Kết hợp giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước việt nam hiện nay - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HOÀI THU

KẾT HỢP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Ở NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

mong khoa Luật tạo điều kiện để tôi được bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hoài Thu
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC VỚI NHU CẦU GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở VIỆT
NAM 10
1.1. Sự liên hệ giữa pháp luật và đạo đức- cơ sở cho việc xây dựng hành vi xã hội
của người chưa thành niên 10
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của người chưa thành niên 10
1.1.2. Mối liên hệ giữa pháp luật và đạo đức 17
1.1.3 Mục đích cung cấp tri thức, hình thành kỹ năng pháp luật, quyền con người
cho người chưa thành niên 32

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KẾT HỢP GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 85
3.1 Giải pháp chung 85
3.1.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dựa trên nền tảng các quan điểm,
chuẩn mực đạo đức xã hội 85
3.1.2. Nâng cao nhận thức về vai trò của pháp luật, đạo đức cũng như mối quan hệ
giữa chúng trong giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức cho NCTN 87
3.1.3. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo đảm kết hợp GDPL,
GDĐĐ cho NCTN 88
3.1.4. Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật, coi trọng giáo dục
đạo đức 90
3.1.5. Tăng cường công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật, vi phạm
đạo đức; coi trọng khía cạnh giáo dục cải tạo khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế
nhà nước đối với NCTN 94
3.2 Giải pháp cụ thể 95
3.2.1. Tăng cường vai trò của gia đình với ý nghĩa là rào cản của hiện tượng vi
phạm pháp luật của người chưa thành niên 95
3.2.2. Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và xã hội trong việc giáo
dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên 97
3.2.3. Nâng cao hiệu quả kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức trong nhà
trường 99
3.2.4. Thiết chặt quản lý trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư 102
KẾT LUẬN CHUNG 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Phụ lục


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu biểu đồ

Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ nhận thức của NCTN về các hành vi vi
phạm PL và ĐĐ
64
Biểu đồ 2.2:
Biểu đồ các hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức
của NCTN
66
Biểu đồ 2.3:
Biểu đồ đánh giá của NCTN về sự phối hợp của
các chủ thể trong GDPL, GDĐĐ
73
Biểu đồ 2.4:
Biểu đồ đánh giá của NCTN về mức độ triển khai
các nội dung GDPL, GDĐĐ
74
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ các phương pháp GDPL,GDĐĐ 79
Biểu đồ 2.6: Biểu đồ hình thức GDPL 83


năng đã có nhiều biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh
chống tội phạm , song hoạt động của bọn tội phạm vẫn diễn ra hết sức phức tạp
không chỉ về số lượng các vụ phạm tội tăng lên mà mức độ phạm tội ngày càng
nguy hiểm và hậu quả do chúng gây ra đối cho xã hội hết sức nặng nề.
Hậu quả do bọn tội phạm gây ra không những xác định bằng sự thiệt hại về
người, thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các thành viên khác
2
trong xã hội đặc biệt là thế hệ trẻ. Tình hình vi phạm pháp luật của người chưa
thành niên ở nước ta ngày càng nhiều, số lượng người chưa thành niên phạm tội ở
mức ngày càng cao, quy mô cũng như tính chất, mức độ phạm tội ngày càng
nghiêm trọng, nguy hiểm. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực từ tội phạm đã
tác động đến những người trẻ tuổi là thái độ coi thường pháp luật, coi thường tính
mạng, nhân phẩm và tài sản của người khác.
Đất nước ta ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng
lên song nhược điểm lớn ở đây là vấn đề “người người bận rộn, nhà nhà bận rộn”,
cha mẹ mải mê kiếm tiền, con cái thì ham chơi hơn ham học, không được sự quan
tâm, chăm sóc của gia đình, nhà trường và toàn xã hội nhất là lứa tuổi chưa thành
niên. Đây là lứa tuổi dễ bị tác động từ các yếu tố ngoại cảnh, độ tuổi này dễ bị chi
phối từ các tác nhân bên ngoài, thích nổi trội, hay bị kích động, thích khám phá
những cái mới nên rất cần có sự quan tâm chăm sóc, quản lý đặc biệt của người lớn,
của toàn xã hội.
Trong thời gian dài Đảng và nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến việc
giáo dục pháp luật ở lứa tuổi thanh thiếu niên, họ là nguồn trí tuệ cho cho xã hội
tương lai và là thế hệ trẻ tiếp nối thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Chính vì
vậy Đảng và nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách pháp luật để thực hiện, điển
hình như:
Ngày 7/12/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành chỉ thị số 315/CT về

tướng đã ký Quyết định số 1141/QĐ-BĐHĐA ban hành kế hoạch thực hiện Đề án
nói trên giai đoạn 2013-2016.
Gần đây nhất ngày 20/06/2012 tại kì họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII đã thông
qua luật số 14/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT với năm chương, 41 Điều, với những quy định chung về phổ biến và giáo
dục pháp luật; các nguyên tắc quản lý về phổ biến và giáo dục pháp luật; nội dung
và hình thức phổ biến và giáo dục pháp luật; cũng như trách nhiệm phổ biến và giáo
dục pháp luật cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; và các điều kiện
đảm bảo cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều đó cho thấy sự nỗ lực của Chính phủ ta quyết tâm thực hiện việc giáo
dục, phổ biến pháp luật trong nhà trường một cách sâu rộng, toàn diện, phối kết hợp
giáo dục pháp luật trong chương trình chính khóa với các hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp và giáo dục ngoại khóa ở tất cả các cấp học từ Phổ thông cơ sở đến Phổ
4
thông trung học rồi đến trung cấp, cao đẳng và đại học với mục đích tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật ở lứa tuổi chưa thành niên và cả lứa tuổi đã thành niên.
Trên thực tế công tác giáo dục môn học đạo đức, giáo dục công dân trong
các trường phổ thông đã và đang tiến hành thường xuyên ở các cấp học song hiệu
quả mà các môn học này mang lại cho xã hội còn rất kém. Cụ thể tình trạng học
sinh vi phạm pháp luật ngày càng nhiều ở các lĩnh vực giao thông, trận tự an toàn xã
hội…. và rất đáng lên án là tình trạng học sinh nữ đánh nhau chỉ vì những lý do rất
đơn giản xảy ra ở nhiều nơi trên cả nước, đồng thời với hành vi không đẹp ấy là một
bộ phận học sinh đứng ngoài không can ngăn mà lại cổ vũ, khuyến khích, tệ hại hơn
nữa một số em còn quay video qua điện thoại để tung lên mạng. Điều này cho thấy
ý thức pháp luật của học sinh quá kém và sự xuống cấp thê thảm về đạo đức ở một
bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông hiện nay.

đức đã thu hút được sự quan tâm của cả Luật học và Đạo đức học. Điều này được
phản ánh trong các tác phẩm lý luận về pháp luật và đạo đức như Giáo trình lý luận
chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật trường Đại học Tổng hợp, năm
1993; Giáo trình Đạo đức học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm
2000, đều có những mục xem xét mối quan hệ này. Nội dung của những mục tiêu
này tuy không nhiều nhưng đã đưa ra được những định hướng bước đầu rất có ý
nghĩa cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức.
Ở góc độ nghiên cứu cụ thể,trong thời gian qua phải kể đến một số công
trình tiêu biểu như Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam của
các tác giả Vũ Khiêu và Thành Duy, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2000, các
tác giả đã giới thiệu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức qua các giai đoạn lịch
sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này… Đặc biệt phải kể đến ở đây là loạt công
trình nghiên cứu chuyên sâu của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế về mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức như: Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/
1999; Trần Minh Đoàn (2001), Giáo dục đạo đức cho thanh niên, học sinh theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Đình Đặng Lục (2008), Giáo dục
pháp luật trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Thúy Hoa (2005), Kết
hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ luật, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Một số suy nghĩ
6
về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức- Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
3/2000; Xu hướng vận động, phát triển của pháp luật và đạo đức ở Việt Nam qua
các thời kỳ lịch sử - Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 7, 8 /2002…là những bài
viết có giá trị. Bên cạnh đó, phải kể đến một số công trình đáng chú ý khác
như: Bàn về giáo dục pháp luật của TS. Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản Chính

7
của người chưa thành niên, từ đó đưa ra các hình thức kết hợp giáo dục pháp luật và
giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên. Trên cơ sở phân tích, khảo sát thực
trạng của việc kết hợp giáo dục pháp luật và đạo đức cho người chưa thành niên ở
nước ta để đưa ra các giải pháp thiết thực.
3. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
- Mục đích của luận văn:
Nghiên cứu về việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho
người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay để giải quyết việc thay đổi phương
pháp giáo dục pháp luật bằng việc giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức
cho đối tượng là những người chưa thành niên. Từ đó đi đến nghiên cứu đồng bộ hệ
thống chương trình giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức cho người chưa
thành niên ở nước Việt Nam hiện nay.
-
Nhiệm vụ của luận văn
:
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, phân tích được cơ sở lý luận của sự liên hệ giữa pháp luật và
đạo đức- cơ sở cho việc xây dựng hành vi xã hội của người chưa thành niên.
- Thứ hai, phân tích thực trạng của việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo
dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay.
-Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp tăng cường kết hợp
giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước Việt Nam
hiện nay
Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn ở mức độ nhất định có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo, góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước
để phát huy việc giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên ở
Việt Nam hiện nay.
Luận văn đóng góp một hướng giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức

luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích, đối chiếu, so
sánh, thống kê, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp phân tích
quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích quan điểm của Đảng và pháp
luật của nước ta về hoạt động phổ biến pháp luật nói chung.
6. Những điểm mới của luận văn
Đề tài “Kết hợp giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức cho người chưa
thành niên ở nước Việt Nam hiện nay” mà tác giả lựa chọn có tính mới so với các
đề tài nghiên cứu về giáo dục pháp luật đã được hoàn thành ở chỗ:
9
- Luận văn nghiên cứu và phân tích chi tiết đặc điểm của người chưa thành
niên ở nước ta.
- Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu việc kết hợp giữa giáo dục pháp luật và
giáo dục đạo đức cho đối tượng là người chưa thành niên chứ không dừng lại ở việc
giáo dục, phổ biến pháp luật như các đề tài khác.
- Luận văn đóng góp việc giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức
cho người chưa thành niên không chỉ về phương diện lý luận mà còn cần phải áp
dụng việc giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức cho người chưa thành
niên về mặt thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương.
Chương 1: Pháp luật và đạo đức với nhu cầu giáo dục pháp luật và giáo dục
đạo đức cho người chưa thành niên ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng của việc kết hợp giáo dục pháp luật và đạo đức cho
người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay
Chương 3:


nhận là công dân với đầy đủ quyền và nghĩa vụ, “vị thành niên” là chưa đến tuổi
được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ quyền và nghĩa vụ [35, tr17].
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa
là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định
tuổi thành niên sớm hơn” [59, Điều 1].
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong
Hiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và
một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy
định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế
định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể.
Như vậy, qua sự phân tích các quan điểm nêu trên, có thể xác định độ tuổi
NCTN là những người dưới 18 tuổi. Bao gồm tất cả trẻ em (những người chưa đủ
16 tuổi) và vị thành niên (những người trong độ tuổi từ 12 đến dưới 18 tuổi). Trong
phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiện cứu lứa tuổi vị thành niên ở độ tuổi từ 12 tuổi
11
đến dưới 18 tuổi. Đó là những người chưa trưởng thành (đang phát triển) về thể
chất, thần kinh – tâm lý và xã hội. Trong thực tiễn đời sống mọi người đều hiểu
rằng: người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất lẫn tinh
thần nên họ chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của
mình, họ dễ bị tác động từ các yếu tố bên ngoài và thực hiện hành vi một cách nông
nổi, thiếu chín chắn.
Từ những quy định và sự phân tích trên đây, khái niệm người chưa thành
niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con
người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của
từng quốc gia. Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của

bình diện y sinh học nó là giai đoạn chuyển biến từ đứa trẻ non nớt thành một người
lớn khỏe mạnh. Cấu tạo hệ thần kinh có những thay đổi rất nhiều và chức năng của
hệ thần kinh phức tạp hơn. Hệ tim mạch phát triển mạnh làm cho các em đôi khi có
cảm giác mệt mỏi, chóng mặt dẫn đến hiện tượng dễ bị kích động, dễ nổi nóng.
“Tuyến nội tiết hoạt động mạnh, đặc biệt là tuyến sinh dục và tuyến giáp gây ra sự
mất cân bằng tạm thời trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương”[48, tr.35],
điều đó lý giải vì sao một số em hay bị xúc động mạnh, một số em khác nóng nảy
vô cớ hoặc có hành vi bất thường không làm chủ được bản thân. Một đặc điểm sinh
lý nữa của NCTN đó là sự phát dục, điều này làm xuất hiện ở các em những nhu
cầu mới như nhu cầu giao tiếp với bạn bè, đặc biệt là bạn bè khác giới. Các em
trưởng thành hơn về mặt cơ thể, nhưng nhận thức vẫn còn hạn chế.
Thứ hai, về đặc điểm tâm lý. NCTN đã bắt đầu hình thành sự “tự ý thức ” về
mình, các em thường đặt ra câu hỏi: mình đang làm gì? Mình như thế nào? Những ai
quan tâm đến mình? quá trình này diễn ra dần dần với những diễn biến tâm lý phức tạp,
dễ xúc động, chợt vui, chợt buồn, tình cảm bồng bột, hoạt động thần kinh không cân
bằng, do đó khiến các em không tự kiềm chế được bản thân khi gặp tình huống bất ngờ.
Các nhà tâm lý học đã nói nhiều về sự đa dạng, phức tạp trong tình cảm, tâm lý của các
em. Lúc này trẻ mang đầy tính năng động, mang nhiều mơ ước và khát vọng nói chung
song có nhiều em gái mang trong mình tâm lý trầm tư, u uất, khép mình vào thế giới nội
tâm trong khi đó nhiều ban trai tỏ thái độ ngang bướng, thậm chí phá phách, muốn khẳng
định mình. Do vậy, có thể nói rằng , độ tuổi chưa thành niên là giai đoạn có nhiều biến
động nhất trong sự hình thành các giá trị đạo đức, lối sống và nhân cách của mỗi người.
“Tuổi vị thành niên là thời gắn liền với các xung đột và xáo trộn tâm trạng. Những suy
13
nghĩ, cảm xúc của NCTN thường dao động giữa tính kiêu ngạo và tính tự ti, giữa sự
điềm tĩnh và sự nóng nảy, giữa niềm hạnh phúc và nỗi đau buồn” [18, tr.7- 8].
Do có thể tự ý thức về bản thân mình, các em đôi khi có những thái độ khó chịu

14
tâm. Khi thiếu vắng tình cảm của cha mẹ, NCTN còn tìm sự an ủi ở họ hàng, gia
đình và bạn bè, tuy nhiên điều đó không thể thay thế bằng tình cảm thân yêu của
cha mẹ, khi đó các em nhanh chóng tìm đến sự giải tỏa tâm lý bằng những hành
động nông nổi, bồng bột.
NCTN VPPL là những người có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật
ở các mức độ khác nhau từ vi phạm hành chính cho đến vi phạm pháp luật hình sự.
Tuy nhiên, khi NCTN từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà phạm tội quy định trong Bộ
luật hình sự thì họ chỉ chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng theo điều 12 Bộ luật
hình sự 1999. NCTN VPPL thường có những đặc điểm tâm lý về nhận thức và tính
cách như sau:
Lệch lạc trong nhận thức về hành vi vi phạm như: Nói giảm nhẹ hành vi vi
phạm của mình để người nghe có thể chấp nhận được; Chối bỏ trách nhiệm về hành
vi của mình; Có niềm tin sở hữu khi cho rằng mình có quyền đối với tài sản của
người khác; Cho rằng mình có quyền gây tổn thương cho người khác; Đổ lỗi cho
nạn nhân.
Đặc điểm tính tiêu cực ở người chưa thành niên vi phạm pháp luật như:
Không vâng lời, bướng bỉnh, có xu hướng chống đối các biện pháp giáo dục; Vô kỷ
luật, dối trá, xấc xược, hung tính, dễ manh động; Lười biếng thiếu quyết tâm, thiếu
trách nhiệm đối với bản thân và người khác; A dua, bắt chước; Thất vọng ở bản
thân; Có xu hướng xung đột nội tâm và mâu thuẫn trong hành vi; Thiếu kiềm chế,
xúc cảm thất thường;
Khi NCTN bị người thân bỏ rơi, thiếu nâng đỡ tinh thần hoặc bị bạo lực,
chửi rủa, xỉ vả và xúc phạm liên tục, hoặc thường xuyên sống trong lo sợ, căng
thẳng, họ dễ bị tổn thương tâm lý. Đôi khi để giải tỏa trạng thái tâm lý tiêu cực
trong gia đình, họ có những phản ứng chống trả quyết liệt như: bỏ học; bỏ nhà đi
lang thang; sử dụng các chất kích thích; hoặc gây ra những hành vi rối loạn xã hội
như gây hấn với người khác, phá hoại tài sản, trộm cắp; thậm chí tự hủy hoại bản
thân mình như tự hành xác, tự tử.

thiện. Sự mất cân bằng giữa phát triển sinh lý và nhận thức xã hội có ảnh hưởng
quan trọng đến đặc điểm tâm lý, tình cảm, hành vi của NCTN trong giai đoạn này.
Hệ thống thần kinh của các em vẫn ở trong trạng thái chưa ổn định. Nhận thức, tình
cảm và ý chí của các em vẫn đang có những sự biến đổi mạnh mẽ, điều này khiến
16
cho các em khó kiểm soát tình cảm và hành vi của mình, các em thường dùng tình
cảm nhất thời để giải quyết mọi việc, đồng thời cũng dễ bị ảnh hưởng của môi
trường bên ngoài tác động.
Điều kiện sống, sinh hoạt và học tập của NCTN đều đa phần phụ thuộc vào
người lớn và sự bảo trợ của xã hội. Các em không có thu nhập ổn định, khả năng tự
lập còn kém, sức chịu đựng tâm lý cũng còn kém cùng với đó là cảm xúc, tình cảm
cũng chưa ổn định, đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thanh thiếu niên
thường có tính dựa dẫm, mà chính sự dựa dẫm và phụ thuộc này khiến cho thanh
thiếu niên trở thành những người dễ gặp phải những nguy cơ không tốt trong cuộc
sống và cũng dễ bị tổn thương. Nếu không nhận được tình cảm từ gia đình, sự dạy
dỗ từ thầy cô, sự yêu mến từ bạn bè và sự quan tâm từ xã hội thì các em khó có
được tương lai tốt đẹp. Những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội, sự mất công bằng
trong giáo dục gia đình và nhà trường,… đều là những nhân tố có thể trở thành
nguyên nhân dẫn đến việc NCTN đi theo những con đường xấu.
NCTN nói riêng và bộ phận thanh thiếu niên nói chung chính là những chủ
nhân tương lai của xã hội giúp duy trì và ổn định sự phát triển bền vững của xã hội.
Đồng thời cũng chính bởi thanh thiếu niên là đại diện cho tương lai nên bản thân
các em cũng có những quan điểm, suy nghĩ, việc làm không giống với chúng ta. Ở
các em có những quan niệm mới, thói quen mới, tri thức mới, kỹ thuật mới mà
người trưởng thành cho rằng khó chấp nhận và khó thực hiện được trong cuộc sống
thì các em lại dễ dàng chấp nhận và dễ dàng theo đuổi. Các em dám bước qua
những quan niệm truyền thống để tạo dựng cho thế hệ mình những nấc thang mới,

nhận thì phương Đông, chữ “đạo đức” bắt nguồn từ “đạo” nghĩa là quy
luật, con đường sống của con người và “đức” là biểu hiện của đạo, là
nhân đức, là tình nghĩa con người. Đạo đức ghép lại là quy luật sống của
con người theo nhân nghĩa, luân lý, là nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà
con người phải tuân theo. Đạo đức là nguyên tắc của cả cộng đồng. Cá
nhân tuân theo những nguyên tắc ấy là hoàn toàn tự nguyện, tự giác. Đây
là một đặc trưng của đạo đức và là sức mạnh của đạo đức khác hẳn với
các quy tắc tôn giáo hay những quy phạm pháp luật"[17,tr.5].
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, “đạo đức là tập hợp những
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá ứng xử của con
người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện
bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [17, tr.8].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status