tóm tắt luận văn thạc sĩ Những giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần sữa Việt Nam - Pdf 28

MỤC LỤC
STT 23
Chỉ tiêu 23
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
STT 23
Chỉ tiêu 23
A.MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở rộng nhanh chóng trên mọi lĩnh vực
kinh doanh, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải vươn lên nắm thị
trường ngày càng lớn hơn. Khai thác thị trường theo chiều sâu và mở rộng thị
trường sẽ là nhiệm vụ thường xuyên liên tục của mỗi doanh nghiệp. Phát triển thị
trường sẽ giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm tiềm năng của
thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vai
trò của doanh nghiệp trên thị trường.
Trong nhiều năm qua, Công ty Vinamilk đã đạt được những kết quả khả quan
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thiết lập mạng lưới cung ứng và tiêu thụ sản
phẩm rộng khắp trên toàn quốc, với hai hệ thống phân phối chính là : kênh khách
hàng truyền thống và kênh khách hàng đặc biệt; các sản phẩm của Vinamilk chiếm
khoảng 55% - 65% thị phần toàn quốc theo từng mặt hàng. Tuy nhiên, so với tiềm
năng thực tế của thị trường thì mức độ tăng trưởng thị phần của một số sản phẩm
trong nhiều thời điểm vẫn ở mức độ thấp và chưa bền vững. Bên cạnh đó, Công ty
còn có những sản phẩm có sức cạnh tranh yếu hơn so với mặt hàng cùng loại trên
thị trường. Mặt khác, hiện nay Công ty Vinamilk cũng như rất nhiều doanh nghiệp
Việt Nam khác đang phải đối mặt với không ít thách thức từ quá trình hội nhập
quốc tế, đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước càng nhiều hơn, các chiêu thức mở
rộng thị trường cũng phong phú, đa dạng hơn. Đứng trước tình hình đó, việc tăng
cường mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Vinamilk là một đòi hỏi cấp
bách và được đặt ở vị trí trọng tâm trong chiến lược kinh doanh của Công ty.
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn nghiên cứu đề tài
“Những giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần sữa
Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu đề án môn học của mình.

kênh phân phối, các chính sách, hình thức bán hàng, tiến hành quảng cáo và các
hoạt động xúc tiến và cùng thực hiện các công việc bán hàng tại các điểm bán.
1.1.1.2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm với sự phát triển của doanh nghiệp
Để có thể phát triển mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần
tiêu thụ ngày càng nhiều hơn khối lượng sản phẩm, không những ở thị trường hiện
tại và trên cả thị trường mới và thị trường tiềm năng. Khi sản phẩm của doanh
nghiệp được tiêu thụ trên thị trường hiện tại, doanh nghiệp có điều kiện đưa sản
phẩm thâm nhập vào thị trường mới, tiếp cận với thị trường tiềm năng. Từ đó khối
lượng sản phẩm tiêu thụ được nhiều hơn, doanh nghiệp có điều kiện để mở rộng ,
phát triển sản xuất kinh doanh – là một trong những điều kiện để doanh nghiệp tăng
lượng tiêu thụ và mở rộng sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp sản xuất: mặc
dù chức năng, nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là chế tạo ra sản phẩm nhưng vai
trò tiêu thụ hàng hóa vẫn là quyết định. Nếu không tiêu thụ được sản phẩm thì mọi
3
nỗ lực hoạt động trong các khâu khác cũng trở nên vô nghĩa. Trong cơ chế thị
trường thì việc sản xuất ra sản phẩm đã là vấn đề khó khăn, nhưng tiêu thụ sản
phẩm ra còn khó khăn hơn rất nhiều. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào tiêu thụ sản
phẩm có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn
tồn tại và phát triển, doanh nghiệp chỉ có con đường tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ,
từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của đơn vị mình trong môi trường
cạnh tranh.
1.1.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.1.2.1.Khái niệm thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là nơi có sự tham gia của các
khách hàng và doanh nghiệp, thông qua đó phản ánh tình hình cung cầu của những
loại hàng hóa mà doanh nghiệp sản xuất ra.
1.1.2.2. Phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm
Có thể phân loại thị trường theo nhiều tiêu thức khác nhau. Dưới đây là một số
cách phân loại chủ yếu:
•Theo địa chỉ khách hàng:

căn bản là carbohydrat, rau, trái cây, thịt các loại, sữa và các sản phẩm từ sữa. Từ
sữa bò tươi người ta có thể sản xuất ra rất nhiều loại sản phẩm: sữa đặc có đường,
sữa bột, sữa tươi, sữa chua, phomát và các thực phẩm chế biến khác như kem, bánh,
kẹo
- Về cung ứng:
Nguồn nguyên liệu chính cho ngành chế biến sữa được lấy từ hai nguồn chính:
sữa bò tươi thu mua từ các hộ nông dân chăn nuôi bò sữa trong nước và sữa bột
nhập ngoại nhập. Nguồn nguyên liệu sữa tươi phục vụ cho các nhà máy chế biến
sữa thường không ổn định vì các nhà máy chế biến sữa phải phụ thuộc vào tình hình
thu mua sữa từ các trạm thu mua sữa tươi của nông dân. Tại các khu vực mà việc
chăn nuôi lấy sữa với sản lượng lớn phải có các trang thiết bị lạnh bảo quản sữa,
nếu thiếu điện thì một tỷ lệ lớn nguyên liệu sữa tại địa phương bị lãng phí. Tại các
địa phương ở xa các thành phố lớn thì không cho phép người nông dân đưa các sản
phẩm của mình đến với thị trường vì chi phí vận chuyển cao. Do vậy, để tận dụng
tối đa nguồn nguyên liệu địa phương và cải thiện mức thu nhập hộ gia đình chăn
5
nuôi bò sữa các nhà máy chế biến sữa đã đặt các trạm thu mua sữa, đầu tư có bài
bản và theo kế hoạch để phát triển vùng nguyên liệu sữa làm nguồn cung cấp
nguyên vật liệu chính.
- Về khách hàng:
Ngày nay, mọi người bận rộn hơn, vì thế nhu cầu vừa bảo đảm giữ được sức
khỏe mà vẫn hoàn thành tốt công việc là điều cần thiết. Nếu các sản phẩm sữa bột
tập trung cho đối tượng trẻ sơ sinh, trẻ dưới 2 tuổi thì sản phẩm sữa nước lại có một
lượng đối tượng khá phong phú. Trẻ từ 2 tuổi trở lên, thanh thiếu niên, người lớn và
ngay cả người già đều lựa chọn các sản phẩm sữa nước để bổ sung nguồn dinh
dưỡng cho cơ thể. Với lý do đó mà người tiêu dùng ngày nay đang có xu hướng sử
dụng nhiều các loại sữa nước và họ có nhiều điều kiện để lựa chọn hơn không chỉ
trọng lượng, hình dáng mẫu mã mà đến hương vị, hàm lượng dinh dưỡng của từng
người kể cả người ăn kiêng , giảm cân, tăng độ chắc khỏe cho xương như sữa không
béo, không đường, bổ sung calci …

Mở rộng thị trường theo chiều rộng tức là doanh nghiệp cố gắng mở rộng
phạm vi thị trường, tìm kiếm thêm những thị trường nhằm tăng khả năng tiêu thụ
sản phẩm, tăng doanh số bán, tăng lợi nhuận. Phương thức này thường được các
doanh nghiệp sử dụng khi thị trường hiện tại bắt đầu có xu hướng bão hòa. Đây là
một hướng đi rất quan trọng đối với các doanh nghiệp được tiêu thụ thêm nhiều sản
phẩm, tăng vị thế trên thị trường.
1.2.1.2. Mở rộng thị trường theo chiều sâu
Mở rộng thị trường theo chiều sâu tức là doanh nghiệp phải tăng được số
lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường hiện tại. Tuy nhiên, hướng phát triển này
thường chịu ảnh hưởng bởi sức mua và địa lý nên doanh nghiệp phải xem xét đến
quy mô của thị trường hiện tại, thu nhập của dân cư cũng như chi phí cho việc
quảng cáo, thu hút khách hàng để đảm bảo cho sự thành công của công tác mở
rộng thị trường. Mở rộng thị trường theo chiều sâu đa phần được sử dụng khi doanh
nghiệp có tỷ trọng thị trường còn tương đối nhỏ bé hay thị trường tiềm năng còn rất
rộng lớn.
Như vậy, khi công ty dự định mở rộng thị trường hay thâm nhập vào thị
trường mới phải cân nhắc thật cẩn thận xem liệu sản phẩm có phù hợp với những
7
đòi hỏi, yêu cầu của thị trường hay không, sẽ bán được số lượng đủ lớn với mức giá
đủ cao để có lợi nhuận hay không.
1.2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp
1.2.2.1. Đối với mở rộng thị trường theo chiều rộng
Mỗi một doanh nghiệp luôn luôn mong muốn tìm được những thị trường mới
để cho khối lượng hàng hóa tiêu thụ ngày càng cao, để doanh số bán hàng ngày
càng tăng. Để đánh giá mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm theo chiều rộng người
ta dùng chỉ tiêu là: số lượng thị trường tăng lên so với số lượng thị trường hiện
có.
Số lượng thị trường tăng lên = số lượng thị trường mới – số lượng thị trường cũ.
1.2.2.2. Đối với mở rộng thị trường theo chiều sâu

x100%
Thị phần của các đối thủ cạnh tranh
Công thức tính thị phần tăng:
Số thị phần tăng lên = Tổng thị phần mới – Tổng thị phần cũ
Tăng thị phần là mục tiêu rất quan trọng của doanh nghiệp, nó làm tăng nhanh
tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp phần vào việc thúc đẩy chu kì tái sản xuất mở rộng,
tăng vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận. Tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm khiến cho
các doanh nghiệp có điều kiện tăng nhanh tốc độ khấu hao máy móc thiết bị, giảm
bớt hao mòn vô hình và do đó có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đổi mới kỹ
thuật, ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất. Kỹ thuật mới lại góp phần đẩy mạnh tốc độ
tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp
1.2.3.1. Các nhân tố vĩ mô
Sử dụng mô hình PEST, ta sẽ đi phân tích các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến
việc mở rộng thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp.
- Chính trị, luật pháp:
Ổn định chính trị là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế nói chung
cũng như đối với doanh nghiệp nói riêng. Chỉ trong môi trường ổn định thì mới có
định hướng chiến lược phát triển kinh doanh dài hạn từ đó mới có kế hoạch cụ thể
trong việc tạo lập nguồn lực lâu dài, vững chắc cho doanh nghiệp như ; nhân sự, tài
chính, công nghệ, phát huy được mọi nguồn nhân tài, vật lực cho phát triển sản xuất
kinh doanh. Đây cũng là một yếu tố để các nhà đầu tư trong và ngoài nước quyết
định thực hiện các dự án kinh tế của mình. Một cách gián tiếp, nó thúc đẩy cả cung
lẫn cầu, do đó doanh nghiệp có điều kiện phát triển thị trường tiêu thụ.
- Kinh tế
Các chính sách kinh tế vĩ mô là nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển
9
của doanh nghiệp nói chung và thị trường tiêu thụ sản phẩm nói riêng, chính sách
khuyến khích xuất khẩu - hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất

- Khách hàng :
Khách hàng là cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng
thanh toán về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong
muốn được thoả mãn. Thị trường của doanh nghiệp là tập hợp của các khách hàng
rất đa dạng, khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú, sở thích tiêu
dùng và vị trí trong xã hội. Người ta có thể chia khách hàng nói chung thành những
nhóm khách hàng khác nhau, mỗi nhóm có đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua
sắm của họ ( những đặc điểm này sẽ là gợi ý quan trọng để doanh nghiệp đưa ra các
biện pháp phù hợp, thu hút khách hàng) .
- Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường việc cạnh tranh là điều không tránh khỏi - nó là
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp,
thậm chí có thể đẩy doanh nghiệp tới chỗ phá sản hoặc bị thôn tính. Việc mở rộng
thị phần là mục tiêu của mọi doanh nghiệp,nó chỉ xuất hiện khi nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường, hiểu rõ mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh, để có
chiến lược tiêu thụ tối ưu.
- Nhà cung cấp:
Các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất có thể chia xẻ lợi
nhuận của một doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp đó có khả năng trang trải
các chi phí tăng thêm cho đầu vào được cung cấp.
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh
trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng khi họ lựa chọn và quyết định
gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại. Các doanh nghiệp
hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập nhành bởi vì càng
nhiều doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt
hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp sẽ thay đổi.
- Các sản phẩm thay thế
11
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của người

- Chính sách phân phối:
Lựa chọn kênh và thiết lập đúng đắn mạng lưới các kênh tiêu thụ có ý nghĩa to
lớn đến việc thúc đẩy tiêu thụ. Kênh tiêu thụ là đường đi của hàng hóa từ doanh
nghiệp đến người tiêu dùng hay người sử dụng. Trên đường đi của hàng hóa đến
tiêu dùng, doanh nghiệp có thể sử dụng những người trung gian (bán buôn, bán lẻ,
đại lý) thường doanh nghiệp sử dụng 3 loại kênh phân phối hàng hóa. Mạng lưới
phân phối là toàn bộ các kênh mà doanh nghiệp thiết lập và sử dụng trong phân
phối hàng hóa. Việc thiết lập kênh phân phối cần phải căn cứ vào chính sách, chiến
lược tiêu thụ mà doanh nghiệp đang theo đuổi, khả năng nguồn lực của doanh
nghiệp ( sức mạnh tài chính, khả năng của đội ngũ cán bộ tiêu thụ, vị trí địa lý, danh
tiếng, kinh nghiệm trong phân phối), vào đặc tính của khách hàng ( số lượng khách
hàng, sự phân phối trên từng vùng địa lý, thói quen tiêu dùng, khả năng thanh
toán ), vào đặc tính sản phẩm ( tuổi thọ, mức độ cồng kềnh, tính phức tạp về mặt kỹ
thuật, các dịch vụ bán hàng cần phải có, vị trí của sản phẩm trong thang sản phẩm )
các kênh của đối thủ cạnh tranh, mặt hàng thay thế, luật pháp để làm sao có khả
năng chuyển tải và thực hiện hàng hóa một cách cao nhất, với chi phí thấp nhất. Đối
với đa số doanh nghiệp, hoạt động của người bán hàng, người đại lý chiếm vị trí
trung tâm trong hoạt động tiêu thụ vì họ là người trực tiếp thực hiện việc bán hàng,
thu tiền về. Doanh số mà doanh nghiệp đạt được cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều
vào hoạt động của họ. Người bán hàng có ảnh hưởng quan trọng nhất và trực tiếp
đến hành vi mua hàng của khách hàng. Người bán cùng một lúc thực hiện các hoạt
động quảng cáo, tiếp thị thuyết phục khách hàng, do đó cần phải có óc tổ chức, trình
độ kỹ thuật, nghiệp vụ và nghệ thuật bán hàng. Hoạt động của người bán hàng tốt
không những thúc đẩy được tiêu thụ mà còn tạo ra chữ tín và đến lượt mình sự tín
nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm và doanh nghiệp lại thúc đẩy tiêu thụ.
- Chính sách Marketing:
Quảng cáo là thông báo với mọi người và kích thích họ mua hàng nhằm lôi
kéo thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp. Ngày nay, các công cụ thông báo
chung với công chúng, nghệ thuật kích thích họ mua hàng rất phong phú và đa dạng
và việc sử dụng chúng cũng rất tốn kém. Nhiều doanh nghiệp nhờ quảng cáo tốt đã

nghiệp phê duyệt chuyển sang cổ phần hóa. Hiện nay, Công ty CP Sữa Việt Nam
đang là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường sữa và các sản phẩm sữa tại Việt Nam với
thị phần khoảng 55  65% tùy từng mặt hàng. Sản phẩm Vinamilk cũng bắt đầu có
sự tín nhiệm của thị trường quốc tế.
15
2.1.2. Cơ cấu bộ máy quản lý tổ chức của công ty
2.1.2.1. Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Hình 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Vinamilk
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ
TGĐ
PHÓ
TGĐ
PHÓ
TGĐ
PHÓ
TGĐ
GIÁM
ĐỐC
HC-NS
GIÁM
ĐỐC
TC-KT

CUNG
ỨNG
ĐIỀU
VẬN
GIÁM
ĐỐC

doanh của Công ty.
Tổng Giám Đốc chịu trách nhiệm trước HĐQT, quyết định tất cả các vấn đề
liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty.
Phòng kinh doanh: thiết lập mục tiêu kinh doanh, xây dựng chiến lược và kế
hoạch kinh doanh, theo dõi và thực hiện các kế hoạch kinh doanh. Nghiên cứu, xây
dựng và phát triển mạng lưới kênh phân phối, chính sách phân phối, chính sách giá
cả. Phối hợp với phòng Kế hoạch để đưa ra các số liệu, dự đoán về nhu cầu của thị
trường.
Phòng Marrketing: hoạch định chiến lược xây dựng nhãn hiệu cho các sản
phẩm và nhóm sản phẩm, xây dựng chiến lược giá cả, sản phẩm, phân phối, khuyến
mại Phân tích và xác định nhu cầu thị trường để cải tiến và phát triển sản phẩm
mới phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Phòng nhân sự: điều hành và quản lý các hoạt động Hành chính và Nhân sự
của toàn Công ty.
Phòng dự án: lập, triển khai, giám sát dự án đầu tư mới và mở rộng sản xuất
cho các Nhà máy.
Phòng cung ứng điều vận: xây dựng chiến lược, phát triển các chính sách, quy
trình cung ứng điều vận.
Phòng Tài chính Kế toán: quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động tài chính
và các chiến lược về tài chính.
Trung tâm nghiên cứu Dinh dưỡng và Phát triển sản phẩm: nghiên cứu, quản
lý, điều hành các nghiệp vụ liên quan đến sản phẩm mới, sản phẩm gia công, xuất
khẩu và cải tiến chất lượng sản phẩm.
17
Phòng khám đa khoa: khám, tư vấn dinh dưỡng và sức khỏe cho người bệnh
(khách hàng), tư vấn các sản phẩm của Công ty cho khách hàng. Phối hợp với
Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và phát triển sản phẩm mới trong việc đưa ra các
sản phẩm có thành phần dinh dưỡng phù hợp với các nhu cầu cần thiết của khách
hàng.
Các nhà máy: quản lý hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000,

Toàn bộ hơn 200 sản phẩm sữa Vinamilk các loại ra đời từ các dây chuyền
hiện đại của 08 nhà máy với tổng công suất 470 triệu lít sữa/năm quy ra sữa tươi.
Đầu tư đổi mới công nghệ là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình xây dựng và
lớn mạnh của công ty. Trong 15 năm (1986 - 2002), Công ty đã đầu tư hàng ngàn tỷ
đồng cho các dây chuyền hiện đại của Italia, Đức, Đan Mạch, Pháp, Ba Lan để sản
xuất sữa đặc có đường, sữa chua, sữa tươi, kem
Trước những đòi hỏi khắc nghiệt của cơ chế thị trường, nhiệm vụ hàng đầu đặt
ra cho các nhà máy là nâng cao chất lượng sản phẩm. Hiện tại toàn Công ty đã đăng
kí và được cấp chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng ISO9001-2000.
Bảng 2: kết quả sản xuất kinh doanh 3 năm (2003 - 2005)
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
So sánh (%)
2004/2003 2005/2004
Tổng giá trị tài sản 2.631.571 2.554.708 3.987.936 96 152
Doanh thu thuần 3.809.414 3.775.183 5.638.784 99 149
Lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh
713.622 450.346 559.833 63 124
Lợi nhuận khác 108.525 11.203 42.767 10 318
Lợi nhuận trước
thuế
822.147 461.549 602.600 56 130
Lợi nhuận sau thuế 512.466 461.549 517.671 90 112
Nộp ngân sách 522.693 400.545 350.000 76 87
( Nguồn: Công ty Vinamilk)
2.3. Thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty trong
những năm gần đây
2.3.1. Tăng thị phần
19

2.4.1. Những thành công
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là một trong những hoạt động có vai trò
20
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và Công ty
Vinamilk nói riêng. Bằng sự nỗ lực của ban lãnh đạo, của cán bộ công nhân viên
trong triển khai thực hiện các chiến lược, chính sách đề ra nhằm duy trì và mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình, trong những năm qua Công ty đã đạt được
một số thành công đáng khích lệ.
Nhìn chung sản lượng tiêu thụ và doanh thu thực hiện qua các năm đều tăng
trong vòng 5 năm gần đây doanh thu tiêu thụ nội địa của Công ty luôn đạt mức tăng
trưởng trên 12% mỗi năm từ năm 2001 tới nay ( 2005: 35%, 2004: 30%, 2003:
16%, 2002: 17%, 2001: 13% ) Doanh thu nội địa tăng trưởng mạnh từ năm 2004 tới
nay là kết quả của chính sách hướng tới thị trường nội địa và việc thay đổi phương
pháp tiếp cận khách hàng. Phương pháp tiếp cận mới cho phép Công ty trở nên gần
gũi hơn với người tiêu dùng, với phong cách phục vụ chuyên nghiệp và hiệu quả
hơn.
Mặc dù bên cạnh Vinamilk luôn luôn tồn tại không ít những thương hiệu
mạnh ở trong và ngoài nước nhưng Vinamilk luôn duy trì vị trí đứng đầu về thị
phần sữa nói chung ( 2003: 53%, 2004: 54%, 2005: 55% ) bằng cách tìm kiếm
những hiểu biết mới về người tiêu dùng: liên tục sáng tạo, hiểu biết về ngành hàng,
cúc trúc của lợi thế cạnh tranh, may mắn, tốc độ, can đảm và không bao giờ ngủ
quên trong chiến thắng.
Để nâng cao thị phần nội địa, Công ty đặt mục tiêu tăng trưởng cao về doanh
thu tiêu thụ nội địa và làm động lực chính để nâng cao tổng doanh thu. Bên cạnh đó,
Công ty từng bước quay lại những thị trường xuất khẩu truyền thống. Số lượng thị
trường xuất khẩu liên tục tăng từ năm 2003 đến nay ( 2003 xuất khẩu 16 nước, 2004
xuất khẩu 24 nước, 2005 xuất khẩu 30 nước). Do vậy, mục tiêu chính của Công ty
là tìm hiểu, đánh giá đối tác kinh doanh ở các thị trường xuất khẩu và mở rộng thêm
các thị trường mới để làm cơ sở cho những bước phát triển trong các năm sau.
2.4.2. Những tồn tại

Bảng 4: Dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm sữa từ năm 1999 -2010
Đơn vị tính triệu lít
STT Chỉ tiêu 1999 2000 2005 2010
1 Tổng nhu cầu các sản
phẩm quy phẩm sữa (qui
ra sữa tươi).
359,64 401,46 868,95 2.202
2 Sữa đặc có đường 219,94 230,93 298,30 379,0
3 Sữa bột 15,84 16,43 26,42 40,1
4 Sữa tươi 37,18 48,33 179,46 500,0
5 Sữa chua 43,00 55,80 275,00 784,5
6 Sữa đậu nành 7,80 12,70 31,10 411,0
(Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020)
23

Trích đoạn Đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức, quản trị hoạt động hỗn hợp xúc tiến bán hàng của Vinamilk
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status