PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA
VIỆT NAM SAU MỘT NĂM RA NHẬP WTO
1. Xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam qua các thời kỳ
1.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản
Thời kỳ 2002 - 2007, xuất khẩu hàng nông sản đã đạt được bước tiến đáng
khích lệ. Kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này (không kể thủy sản) đạt khoảng
5.5 tỷ USD và tăng đều qua các năm, cùng với đó các mặt hàng nông sản xuất
khẩu cũng đa dạng hơn:
Bảng 5: Biểu xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam (Triệu USD)
Năm
Mặt hàng
2003 2004 2005 2006 2007
Gạo 564 263 1291 2024 3035
Cà phê 601 1211 1490 1594 2691
Cao su 190 654 785 1012 1165
Chè 614 726 748 1050 1546
Điều 426 844 1133 1017 1293
Hồ tiêu 318 415 463 564 838
Nguồn: Niên giám thống kê 2007
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam từ năm 2002 - 2007
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Kim ngạch xuất khẩu hàng
nông sản
Triệu
tấn
3.24 3.92 4.06 5.23 5.37 5.46
Triệu
USD
608 693 859 1390 1450 1500
khác cũng có những chuyến biến tích cực như Nhật Bản tăng 4 lần, Nam Phi tăng
4 lần…Riêng mặt hàng cao su năm nay đã vươn lên vị trí thứ 2 với mức 772 triệu
USD khi xuất khẩu được 564000 tấn, tăng 10% về lượng và 29.4% giá trị.
Tiếp theo vẫn là các mặt hàng truyền thống như hạt điều với lượng xuất khẩu
103000 tấn và giá trị đạt 481 triệu USD (tăng trên 10%), hạt tiêu với lượng 106000
tấn và giá trị 146 triệu USD, rau quả đạt giá trị kim ngạch gần 235 triệu USD và
tăng 31,1% so với năm 2004, riêng mặt hàng lâm sản đạt 1.74 tỷ USD và tăng
44.2% so với nắm trước.
Sau một năm gia nhập WTO, năm 2007, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt kết
quả cao với tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 12.6 tỷ USD, tăng 20% so với năm
2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và vượt mục tiêu đề ra cho
năm 2010 tới 1.5 tỷ USD. Hầu hết các mặt hàng nông sản đều được giá nên giá
trị xuất khẩu tăng mạnh với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở
lên như thủy sản, gạo, cà phê, cao su, sản phẩm gỗ. Trong đó kim ngạch nông
sản ước đạt khoảng 6.2 tỷ USD, so với kế hoạch tăng 26.7%, so với năm trước
tăng 22.5%. Trong năm 2007, cả nước có 9 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất
khẩu trên 1 tỷ USD, ngành nông nghiệp chiếm 5 mặt hàng. Các mặt hàng xuất
khẩu nông sản chủ lực như ( gạo, cao su, cà phê, tiêu, điều) đều đang đứng vị trí
hạng cao và có thế mạnh cạnh tranh trên thế giới, đem lại kim ngạch xuất khẩu
lớn. Về tốc độ tăng trưởng kim ngạch năm nay của các mặt hàng nông sản so với
năm trước, mặt hàng cà phê có tốc độ tăng cao nhất với mức tăng gần 50%. Năm
2007, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu cà phê vượt qua mặt hàng gạo. Cà phê là
mặt hàng về đích sớm với khoảng 1.8 tỷ USD, tăng gần 50% so với năm 2006.
Mặt hàng gỗ chế biến đạt khoảng 2.34 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006, cao su
trên 1.4 tỷ USD, tăng 10%, gạo là 1.48 tỷ USD, tăng 16%, trong khi đó thủy sản
vẫn dẫn đầu với mốc 3.75 tỷ USD. Ngoài ra, hàng loạt nông sản khác cũng được
cải thiện đáng kể về chất lượng, giá trị mà đáng chú ý nhất là hồ tiêu với giá xuất
khẩu bình quân 3500 USD/tấn, vì vậy, dù lượng xuất khẩu năm 2007 giảm khoảng
15% so với năm 2006, nhưng kim ngạch vẫn đạt 300 triệu USD, tăng 57.9%.
Những nỗ lực của ngành chè trong việc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp
sản cũng được mở rộng đáng kể. Từ chỗ chỉ phụ thuộc chủ yếu vào thị trường
Liên Xô cũ và Đông Âu vào những năm 1990, đến nay, hàng nông sản Việt Nam
đã có mặt trên 100 quốc gia, trong đó có các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật
Bản, EU, ASEAN, Mỹ.
Trên thực tế, một số mặt hàng nông sản đã chiếm giữ được vị thế quan trọng
như gạo đứng thứ 2 sau Thái Lan, cà phê đứng thứ 2 sau Brazil, hạt tiêu đứng
thứ 3 sau Ấn Độ và Indonesia, nhưng thị phần các mặt hàng này vẫn còn khiêm
tốn, đối với các mặt hàng như thịt và rau quả thị phần hầu như không đáng kể.
Hiện mặt hàng gạo mới chiếm khoảng 20 - 25% thị phần thị trường gạo, cà phê
chiếm khoảng 15 - 20% thị phần thương mại cà phê, hạt tiêu chiếm 30% thị phần
mậu dịch hạt tiêu và hạt điều chiếm khoảng 25% thị phần hạt điều thế giới. Còn
cao su và chè chỉ chiếm khoảng 10% thị phần thế giới. Ở Đồng bằng sông Cửu
Long có trái ngon, nhiều loại đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, nhưng năng suất kém, độ
đồng đều thấp, không đủ số lượng để đưa ra thị trường thế giới, nhất là công
nghệ sau thu hoạch gần như bị bỏ quên.
Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi năm sản lượng lương thực đạt khoảng 20
triệu tấn nhưng công suất hệ thống kho chứa bảo quản trong toàn vùng chỉ đạt
35000 tấn. Số lượng còn lại đều do nông dân tự lo. Yếu tố này đã làm hao hụt một
lượng khá lớn nông sản. Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, hiện thất thoát nông sản dạng hạt bình quân vào khoảng 18%/năm, dạng
quả và củ trên 22%/năm. Đây là tỷ lệ khá cao so với mức hao hụt bình quân 10%
của các nước trong khu vực. Các chuyên gia nông nghiệp đã ước tính, chỉ cần
giảm mức hao hụt nông sản sau thu hoạch xuống 10% thì có thể tăng sức cạnh
tranh lên 7% và nông dân tăng thu nhập hơn 3%.
Trong thời kỳ vừa qua, Việt Nam được mùa về xuất khẩu các mặt hàng nông
sản với kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, các mặt hàng nông sản xuất khẩu ngày
càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng các mặt hàng nông sản
xuất khẩu cũng được nâng cao...Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, nhìn một cách tổng quát thì nền nông nghiệp của nước ta vẫn có
năng suất,chất lượng và hiệu quả cạnh tranh thấp so với nhiều nước trên thế giới.
giới WTO. Ngoài các thị trường truyền thống như Trung Quốc, ASEAN, Nga, các
nước Đông Âu, hàng hóa nông sản Việt Nam bước đầu đã thâm nhập vào những
thị trường đầy tiềm năng và cũng rất khó tính như EU, Mỹ, Châu Phi...
Sau đây là thị trường xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam:
Thị trường xuất khẩu cà phê:
Bảng 7: Thị trường xuất khẩu cà phê
Thị trường xuất khẩu Đức Mỹ Anh Bỉ Italia Nhật
Thị phần (%) 17.8 13.8 12.7 7.3 5.6 3.2
Nguồn: Thời báo kinh tế 2007
Về xuất khẩu cà phê, Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều
nước trên thế giới, nhất là khi vào WTO như: Đức: 17.8%; Mỹ: 13.8%; Anh:
12.7%; Bỉ: 7.3%; Tâ; Nhật: 3.2%...Tuy nhiên điểm đáng yếu nhất của việc xuất
khẩu cà phê Việt Nam là chất lượng cà phê. Trong thời gian qua, chất lượng cà
phê của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu của thị trường bên ngoài như: Nhật, EU, Mỹ…Điều này làm cho giá cà phê
của Việt Nam thường thấp hơn so với các mặt hàng cùng loại với nước ngoài.
Mặt khác, chủng loại cà phê xuất khẩu ta vẫn chưa phù hợp với thị hiếu tiêu dùng
trên thế giới. Hiện nay, thị trường thế giới có nhu cầu lớn về cà phê ARABICA
chiếm 70 - 80% nhưng diện tích cà phê ở Việt Nam lại chiếm tới 65% là cà phê
Rubusta. Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần phải chuyển đối cơ cấu cà phê
cho phù hợp với nhu cầu trên thế giới.
Thị trường xuất khẩu rau quả:
Bảng 8: Thị trường xuất khẩu rau quả 12/2007
Thị trường
T12/07
(USD)
So T11/07
(%)
So T12/06
(%)
trường nhập khẩu gạo lớn nhất trong năm 2006 của nước ta. Riêng xuất khẩu tới
Philippin đã đạt hơn 1.5 triệu tấn, gần bằng 1/3 trong tổng lượng gạo xuất khẩu
của Việt Nam, và cao hơn hẳn (gấp 3 lần) so với khối lượng xuất khẩu tới thị
trường lớn tiếp theo là Malaixia. Tuy nhiên, giá xuất khẩu tới Philippin trong năm
qua không được cao, trong khi khối lượng xuất khẩu tăng 15% so với năm 2005
thì kim ngạch thu được lại giảm hơn 7%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Indonexia
đạt mức tăng trưởng cao, tăng tới 245.8% về lượng và tăng tới 283.1% về trị giá
so năm 2005. Ngược lại, xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà lại giảm 35.3% về lượng và
giảm 31.7% về trị giá so năm 2005..
Ngoài ra, xuất khẩu gạo của ta trong năm 2006 sang một số thị trường như
Thổ Nhĩ Kỳ, Irắc, Đài Loan, Georgia, Litva, Mỹ…cũng tăng mạnh. Ngược lại, xuất
khẩu sang Etiôpia, Hà Lan, Xenegan, Modambic…lại giảm khá mạnh so năm
2005.
Bảng 9: Thị trường xuất khẩu gạo năm 2006
Thị trường
Năm 2006 So 2005
Lượng (tấn) Trị giá (USD)
Lượng
(%)
Trị giá (%)
Philippine 1509854 429249075 14.97 -7.15
Malaixia 504622 139550798 11.59 19.92
Cuba 453100 131240402 6.89 -4.37
Inđônêxia 339830 104616910 245.81 283.10
Bờ Biển Ngà 213550 5114867 -35.32 -31.70
Angola 181708 47547856 -10.83 -11.30
Nhật Bản 165222 43095581 -16.06 -19.33
Ghana 115718 28538890 63.11 64.33
Nam Phi 104653 24907944 -58.58 -56.56
Singapore 103151 26753028 147.97 154.87
tháng 5 trở lại đây, thị trường gạo xuất khẩu của Việt Nam đã sôi động hẳn. Hiện
nay, xuất khẩu mặt hàng gạo đã đạt 50% mục tiêu về khối lượng và trên 50% mục
tiêu về kim ngạch xuất khẩu.Viện Nghiên cứu Thương mại cho biết, trong 6 tháng
đầu năm 2006, xuất khẩu gạo đạt 2.94 triệu tấn, kim ngạch đạt 795 triệu USD,
tăng 7,8% về khối lượng và 4.3% về kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, Châu Á là thị
trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta, hiện chiếm tới 75% lượng gạo xuất khẩu
của cả nước.Sau một thời gian chuyển sang mua gạo của Pakistan, các khách
hàng Châu Phi đã quay lại với nguồn cung ứng từ Việt Nam. Philippines cũng
đang có kế hoạch mua thêm 100 nghìn tấn gạo Việt Nam để đảm bảo nguồn cung
cho thị trường trong 3 tháng giáp hạt sắp tới. Đặc biệt, mới đây, vụ trúng thầu xuất
khẩu 50000 tấn gạo loại 5% tấn với giá tới 270 USD/tấn (giá FOB) vào thị trường
Iraq cũng góp phần làm "nóng" thêm bầu không khí thu mua, chế biến, xuất khẩu
gạo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp
tục đà tăng mạnh do nhu cầu nhập khẩu gạo Việt Nam từ một số thị trường có xu
hướng tăng.
Đến cuối tháng 9/2007, cả nước xuất khẩu được 3.7 triệu tấn, còn 800000
tấn, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam (VN) đạt bình quân 293 USD/tấn, tăng 42
USD/tấn so với năm 2006. Điều đáng nói, lần đầu tiên, giá gạo VN xuất khẩu
ngang bằng với gạo Thái Lan cùng cấp các loại, từ 5% tấm, 10%, 15% đến 20%
tấm, và mới đây, gạo loại 25% tấm của VN đã trúng thầu cao hơn gạo Thái Lan
8USD/tấn. Giá trúng thầu rất cao 350 USD/tấn, so với Thái Lan là 342 USD/tấn.
Năm 2008, do giá gạo 5% tấm xuất khẩu tăng từng ngày và các hợp đồng
đăng ký có thời hạn giao hàng trong tháng 2/2008 đến nay số lượng đã nhiều
trong lúc thời vụ thụ hoạch đông xuân mới bắt đầu, Hiệp hội Lương thực Việt Nam
vừa đề nghị các Doanh Nghiệp thành viên tạm ngừng đăng ký tiếp các hợp đồng
gạo trắng các loại có thời hạn giao hàng trong tháng 2/2008 để chờ những mức
giá tốt hơn. Riêng nếp và gạo thơm cho đăng ký bình thường. Các hợp đồng có
thời hạn giao hàng từ tháng 3/2008 chờ hướng dẫn mới của Bộ Công thương.
Thời gian qua, việc ký kết, đấu thầu xuất khẩu gạo của các Doanh Nghiệp Việt
Nam cũng khá thuận lợi khi các Doanh Nghiệp vừa trúng thầu xuất khẩu 300000
Các nước ASEAN: Gần nước ta về địa lý, nên nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng
nông sản gần gũi với Việt Nam. Gạo là mặt hàng chính xuất sang 3 nước:
Indonesia, Malaysia và Philippines từ 1 triệu tới 3 triệu tấn. Các mặt hàng khác:
cao su, hồ tiêu, hạt điều, cà phê...xuất sang các nước này chủ yếu qua trung gian
Singapore, Thái Lan...Tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN đạt gần 500 triệu
USD.
Các nước Trung Đông: (Iraq, Iran...) đang tiêu thụ nhiều loại nông sản của ta
như: gạo, chè, quế, hồi...Kim ngạch đạt gần 200 triệu USD/ năm.
Các nước EU: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị
trường EU những năm gần đây thường xuyên chiếm 18 - 19% kim ngạch xuất
khẩu toàn ngành nông nghiệp nước ta.
Với thị trường này, kim ngạch xuất khẩu khoảng 300 - 350 triệu USD/năm;
chủ yếu là cà phê, gạo, cao su, hồ tiêu, đồ gỗ thành phẩm, nhất là đồ gỗ ngoài
trời, hạt điều, chè và một số quả nhiệt đới đã chế biến...Những nhóm hàng có kim
ngạch xuất khẩu vào thị trương EU ổn định và liên tục tăng từ năm 2000 đến nay
như: sản phẩm gỗ 77%/năm, điều nhân 32%/năm, chè 35,8%/năm, cao su sơ chế
44,7%/năm, rau quả 35,5%/năm. Riêng cà phê đã có dấu hiệu phục hồi sau vài
năm đi xuống, cà phê là một trong những mặt hàng nông sản đang khai thác tốt
và có thị phần tương đối lớn ở khu vực này: Tại Bỉ chiếm 10,1% thị trường nhập
khẩu, Pháp chiếm 48,5%, Đức chiếm 57%, Italy chiếm 49,6%, Tây Ban Nha chiếm
53,9%, Anh chiếm 64,2%... Có những mặt hàng vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng của nước ta, sản phẩm chè năm 2003 mới chỉ chiếm khoảng 1,8% thị phần
nhập khẩu của EU, gỗ chiếm khoảng 1%, rau quả không đáng kể.
Nga và các nước Đông Âu: Hiện nay, xuất khẩu nông sản sang các nước này
giảm đi so với trước do rủi ro cao, phải cạnh tranh với nhiều nước như EU, Mỹ,
Thỗ Nhĩ Kỳ...Kim ngạch xuất khẩu đạt khaỏng 5060 triệu USD/năm, chủ yếu là
gạo, cao su, cà phê, chè, thịt, hồ tiêu, rau quả...Đây là các thị trường truyền thống
đã từng tiêu thụ một lượng lớn hàng nông sản Việt Nam, đang phục hồi nhu cầu
tiêu dùng ngày một tăng, vì thế chính sách hỗ trợ xuất khẩu vào thị trường này đối
với một số mặt hàng như thịt, rau quả, gia vị, chè... là cần thiết.
ngạch nhập khẩu nông, lâm sản của nước này. Đây thực sự là một con số khiêm
tốn so với tiềm năng hiện có của ngành nông sản Việt Nam cũng như nhu cầu
nhập khẩu của thị trường Mỹ. Nhận định của ông William Troy, Công ty Thương
mại Toàn cầu (Mỹ): “Sỡ dĩ khả năng thâm nhập thị trường Mỹ của hàng nông sản
Việt Nam còn hạn chế, chính là do năng lực cạnh tranh kém". Trong khi đó, kim
ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang các nước thuộc khối ASEAN
vẫn luôn phập phù, dao động từ 400 - 900 triệu USD/năm với mặt hàng chủ yếu là
gạo.
2. Tác động của hội nhập WTO đến động thái xuất khẩu hàng nông sản sau một
năm
2.1. Xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam thuận lợi sau một năm vào WTO
Nông nghiệp được coi là lĩnh vực chịu nhiều tác động nhất trong quá trình gia
nhập Tổ chức Thương mại Thề giới WTO của Việt Nam. Nhiều lo ngại về sức
cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên sân chơi lớn này xuất phát từ những
hạn chế trong năng lực sản xuất, chế biến, tạo dựng thương hiệu và uy tín của
từng mặt hàng nông sản. Kể từ khi bước sang thế kỷ 21 và nhất là sau khi gia
nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có
nhiều thay đổi tích cực.