THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN CỦA VIỆT
NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
2.1. Tổng quan về thị trường thuỷ sản EU
2.1.1. Đặc điểm thị trường EU
- Về kinh tế
EU với 27 nước thành viên có tổng diện tích khoảng 4 triệu km2, dân số
gần 500 triệu người, GDP khoảng 13.000 tỷ USD, bình quân đầu người
29.000 USD/năm (số liệu năm 2006), là khu vực phát triển kinh tế cao.
EU thực hiện một chính sách thương mại chung trong toàn khối và áp
dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào phi thuế quan (tiêu chuẩn
kỹ thuật, kiểm soát chất lượng…), thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ
cấp… Các thoả thuận thương mại của EU với các đối tác ngoài khối có thể
được gắn với các yêu cầu phi thương mại như bảo vệ môi trường, điều kiện
lao động, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thậm chí cả vấn đề nhân
quyền. Ngay cả việc dành ưu đãi GSP cho các nước đang phát triển cũng
được EU gắn với các vấn đề chính trị.
EU sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp dựa trên các
nguyên tắc “minh bạch hoá và cạnh tranh công bằng”. Một số chính sách sẽ
được áp dụng nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh
doanh thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, tăng khả năng tiếp cận vốn, trợ giúp tài chính và nguồn lao động
cho các doanh nghiệp, gắn mọi hoạt động với nghĩa vụ bảo vệ môi sinh. Đây
cũng là mục tiêu trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của EU
giai đoạn 2007 – 2013.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 1 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
EU rất cứng rắn trong các tranh chấp thương mại và thắt chặt quản lý
chất lượng hàng hoá nhập khẩu, kể cả với các đối tác lớn và quan trọng như
Mỹ, Nga, Trung Quốc. Trong thương mại quốc tế, bên cạnh mục tiêu hướng
tới tự do hoá thương mại toàn cầu, EU sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp cân
bằng thương mại được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho phép, như
chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu…
ASEAN 18,5 25,7 -7,2
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 3 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
(nguồn Eurostat)
Do chưa được EU công nhận có nền kinh tế thị trường nên hàng hoá của
Việt Nam chưa được hưởng hoàn toàn lợi ích của việc là thành viên WTO và
phần nào bị đối xử kém thuận lợi so với một số nước khác, đặc biệt là trong
các vụ kiện bán phá giá.
EU đã bắt đầu sử dụng vấn đề bảo vệ môi trường để hạn chế nhập khẩu
một số loại hàng hóa nguồn gốc thiên nhiên. Điển hình là việc Tây Ban Nha
và Bồ Đào Nha không cho cá kiếm của Việt Nam nhập khẩu từ tháng
12/2007 với lý do Việt Nam chưa phải là thành viên của Ủy ban Nghề cá Tây
và Trung Thái Bình Dương (WCPFC).
- Về văn hóa, thị hiếu tiêu dùng
Với gần 500 triệu người tiêu dùng có mức thu nhập cao, EU luôn là một
thị trường lớn và khó tính. Người tiêu dùng EU có thị hiếu thay đổi nhanh,
yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa, vệ sinh môi trường, nhãn mác, bao bì...
Các doanh nghiệp nước ngoài muốn thâm nhập được thị trường EU phải có
khả năng cạnh tranh cao và trình độ kinh doanh chuyên nghiệp.
Những thay đổi về xu hướng tiêu thụ là do những thay đổi về sở thích
của người tiêu dùng và trong cơ cấu cung cấp sản phẩm. Vai trò của các siêu
thị ngày càng tăng đã khiến cho thuỷ sản được quan tâm nhiều hơn. Hơn nữa,
ngành thuỷ sản của các nước đã mở rộng chủng loại sản phẩm, mang lại thành
công trong việc giới thiệu các sản phẩm mới như cá hồi nuôi và cá vược sông
Nile với lợi ích kinh tế và sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng.
- Người tiêu dùng ngày càng hướng tới các sản phẩm có lợi cho sức
khoẻ, thích ứng với dạng sản phẩm an toàn. Họ thích các sản phẩm ít béo và
có giá trị dinh dưỡng cao. Thuỷ sản có hàm lượng prôtêin, các vitamin và chất
khoáng cao thích hợp cho nhu cầu này. Ngoài ra, các sản phẩm thuỷ sản có
chất lượng thường đóng vai trò chống lại các nguy cơ về sức khoẻ.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 4 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
* Tình hình chung
EU là là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế
giới. Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Italy và Anh là những thị trường nhập khẩu
chính, giá trị nhập khẩu thủy sản hàng năm vượt 1 tỷ USD và các nước này
cũng chiếm gần 80% giá trị nhập khẩu thủy sản của EU. Tuy nhiên, như trên
đã trình bày, phần lớn sản phẩm thuỷ sản được nhập khẩu từ các nội bộ các
nước trong khối. Ngoài ra, để bổ sung một số sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ, chủ yếu là các sản phẩm thuỷ sản nước ấm, EU cũng nhập khẩu thuỷ sản
từ hơn 180 nước khác trên thế giới. (Theo fistenet)
* Nhập khẩu thủy sản của một số nước thành viên EU
- Tây Ban Nha
Tây Ban Nha là nước nhập khẩu thủy sản lớn thứ ba thế giới, đứng đầu
EU. Giá trị nhập khẩu của Tây Ban Nha bằng 16,8% giá trị nhập khẩu thủy
sản toàn EU. Tây Ban Nha nhập khẩu chủ yếu là các sản phẩm tôm đông lạnh,
cá tươi và đông lạnh, nhuyễn thể, cá hun khói và cá đóng hộp. Tôm đông lạnh
là sản phẩm chính với sản lượng cao nhất hàng năm đạt 9,0 đến 9,6 tấn.Các
thị trường nhập khẩu chính của Tây Ban Nha là Trung Quốc, Achentina,
Colombia, Ấn Độ, Thái Lan và Malaixia,….
(Nguồn :http://www.europa.admin.ch/)
- Pháp
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 6 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
Pháp là nước nhập khẩu thủy sản lớn thứ tư thế giới và thứ nhì trong
khối EU. Giá trị nhập khẩu thủy sản hàng năm chiếm 11,5% giá trị nhập khẩu
lương thực thực phẩm và 1% tổng giá trị nhập khẩu của Pháp. Có 3 nhóm sản
phẩm thủy sản nhập khẩu chính của thị trường Pháp là cá tươi và cá, giáp xác,
nhuyễn thể đông lạnh; và thủy sản đóng hộp, thủy sản tẩm bột,... Trong các
mặt hàng nhập khẩu thì cá philê đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo
là tôm đông lạnh. Tiêu thụ tôm của Pháp phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nhập
khẩu.
(Nguồn : http://www.europa.admin.ch/)
- Hy Lạp
Theo thống kê gần đây nước cung cấp thủy sản cho Hy Lạp nhiều nhất là
Đan Mạch với 32.700 tấn, Italy 14.900 tấn, Hà Lan 12.400 tấn. Nhập khẩu từ
Đan Mạch chủ yếu gồm bột cá làm thức ăn chăn nuôi.
Các nước thành viên EU thuộc Bắc Âu đều có biển, nguồn hải sản tương
đối phong phú, có nghề đánh bắt hải sản truyền thống nên có thế mạnh về
xuất khẩu hải sản (trong đó có tôm, nhất là các loại tôm nước lạnh). Nhập
khẩu tôm của các nước này chủ yếu có tính chất bổ sung chủng loại cho nhau
giữa các nước trong khu vực. Nhập khẩu từ khu vực châu Á không lớn do sức
tiêu thụ của các nước này khá thấp (do dân số ít, khách du lịch đến Bắc Âu
không đông và người dân không có tập quán ăn nhiều hải sản)
(Nguồn:http://www.europa.admin.ch/)
2.1.3. Các quy định pháp lý đối với thuỷ sản nhập khẩu vào EU
Thị trường châu Âu là thị trường khó tính và nghiêm ngặt. Họ đưa ra
hàng loạt các quy định pháp lý về chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh để
bảo vệ cho sức khoẻ người tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết
định thành công khi thâm nhập thị trường này.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 8 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
Xuất khẩu thuỷ sản vào EU bắt buộc phải có chứng nhận chính thức dựa
trên việc EU công nhận cơ quan thẩm quyền của các nước xuất khẩu. Các
nước xuất khẩu phải có một cơ quan thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc
quản lý chính thức thông suốt cả hệ thống sản xuất. Tháng 4/2004, EU đã
thông qua các quy định về kiểm soát thực phẩm mới và toàn bộ các quy định
về vệ sinh.
Từ 1/1/2006, EU đưa ra luật quản lý thực phẩm và thức ăn cho vật nuôi
mới gọi là đóng gói vệ sinh, trong đó quy định về tiêu chí vi sinh đối với thực
phẩm, quy định về kiểm soát thực phẩm và thức ăn cho vật nuôi cũng như quy
định vệ sinh thức ăn cho vật nuôi tạo thành một bộ các quy định chặt chẽ và
hài hoà khung hiệp định an toàn thực phẩm của EU.
Quy định đóng gói vệ sinh rõ ràng hơn và nghiêm ngặt hơn về vệ sinh
đối với một số sản phẩm nhất định theo Quy định 853/2004, 854/2004 và
882/2004 và các văn bản hướng dẫn thực hiện theo Quy định 852/2004, phần
bổ sung cho Quy định 853/2004 và Quy định 854/2004.
-Ðến 31/12/2009, EU sẽ cho phép sắp xếp chuyển đổi để tạo thuận lợi
cho giai đoạn chuyển tiếp giữa quy định vệ sinh thực phẩm mới và cũ. Các
biện pháp chuyển đổi được đề ra trong Quy định 2076/2005.
+ Quản lý thực phẩm và thức ăn cho vật nuôi
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 10 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
Quy định 882/2004 của Hội đồng châu Âu thiết lập các hệ thống kiểm
soát hài hoà của EU bao gồm cả an toàn thực phẩm và thức ăn cho vật nuôi,
các nguyên tắc về phúc lợi và sức khoẻ động vật. Liên quan đến việc kiểm
soát nhập khẩu, các nước thứ ba sẽ phải đảm bảo rằng các sản phẩm xuất
khẩu vào thị trường EU phải đáp ứng được những tiêu chuẩn cần thiết.
+ Quy định dán nhãn
Ba quy định chính liên quan đến việc dán nhãn là Quy định 2000/104/EC,
Chỉ thị 2000/13/EC và Quy định 2065/2001/EC. Tất cả các luật mới của EU
đều (và sẽ) dựa trên quyền lợi của người tiêu dùng và sự an toàn theo phương
thức người tiêu dùng sẽ không bị bất kỳ sản phẩm nào hay bao bì nào đánh
lừa. Ðối với yêu cầu vệ sinh thực phẩm, đặc biệt là truy xuất nguồn gốc các
sản phẩm thuỷ sản, quy định của EU yêu cầu tất cả các sản phẩm đóng gói
phải ghi nước xuất xứ. Nhãn mác phải được in lên gói hàng hoặc thùng các
tông để tránh bị tẩy xoá hoặc rách khi sử dụng. Ngôn ngữ sử dụng phải chính
thống và dễ hiểu.
+ Ðộc tố và chất gây ô nhiễm trong các sản phẩm thuỷ sản
EU đã chi tiết hoá việc kiểm soát pháp lý đối với việc sử dụng và theo
dõi các loại thuốc thú y và các loại thuốc khác có trong cá và thuỷ sản, việc
kiểm soát pháp lý những chất bị cấm chỉ định trong động vật và kiểm soát các
sản phẩm dự tính xuất khẩu phải có hiệu lực ở nước thứ ba.
Quy định 466/2001 đưa ra mức độ tối đa cho phép đối với một số chất
gây ô nhiễm nhất định trong thực phẩm. Ðối với thuỷ sản và thuỷ sản nuôi,
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 12 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
- Khai thác
Nghề đánh bắt thuỷ sản đã hình thành từ cách đây hàng ngàn năm. Thời
kỳ sơ khai, người dân đã đánh bắt cá ở các đầm, ao, hồ, dọc các cửa sông
bằng những dụng cụ thô sô như lao, xiên, bẫy, sau đó di chuyển dọc các sông,
hướng dần ra biển để khai thác hải sản ở vùng ven biển.
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều hộ ngư dân đã có phương
tiện đánh bắt, thậm chí một số hộ còn làm chủ nhiều phương tiện khai thác.
Các thành phần kinh tế như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn cũng đã tham gia hoạt động khai thác hải sản.
Phát triển khai thác hải sản xa bờ đã góp phần thực hiện chuyển dịch cơ
cấu nghề cá, giảm áp lực khai thác vùng gần bờ, tạo việc làm cho hơn 60.000
lao động, đồng thời hạn chế các tàu thuyền nước ngoài vào khai thác hải sản
trái phép ở vùng biển Việt Nam, góp phần bảo vệ an ninh trên biển và chủ
quyền vùng biển quốc gia.
- Chế biến
Chế biến thủy sản là khâu rất quan trọng của chu trình sản xuất, kinh
doanh thủy sản. Các khía cạnh được đánh giá cụ thể như sau:
+ Nguồn nguyên liệu và cơ cấu sử dụng nguyên liệu cho chế biến thủy sản
Do tổng sản lượng thuỷ sản tăng mạnh và công nghệ chế biến, thói quen
tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi nên lượng nguyên liệu được đưa vào chế
biến ngày càng nhiều.
+ Chất lượng nguyên liệu
Vì những lý do kinh tế, tài chính, kỹ thuật mà ngư dân chưa thể áp dụng
những công nghệ bảo quản mới nên chất lượng nguyên liệu thuỷ sản chưa
cao.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 13 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
+ Các cơ sở vật chất kỹ thuật và sự phân bố theo vùng nguyên liệu của
công nghiệp chế biến thủy sản
Cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành chế biến thuỷ sản Việt Nam phát triển
t c kt qu mong i. én nay, s doanh nghip Vit Nam c cụng
nhn ỏp ng cỏc yờu cu v tiờu chun an ton v sinh thc phm (ATVSTP)
xut khu sn phm vo th trng ny ó t ti 209 doanh nghip. Bờn
cnh ú, v kin chng bỏn phỏ giỏ cỏ tra v ba sa vo M nm 2004 ó khin
cỏc doanh nghip xut khu mt hng ny chuyn hng vo th trng chõu
u. éõy cng l mt trong nhng nguyờn nhõn dn n vic tng nhanh kim
ngch xut khu thu sn ca VN vo th trng EU t nm 2004. Ngoi ra,
s kin EU m rng lờn 25 nc thnh viờn ó nõng kim ngch xut khu
sang th trng ny nm 2004 t 231,5 triu USD, tng khong 88% so vi
nm 2003, chim t trng gn 10%. Mc dự cú nhng thng trm, nhng EU
vn gi c u th ca khi th trng ln i vi thu sn xut khu ca
VN, chim khong 16% tng kim ngch xut khu nm 2005, t 433 triu
USD. nm 2006 xut khu thu sn c nc t 821, 68 nghỡn tn tr giỏ 3,
364 t USD tng 31,3% v khi lng v 23,31% v giỏ tr so vi nm 2005.
Nm 2007, xut khu thu sn t 3, 8 t USD tng 12,96% so vi nm 2006
tuy nhiờn mc tng ny cha t nh k vng trong nm u tiờn gia nhp
WTO vi lý do doanh nghip xut khu thu sn Vit Nam phi i mt vi
quỏ nhiu ro cn v sinh an ton thc phm ca nhng th trng vn c
coi l th mnh ca Vit Nam nht l th trng Nht Bn. Sn lng thu
SV: Ngô Thị Lơng Thu 15 Lớp: Kinh tế Quốc tế 47
sản tháng 7/2008 đạt 427,5 nghìn tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước,
trong đó nuôi trồng đạt 251 nghìn tấn, tăng 21,5%; khai thác đạt 176,5 nghìn
tấn, tăng 2,7%. Nuôi trồng thuỷ sản hiện đang gặp nhiều khó khăn do giá thức
ăn tiếp tục tăng trong khi giá cá thịt và giá xuất khẩu thuỷ sản chế biến giảm,
cá tra đến thời kỳ thu hoạch nhưng không tiêu thụ được. Một số địa phương
có lượng cá tồn đọng nhiều là: An Giang 25 nghìn tấn; Đồng Tháp trên 27
nghìn tấn; Cần Thơ 12 nghìn tấn; Vĩnh Long 11 nghìn tấn. Khai thác thủy sản
thuận lợi hơn do đang vào vụ cá nam là vụ đánh bắt chính trong năm và chưa
bị ảnh hưởng nhiều của mưa bão. Tính chung 7 tháng, sản lượng thủy sản đạt
2551,5 nghìn tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước (Cá đạt 1986,4 nghìn
KNXK của
Việt Nam
8,7 10,3 11.0 9,6 9,04 8,28 8,49 7,79 6,23
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 17 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
(Nguồn: www.fistenet.gov.vn)
Nguồn: www.fistenet.gov.vn
* Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Từ nhiều năm nay, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của VN vẫn
là tôm, cá tra, cá biển, nhuyễn thể, các loại thủy sản đông lạnh và các loại
thủy sản khô. Cơ cấu các mặt hàng XK của nước ta ngày càng bổ sung thêm
các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một số đặc sản khác. Cơ cấu sản
phẩm xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong thời gian hơn 2 thập
kỷ qua.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 18 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
Năm 1986 hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dưới dạng
nguyên liệu sơ chế đông lạnh, trong đó tôm chiếm tới 64%, xuất khẩu cá
không đáng kể. Từ đó đến nay, mặc dù khối lượng và giá trị xuất khẩu tôm
vẫn liên tục tăng nhưng tỷ trọng trong tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu đã
giảm dần do các mặt hàng khác tăng nhanh hơn, đặc biệt là cá. Do tình hình
kinh tế thế giới có biến động, những nước nhập khẩu thuỷ sản lớn như Mỹ,
Nhật Bản gặp khó khăn về kinh tế, thị hiếu tiêu dùng có thay đổi, chuyển sang
tiêu thụ những sản phẩm kém xa xỉ, giá trung bình thấp tức là chuyển một
phần tiêu thụ từ tôm sang cá. Mặt khác do các doanh nghiệp Việt Nam đã chú
ý đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất các mặt hàng cá theo hướng thuận tiện cho
người sử dụng, chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm từ nguyên liệu đến chế
biến nên đã tận dụng được nguồn nguyên liệu đưa vào chế biến xuất khẩu.
Đến năm 2003, xuất khẩu cá đã chiếm 1/3 khối lượng và 1/5 giá trị xuất khẩu.
Năm 2005, Việt Nam xuất khẩu 258,25 nghìn tấn cá các loại (chiếm tới
40,91% khối lượng xuất khẩu) gồm các mặt hàng cá đông lạnh, cá khô, và sản
phẩm cá trị gia tăng khác, thu về 691,94 triệu USD (25,36% kim ngạch xuất
27,8% so với cùng kỳ năm 2006. Đơn giá của cá ngừ đại dương khá cao, vì
vậy đây cũng là đối tượng sản phẩm thu hút sự đầu tư phát triển của các ngư
dân và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Một điểm đáng chú ý và lạc quan trong tình hình XKTS của VN là mặt
hàng mực và bạch tuộc đông lạnh đạt mức tăng trưởng có thể nói là cao nhất
trong mấy năm gần đây với 35,5% năm 2007 cao hơn về giá trị so với cùng
năm 2006, đạt 60,4 nghìn tấn, trị giá 205,5 triệu USD, chiếm 7,7% tổng
XKTS của nước ta. XK mặt hàng này đạt được kết quả khả quan một phần là
nhờ sản lượng khai thác trong vài năm gần đây đã cải thiện lên khá nhiều.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 20 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47