Thúc đẩy hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam - Pdf 15

LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Đẩy mạnh xuất khẩu nông sản là một trong những chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước ta từ khi đổi mới đến nay. Việt Nam là một nước nông
nghiệp với hơn 70% lực lượng lao động làm nghề nông, đất đai màu mỡ và
khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các
loại nông sản như lúa gạo, cà phê, cao su, chè, hạt tiêu, điều... Do đó, chúng ta
luôn tự hào về những thành tựu trong xuất khẩu thời gian gần đây như: đứng
thứ hai về xuất khẩu gạo của thế giới, đứng đầu về xuất khẩu cà phê-ca cao...
Năm 2009, mặc dù vẫn chịu những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và suy
thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này vẫn đạt
hơn 15,2 tỷ USD, vượt 8,5% chỉ tiêu mà Chính phủ đề ra (14 tỷ USD).
Tuy nhiên, tổng giá trị xuất khẩu nông sản vẫn chưa tương xứng với
tiềm năng vốn có của nó. Người nông dân và doanh nghiệp vẫn chưa nhận
thức được đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề này và cũng chưa nhận được sự
hỗ trợ kịp thời. Bên cạnh đó, nền nông nghiệp còn bộc lộ những lỗ hổng cần
phải giải quyết ngay như vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, dây chuyền công
nghệ sản xuất, bảo quản sản phẩm, quy trình đóng gói...
Cùng với đó là xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới
đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến từng quốc gia trong đó có Việt Nam. Quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta được đánh dấu bởi những sự kiện
quan trọng như: gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
tham gia vào diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), là
thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO)... Đó thực sự là cơ hội và
cũng là thách thức không nhỏ đối với hàng nông sản của Việt Nam. Do đó, để
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đưa nông sản Việt Nam vươn ra thị trường thế giới và khẳng định được vị thế
của nó thì cần phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động XTTM.
Sau một thời gian thực tập ở Cục xúc tiến thương mại, em nhận thấy
hoạt động XTTM đối với hàng nông sản xuất khẩu bên cạnh những thành
công nhất định thì vẫn còn những tồn tại cần khắc phục để đẩy mạnh hoạt

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ XTTM
VÀ HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC XTTM TẠI VIỆT NAM
Tổng quan về công tác quản lý của nhà nước về XTTM
Tổng quan chung
1.1.1.1. Khái niệm
Quản lý nhà nước về XTTM là tổng hợp các chính sách và biện pháp
mà các cơ quan quản lý Nhà nước sử dụng nhằm góp phàn làm cho các hoạt
động XTTM đạt hiệu quả cao cả về kinh tế và xã hội, khắc phục hoặc hạn chế
những tiêu cực của thị trường trong lĩnh vực XTTM và nhằm bảo vệ lợi ích
chính đáng của các bên liên quan trong hoạt động XTTM.
1.1.1.2. Chức năng
Nhà nước thực hiện chức năng về quản lý hoạt động XTTM thông qua
các hoạt động chính như sau:
- Xây dựng và thực hiện luật pháp về quản lý kinh tế
- Tạo môi trường pháp lý cho sản xuất kinh doanh
- Xác định phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế
xã hội
- Lập chương trình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
- Kiểm tra, giám sát hoat động…
1.1.1.3. Đối tượng quản lý Nhà nước về XTTM
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các hoạt động XTTM của doanh nghiệp: marketing, quảng cáo, tuyên
truyền, khuyến mại, tham gia các HCTL.
Các hoạt động XTTM của các tổ chức XTTM và các hiệp hội ngành
hàng bao gồm các hoạt động như thăm dò khảo sát thị trường, tư vấn và đào
tạo nguồn nhân lực, cung cấp thông tin thương mại phục vụ doanh nghiệp, tổ
chức diễn đàn, hội thảo.
Khái quát thực trạng hoạt động quản lý của nhà nước về XTTM

Ba là, Nhà nước thực hiện công tác điều tra, phối kết hợp hoạt động
XTXK trên cả nước, tổ chức kiểm tra giám sát việc thực hiện các hoạt động
XTTM.
- Quy trình thực hiện xem xét và chấp thuận cho thương nhân tổ
chức khuyến mại có các văn bản liên quan sau: Luật Thương mại năm 2005;
Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy
định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại và các quy
định pháp luật hiện hành về hoạt động khuyến mại; Thông tư liên tịch số
07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2007 của liên Bộ Thương
mại – Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều về khuyến mại và hội chợ,
triển lãm thương mại quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04
tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt
động xúc tiến thương mại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Quy trình thực hiện đăng ký tổ chức hội chợ triển lãm ở nước
ngoài gồm có các văn bản được Chính phủ ban hành như sau: Nghị định số
37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết
Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại; Thông tư liên tịch số
07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2007 của liên Bộ Thương
mại – Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều về khuyến mại và hội chợ,
triển lãm thương mại quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04
tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt
động xúc tiến thương mại.
Một số đánh giávề công tác quản lý nhà nước về XTTM
1.1.1.4.Ban hành các văn bản như luật, quyết định, thông tư, nghị định
của Nhà nước, Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan để quản lý hoạt động
XTTM
Thời gian qua, Chính phủ và các Bộ ban ngành đã ban hành văn bản
pháp luật quy định cụ thể về hoạt động XTTM đối với hàng nông sản qua đó
tạo khung pháp lý cụ thể, rõ ràng và thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của

năm 2003 (giai đoạn 2003-2005 gọi là Chương trình xúc tiến thương mại
trọng điểm quốc gia trên cơ sở Thông tư 86/2002/TT-BTC ngày 27/9/2002 và
Quy chế xây dựng và quản lý chương trình XTTM trọng điểm quốc gia ban
hành tại Quyết định 0104/2003/QĐ-BTM ngày 23/1/2003). Chương trình
Website: Email : Tel : 0918.775.368
XTTM quốc gia giai đoạn 2003-2005 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
theo đề nghị của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) nhằm phát triển
xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt nam, tập trung vào
các mặt hàng trọng điểm và thị trường trọng điểm. Trong giai đoạn 2006-
2010, công tác quản lý Chương trình XTTM quốc gia ngày càng hoàn thiện
và có nhiều đổi mới tích cực. Đặc biệt là các chương trình XTTM đối với
ngành hàng NLTS được tổ chức và giám sát bởi các cơ quan có chức năng
của nhà nước nên trong thời gian gần đây Chương trình XTTM quốc gia đóng
vai trò quan trọng trong hoạt động XTTM của cả nước. Tuy nhiên, quá trình
tổ chức, quản lý và điều phối chương trình 3 năm đầu tiên cũng bộc lộ nhiều
bất cập, đặc biệt là cơ chế và định mức hỗ trợ của Nhà nước đối với các hạng
mục quá rườm rà, không thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn
hỗ trợ. Quy định về nội dung các hoạt động XTTM trong diện được xem xét
hỗ trợ đề cập không cụ thể, dễ gây tranh cãi hoặc cách hiểu khác nhau.
1.1.1.6. Điều phối các chương trình HCTL, tiếp nhận đăng ký các
chương trình khuyến mại cho doanh nghiệp
Đối với công tác điều phối các chương trình HCTL trong và ngoài nước
được chú trọng và tiến hành thường xuyên. Các thủ tục cấp giấy phép, đăng
ký thực hiện XTTM hiện nay được giảm nhẹ và thời gian thực hiện nhanh
chóng. Bên cạnh đó, công việc đăng ký, cấp giấy phép, theo dõi và quản lý
hoạt động XTTM trong lĩnh vực HCTL, khuyến mại, quảng bá sản phẩm đã
được phân cấp đến các tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, công tác quản lý đối với
các hoạt động này đôi khi không kiểm soát được nội dung và chất lượng, thủ
tục còn rườm rà, mang nặng tính hình thức do đó các cơ quan quản lý cần có
chế tài xử lý nghiêm khắc và có các biện pháp để ngày càng hoàn thiện hơn

- Tổ chức tập huấn nhắm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công
tác xúc tiên thương mại và bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp trong thương mại
cho cán bộ quản lý và kinh doanh thương mại.
- Chỉ đạo và hướng dẫn các Sở Thương mại về quản lý nhà nước
và nghiệp vụ xúc tiến thương mại.
- Giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại chỉ đạo các đại diện thương mại
ở nước ngoài tiến hành công tác xúc tiến thương mại.
- Thực hiện hợp tác quốc tế về xúc tiến thương mại.
- Thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác về xúc tiến
thương mại do Bộ trưởng Bộ Thương mại giao.
Bộ Kế hoạch và đầu tư: thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại
và đầu tư nước ngoài.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bộ Tài chính: thực hiện các hoạt động cung cấp nguồn kinh phí hỗ trợ
của nhà nước cho các chương trình XTTM.
Bộ Văn hoá – Thể thao và du lịch: thực hiện các hoạt động xúc tiến
thương mại du lịch, thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động quảng
cáo, khuyến mại trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra các Bộ ngành khác cũng có các hoạt động xúc tiến thương mại
và phối hợp với Bộ công thương để hỗ trợ, giúp đỡ doanh nghiệp trong quá
trình phát triển sản phẩm, sản xuất và xuất khẩu nông sản, thâm nhập vào thị
trường quốc tế.
Các tổ chức XTTM và các hiệp hội ngành hàng
Hiện nay, số lượng các tổ chức XTTM ngày càng tăng lên về số lượng
cũng như chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt là phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các hiệp hội ngành hàng NLTS như Hiệp
hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam, Hiệp
hội chè, Hiệp hội lương thực …
Các tổ chức kinh doanh dịch vụ XTTM
Bao gồm các công ty quàng cáo, tư vấn kinh doanh, dịch vụ thông tin,

Cơ cấu kinh tế nước ta trong những năm gần đây được chuyển dịch
theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông lâm thuỷ sản và tăng tỷ trọng các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngành công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù giai đoạn năm 2007-2008, Việt Nam
cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới
nhưng qua hình trên chúng ta vẫn thấy được sự tăng trưởng mạnh mẽ của hai
ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Bên cạnh đó, việc giảm tỷ trọng
ngành NLTS trong cơ cấu kinh tế nhưng vẫn đảm bảo vấn đề an ninh lương
thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, giảm tỷ lệ đói
nghèo và tiến tới bảo vệ môi trường bền vững…
Tổng cục Thống kê cũng cho biết, tính chung cả năm 2009 tổng sản
phẩm trong nước tăng 5,32%, vượt mục tiêu kế hoạch là 5% đã điều chỉnh
trước đó. Nếu tính theo khu vực kinh tế, năm 2009, khu vực nông lâm nghiệp
và thủy sản có tốc độ tăng trưởng 1,83%; công nghiệp và xây dựng tăng
5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%. Qua đó, ta thấy xu hướng chuyển dịch
giữa các khu vực kinh tế theo hướng khu vực công nghiệp và dịch vụ có xu
hướng tăng mạnh hơn nhiều so với khu vực nông lâm thuỷ sản.
2.1.1.2.Tình hình sản xuất ngành nông lâm thuỷ sản
Còn theo báo cáo của Bộ NN&PTNT năm 2009, tổng giá trị sản xuất
NLTS cả nước đạt 219.887,18 tỷ đồng, tăng 2,98% so với năm 2008 trong đó
nông nghiệp đạt 160.081 tỷ đồng, tăng 2,2%, lâm nghiệp là 7.008 tỷ đồng,
tăng 3,8%, còn thuỷ sản đạt 52.798 tỷ đồng tăng 5,4%. Kim ngạch xuất khẩu
nông, lâm thủy sản đứng vững trước khủng hoảng để vượt 1,34 tỷ USD so với
chỉ tiêu đặt ra.
Tình hình sản xuất của các mặt hàng cụ thể như sau:
Nông sản: Theo bảng số liệu dưới đây về giá trị sản xuất nông nghiệp
của Việt Nam phân theo ngành hoạt động, ta thấy được xu hướng chuyển dịch
cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và giảm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tỷ trọng ngành trồng trọt. Theo đó tính từ năm 2001-2008, ngành trồng trọt

Nguồn: Tổng cục thống kê
Tổng đàn gia cầm năm 2009 đã đạt mức tăng trưởng kỷ lục từ trước tới
nay, số lượng gia cầm tăng thêm 12,83% so với năm trước. Chăn nuôi lợn
cũng có mức tăng trưởng khá, đạt 3,47%. Riêng đàn trâu, bò lại giảm, trong
đó số lượng bò giảm tới 3,7%.
Lâm sản: Qua bảng số liệu dưới đây, ta thấy được diện tích trồng rừng
tập trung giai đoạn 2001-2005 có xu hướng giảm nhưng lại tăng lên vào năm
2006 là 192.7 nghìn ha thì đến năm 2009 đã đạt được 212 nghìn ha tăng 10%.
Trong đó, diện tích trồng rừng phòng hộ, đặc dụng chỉ gần 48.000 hecta, và
rừng sản xuất là 160.000 hecta. Công tác khoanh nuôi, khoán quản lý bảo vệ
rừng vượt 66% so với kế hoạch. Bên cạnh đó là xu hướng tăng mạnh của sản
lượng gỗ khai thác qua các năm và số lượng lớn như năm 2009 là 3766.7
nghìn m3 tăng gần 6% so với năm trước nhưng cũng chỉ đạt 86% so với kế
hoạch đề ra.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2.1: Diện tích trồng rừng tập trung và sản lượng gỗ khai thác
giai đoạn 2001-2009
Năm
Diện tích trồng rừng tập trung
(Nghìn ha)
Sản lượng
gỗ khai thác
(nghìn m3)
2001 190.8 2397.2
2002 190.0 2504.0
2003 181.3 2435.8
2004 184.4 2627.8
2005 177.3 2996.4
2006 192.7 3128.5
2007 189.9 3461.8

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng Sản lượng thuỷ sản khai thác
Tổng
số
Cá Tôm Tổng số
Khai thác
biển
Khai thác
nội địa
2001 709.9 421.0 154.9 1724.8 1481.2 243.6
2002 844.8 486.4 186.2 1802.6 1575.6 227.0
2003
1003.
1
604.4 237.9 1856.1 1647.1 209.0
2004
1202.
5
761.6 281.8 1940.0 1733.4 206.6
2005
1478.
0
971.2 327.2 1987.9 1791.1 196.8
2006
1693.
9
1157.1 354.5 2026.6 1823.7 202.9
2007
2123.
3
1530.3 384.5 2074.5 1876.3 198.2

92,03%. Như vậy tốc độ tăng trường kim ngạch xuất khẩu hàng năm giai
đoạn 2005-2009 là 48,66%.
Về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam không có sự biến động
nhiều. Năm 2005 là 40 thị trường, 2006 là 41 thị trường; sang năm 2007 là 63
thị trường, đặc biệt năm 2008 thị trường gạo xuất khẩu đã tăng lên gấp đôi là
128 thị trường.
Hình 2.6: Top các thị trường chính của xuất khẩu gạo Việt Nam
giai đoạn năm 2007-2009 (tần)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo hình 2.6 ta thấy cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo năm 2008 -2009
của Việt Nam có sự thay đổi đặc biệt trong việc xuất khẩu gạo sang thị trường
Indonesia. Thực tế, trong các năm trước đây, cũng như năm 2007, Indonesia
luôn là thị trường xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam (chiếm 24% tổng lượng
xuất khẩu), thì năm 2008, nước này đã giảm mạnh lượng nhập khẩu gạo (chỉ
chiếm hơn 1% tổng lượng gạo xuất khẩu) và sang năm 2009 lượng nhập khẩu
gạo của nước này chỉ là 17786 tấn. Trong khi đó, Philippines vẫn giữ vững là
quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam chiếm gần 40% tổng sản
lượng gạo xuất khẩu và tăng 9,3% thị phần so với năm 2007.
Năm 2009, gạo Việt nam xuất khẩu sang 20 thị trường chính nhưng chủ
yếu là sang Philippines; Malaysia; Cu Ba; Singapore. Xuất khẩu sang
Philippines đạt kim ngạch lớn nhất với 917,13 triệu USD, chiếm 34,43% kim
ngạch; tiếp theo là kim ngạch xuất sang Malaysia đạt 272,19 triệu USD,
chiếm 10,22%; rồi đến thị trường Cu Ba 191 triệu USD, chiếm 7,17%;
Singapore 133,6 triệu USD, chiếm 5,02%.
b. Xuất khẩu cà phê
Sau khi cà phê của Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức
quốc tế về cà phê (ICO) thì thị trường xuất khẩu mặt hàng này ngày càng
được mở rộng và kim ngạch xuất khẩu cũng liên tục tăng đưa Việt Nam trở
thành nước xuất khẩu cả phê lớn nhất trên thế giới.

% so với cùng kỳ năm trước, đạt trị giá 789 triệu USD.
d. Xuất khẩu hồ tiêu
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn đoạn 2008-2009 (Nghìn USD) Những mặt thành công Những mặt tồn tại Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước và các Bộ ngành Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status