đăng ký chuyên chở
- Xuất trình bản đăng ký cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng
- Bố trí phương tiện đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu
- Lấy biên lai thuyền phó, đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường
biển hoàn hảo và chuyển nhượng được, sau đó chuyển về bộ phận kế toán để
lập chứng từ thanh toán.
4.7 Làm thủ tục thanh toán
Có thể nói thanh toán là khâu trọng tâm và kết quả cuối cùng của tất cả
giao dịch kinh doanh thương mại quốc tế. Do đặc điểm buôn bán với nước
ngoài, nếu thanh toán trong kinh doanh thương mại quốc tế phức tạp hơn
nhiều. Có một số phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như sau:
- Thanh toán bằng thư tín dung
- Thanh toán bằng phương thức nhờ thu
+ Nhờ thu phiếu trơn
+ Nhờ thu kèm chứng từ
- Thanh toán bằng đổi chứng từ trả tiền
- Phương thức thanh toán chuyển tiền
Dựa vào đặc điểm của hàng hoá, các điều khoản trong hợp đồng để có
phương thức thanh toán phù hợp cho cả hai bên, thanh toán theo hình thức đã
quy định trong hợp đồng và cần lưu ý rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng
khi hàng hoá có tổn thất hoặc thanh toán có nhầm lẫn thì hai bên có thể khiếu
nại hoặc đi kiện.
4.8 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có)
Khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nếu chủ hàng xuất nhập khẩu bị khiếu
nại đòi bòi thường, cần phải có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong việc xem
xét yêu cầu của khách hàng (người nhập khẩu) việc giải quyết khiếu nại phải
khẩn trương, kịp thời, có tình, có lý.
Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện
nhau tại hội đồng trọng tài (nếu có thoả thuận trọng tài) hoặc tại toà án.
IV. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu
để đó muốn hán lúc nào thì bán, mà phải sản xuất theo đơn đặt hàng, mẫu mã
cụ thể mà khách hàng yêu cầu. ‘ Hàng hoá, phải phù hợp với nhu cầu và chỉ
có thể bán được cho khách hàng cần nó”. Riêng đối với mặt hàng sơn mài,
chạm khảm, điêu khắc mỗi nước xuất khẩu có thể sáng tạo ra những mẫu mã
đặc trưng riêng, nhìn vào hoa văn trang trí ta có thể thấy rằng đây không chỉ
đơn thuần là một mặt hàng xuất khảu mà còn là những tác phẩm nghệ thuật
dân tộc. Sản phẩm càng mang đậm tính văn hoá dân tộc thì càng dẽ thu hút
khách hàng.
2. Màu sắc
Tuỳ từng mặt hàng thủ công mỹ nghệ (đồ gốm sứ, hàng sơn mài, hàng gỗ
điêu khắc, thêu ren, coi ngô dứa …) để có màu sắc phù hợp với thị hiếu của
khách hàng trên các quốc gia khác nhau song nhìn chung:
Đồ gốm sứ: Phải có nước men bóng láng, màu sắc thanh nhã, nhẹ nhàng
kết hợp với đường nét hoa tiết và kích thước mẫu mã gây cảm giác thích thú
khi chiêm gưỡng sản phẩm, chất liệu làm sản phẩm phải mịn màng, không lẫn
tạp chất và nổi bọt khí.
Hàng sơn mài: Khi sử dụng sao cho không bị cong, vênh, sứt mẻ, màu
sắc phải kết hợp hài hoà theo mẫu mã.
Hàng gỗ điêu khắc: Là hàng mỹ nghệ xuất khẩu cao cấp được cắt sấy
chạm trổ trang trí đánh bóng bề mặt. Loại hàng này được làm bằng gỗ pơ mu,
khi sản phẩm hoàn thành, tiền gỗ chiếm khoảng 30% còn lại là tiền công thợ.
Cói, ngô, dừa, thêu ren: các mặt hàng này đòi hỏi cao về màu sắc, màu
sắc phải thanh nhà, phù hợp với kiểu dáng và chất liệu.
3. Chất liệu
Các nguyên liệu sản xuất ra mặt hàng thủ công mỹ nghệ có giá rẻ làm chi
phí sản xuất thấp, giá thành phù hợp chủ yếu là tiền công thợ, rừng nước ta
phong phú về chủng loại cây, là một trong những nước có diện tích cây lấy gỗ
lớn trên thế giới.
Ngoài ra hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng chịu ảnh hưởng nhiều của
thời tiết. Những nguyên liệu sản xuất ra những mặt hàng này như cói, ngô,
Công ty hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, tự chủ về tài chính, có tư
cách pháp nhân, có tài khoản Việt Nam và ngoại tệ ngân hàng và có con dấu
riêng.
Công ty ARTEXPORT- Bảo hiểm chuyên ngành hoạt động theo luật pháp
nước CHXHCN Việt Nam và theo điều lệ do Bộ Thương Mại ban hành.