Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
1Luận văn
Giải pháp tài chính để cổ
phần hóa Ngân hàng Thương
Mại nhà nước Việt Nam hiện
nay
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
2
MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính là thị trường dẫn vốn từ những người có vốn dư thừa
tới người thiếu vốn qua các kênh trực tiếp (việc trao đổi vốn không qua trung
gian) hoặc gián tiếp (việc trao đổi vốn qua các tổ chức tài chính trung gian). Sự
phát triển không ngừng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng cuả nền kinh tế càng làm
cho kênh chuyển vốn qua các tổ chức tài chính trung gian ngày càng đóng vai trò
quan trọng đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Ở nước ta hệ thống NHTMNN đã và
đang chi phối các hoạt động tài chính tiền tệ và có vị trí ảnh hưởng rất lớn tới thị
trường tài chính cũng như sức khoẻ của nền kinh tế Việt Nam. Hơn hết trước yêu
cầu cấp thiết hội nhập và toàn cầu hoá đòi hỏi các NH VN phải có nhứng cải
cách và thay đổi phù hợp. Quá trình cổ phần hoá (CPH) NHTMNN là một trong
những bước đi quan trọng góp phần phát huy vai trò nền tảng thúc đẩy nền kinh
tế. Các NHTMNN VN đang trong quá trình thực hiện các đề án CPH do đó nhất
thiết phải đưa ra giải pháp để thúc đẩy quá trình CPH NHTMNN đúng hướng,
đúng tiến độ và đạt hiệu quả.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài viết dưới đây em chỉ
đề cập đến giải pháp tài chính để CPH NHTMNN ở VN hiện nay.
với khu vực kinh tế nhà nước, nhất là trong điều kiện VN thiếu vốn, nợ nhiều,
quản lý còn yếu kém, công nghệ lạc hậu…
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
4
Chủ trương CPH DNNN được đặt ra khi đất nước ta bước vào thời kì đổi
mới theo Quyết định số 143/HĐBT ngày 15/10/1990 và thực hiện thí điểm từ
năm 1992 theo Quyết định số 202/HĐBT ngày 8/6/1992 của Hội đồng Bộ
trưởng.
Qua cổ phần, DN được cơ cấu theo hướng tập trung quy mô lớn, hướng
vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; quy mô vốn của DNNN
được tăng lên đáng kể năm 2001, vốn bình quân của DNNN khoảng 24 tỷ đồng,
nay tăng lên đến 63,6 tỷ đồng. Tài chính DN được lành mạnh hoá thông qua việc
cơ cấu lại các khoản nợ; xử lý tài sản là vật tư, hàng hoá ứ đọng, tồn kho, máy
móc thiết bị cũ…
Qua thực tế hoạt động hơn 1 năm của 850 DN hoàn thành cổ phần cho
thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện
tăng 139,76%, nộp ngân sách tăng 24,9%, thu nhập người lao động tăng 12%, số
lao động không những không giảm mà bình quân tăng 6,6%, đặc biệt cổ tức bình
quân đạt 17,11%, trong đó 71,4% số DN có cổ tức cao hơn lãi tiền gửi ngân
hàng.
Năm 2004, số DNNN còn lại là 4300, trong đó phải tiến hành đa dạng hoá
hoặc CPH khoảng 2400 doanh nghiệp. Tính đến nay qua 15 năm thực hiện CPH
DNNN, tổng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại các DNNN đã CPH mới đạt
xấp xỉ 15% tổng vốn nhà nước có được đến cuối năm 2005. Số DN tiếp tục duy
trì 100% vốn nhà nước cho đến năm 2005 còn lại khoảng 1.200 DN. Toàn bộ các
DN không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn (khoảng 1.460 DN) sẽ được
sắp xếp theo hình thức CPH; trường hợp không cổ phần hoá thì chuyển sang lựa
chọn các hình thức như giao, bán, giải thể, phá sản DN.
Đề án môn học
6
Từ năm 2000, các tỉ lệ này giảm đi không ít, tuy nhiên đến nay dư nợ cho vay
của các NHTMNN vẫn chiếm trên 70% trên tổng dư nợ cho nền kinh tế. Về huy
động vốn của các NHTMNN cũng chiếm trên 70% tổng nguồn vốn huy động của
các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Các NHTMNN hiện nay
có rất nhiều chi nhánh từ tỉnh, thành phố, huyện, liên xã. Đó là lực lượng tài
chính chủ đạo trong cung cấp tín dụng và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế.
Nhìn chung NHTMNN ở Việt Nam đang đống vai trò chủ chốt trên thị trường
ngân hàng song tình hình tài chính của các NHTMNN còn hạn chế, mức độ rủi
ro cao, năng lực cạnh tranh thấp. Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế như hiện nay: gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA) và hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kì đã và đang
tạo ra nhiều sức ép cho hệ thống NHTMNN. Đó là những thách thức: phải gia
nhập vào “ sân chơi” cạnh tranh khốc liệt và công bằng với các ngân hàng nước
ngoài có ưu thế về vốn, kinh nghiệm quản lí, công nghệ tiên tiến nhất
Đồng thời cũng mở ra những cơ hội phát triển cụ thể là:
- Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngân hàng
nhanh chóng tiếp cận với các kiến thức và kinh nghiệm quản lí từ các nước tiên
tiến trên thế giới, tận dụng được nguồn vốn, công nghệ hiện đại của nước ngoài.
Áp dụng các chuẩn mực quốc tế làm cho hệ thống ngân hàng minh bạch, hoạt
động có hiệu quả và an toàn hơn.
- Cạnh tranh là động lực để các ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động,
mở rộng phạm vi, tăng cường khả năngthanh toán cùng với việc đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ ngân hàng
Do vậy, yêu cầu đối với các NHTMNN hiện nay là phải nâng cao năng lực
cạnh tranh, nâng cao nội lực. Cổ phần hoá được coi là giảI pháp giúp đẩy nhanh
mục tiêu trên, là một bước đi đầu đảm bảo vừa tăng vốn để đạt chuẩn mực quốc
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
7
quốc tế, trớc môi trường hoạt động ngày càng cạnh tranh quyết liệt, các
NHTMNN Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn lớn trong quá trình
tái cơ cấu hoạt động: Đó là, so với tiêu chuẩn quốc tế, quy mô vốn tự có của các
NHTMNN Việt Nam còn thấp, hệ số an toàn vốn CAR (tính bằng tỷ lệ vốn tự có
/ tổng tích sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro) so với chuẩn mực quốc tế là 8% thì
còn cách xa, theo thống kê gần đây, tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMNN hiện chỉ
đạt khoảng 4% (trong khi đó, tỷ lệ này ở hầu hết các ngân hàng thương mại cổ
phần đã đạt 8%). Hơn nữa, các ngân hàng của ta đang có nhu cầu cấp thiết là
phải duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng hợp lý để phục vụ tăng trưởng nền kinh
tế, và với tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân như hiện nay, đến cuối năm
2005, tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMNN chỉ đạt khoảng 3%, đến cuối 2010, tỷ
lệ này chỉ còn xấp xỉ 1% Để đảm bảo yêu cầu an toàn vốn theo chuẩn mực
quốc tế, hằng năm ngân sách nhà nước phải cấp bổ sung vốn tự có cho các
NHTMNN hàng chục nghìn tỷ đồng. Đây là điều rất khó thực hiện được và cũng
không mang lại hiệu quả kinh tế thực Về phương diện quản trị điều hành, tuy
đã được tăng cường một bước, song vai trò của quản trị điều hành vẫn chưa tạo
ra động lực mạnh thật sự. Phương thức quản lý còn nhiều bất cập, phân phối thu
nhập cha gắn với hiệu quả lao động; chế độ khen thưởng, động viên lao động còn
bị hạn chế bởi các ràng buộc theo quy định của Nhà nước. Vì vậy, lợi ích và
trách nhiệm của các bên liên quan: Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động ch-
ưa được phân định rõ ràng, chưa tạo dựng đựơc mối liên kết để cùng tồn tại và
phát triển.
Chúng ta đã biết, Việt Nam vừa vượt qua vòng đàm phán thứ 8 để gia
nhập WTO vào năm 2005. Một trong những yêu cầu của WTO đối với Việt Nam
là cần đẩy mạnh, đẩy nhanh hơn nữa những cải cách trong lĩnh vực tài chính,
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
9
ngân hàng. Đây là một thách thức, nhưng đồng thời cũng là một động lực thúc
đẩy chương trình tái cơ cấu lại các NHTM. Quá trình CPH cũng nằm trong nỗ
Một đặc điểm quan trọng của TTTC, đó là đóng vai trò như một môI
trường cho việc thực thi chính sách tiền tệ của NHNN. Việc CPH NHTMNN tất
yếu sẽ dẫn đến sự gia tăng lượng giao dịch của các chứng khoán vốn (các cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãI) và các chứng khoán nợ (tín phiếu, tráI phiếu,
chứng chỉ tiền gửi), cũng như đa dạng hoá các chủ thể tham gia, đây là yếu tố
quan trọng nâng cao tính thanh khoản của hàng hoá trên thị trường thứ cấp. Đến
lượt nó, thị trường thứ cấp phát triển sẽ có những tác động tích cực đến hoạt
động của thị trường sơ cấp – là tiền đề quan trọng đem lại hiệu quả của chính
sách tiền tệ, mà tiêu biểu là nghiệp vụ thị trường mở của NHNN. Kể từ khi được
đưa vào hoạt động ở VN đến nay, nghiệp vụ thị trường mở đã ngày một phát
triển về quy mô, tổ chức và chất lượng hoạt động. Tổng doanh số giao dịch năm
2004 tăng gấp 3 lần năm 2003 và bằng khoảng 16 lần so với năm 2001, khối
lượng giao dịch từng phiên cũng tăng bình quân 82 tỉ đồng/phiên năm 2000 lên
725 tỷ đồng/phiên tính đến giữa năm 2005. Trong số các thành viên của thị
trường mở (27 tổ chức tín dụng được công nhận là thành viên) thì các thành viên
tham gia thường xuyên luôn là các NHTMNN với tỷ trọng giao dịch lớn. Trong
thời gian tới, khi tiến trình CPH NHTMNN được xúc tiến mạnh mẽ, thì hoạt
động của các NHTMNN trên các thị trường sơ cấp và thứ cấp sẽ ngày càng sôI
động. Đây là môI trường thuận lợi để NHNN thực hiện chính sách tiền tệ tích
cực đến nền kinh tế.
2.3. CPH hệ thống NHTMNN tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số
chứng khoán và tình trạng “sức khoẻ” của nền kinh tế.
Ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển, nơI mà TTTC đạt đến sự hoàn
hảo, mỗi một biến động dù là nhỏ về chỉ số chứng khoán (thực chất được xác
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
11
định trên cơ sở giá cổ phiếu) đều phản ánh được thực trạng của nền kinh tế,
thông qua chỉ số chứng khoán có thể biết được nền kinh tế đang trên đà tăng
động ngân hàng có ảnh hưởng rất to lớn đến hầu hết các ngành khác trong nền
kinh tế. Do đó, CPH các NHTMNN cần hết sức thận trọng để đảm bảo độ an
toàn và bền vững của không những hệ thống ngân hàng mà còn của toàn bộ nền
kinh tế.
Ba là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với việc nâng cao năng lực điều
hành, quản trị, ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại, tạo ra các sản phẩm
ngân hàng mới, có sức cạnh tranh cao. Việc CPH cho phép tăng thêm năng lực
cạnh tranh của các NHTMNN, thúc đẩy hiện đại hoá, nâng cao năng lực quản trị
điều hành và trình độ chuyên môn của cán bộ, nhân viên ngân hàng, thu hút nhân
tài trong và ngoài nước vào làm việc. Chắc chắn nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ
tìm kiếm cơ hội mua cổ phần một số NHTMNN của Việt Nam. Theo đó, họ sẽ
chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản trị điều hành tiên tiến, kiểm toán
chặt chẽ theo chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, tăng thành phần sở hữu khác
trong các NHTMNN cũng góp phần làm minh bạch hơn hoạt động, nhất là việc
cấp tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí trong chính các
NHTM được CPH.
Bốn là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với quá trình xử lý các yếu kém
tồn tại, lành mạnh hoá tài chính, giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn. Vừa qua, Hội
đồng Tài chính - Tiền tệ của Chính phủ đã góp ý thông qua đề án tăng thêm vốn
cho các NHTM. Theo đó, giải pháp để tăng thêm vốn cho các NHTM sẽ bao
gồm cả việc cho phép CPH một phần vốn của các doanh nghiệp nhà nước dưới
hình thức bán trái phiếu chuyển đổi cho ngân hàng để tăng vốn điều lệ. Việt Nam
được đánh giá là một trong những nước thực hiện tốt chính sách tỷ giá và kiểm
soát lạm phát, nhưng việc cải cách ngân hàng còn chậm. Yêu cầu đặt ra là cần
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
13
phải khắc phục triệt để trong năm 2004. Ngoài ra, trong quá trình tái cơ cấu
NHTM, vấn đề phát triển bền vững tài chính được Nhà nước, Ngân hàng Nhà
tiêu của CPH là bổ sung thêm nguồn vốn tự có, người lao động khi bỏ vốn vào
ngân hàng họ phải đợc giám sát mọi hoạt động, được thấy đồng vốn của họ sinh
sôi nảy nở ra sao? Tránh tình trạng “bình mới rượu cũ”.
Sáu là, mô hình quản lý sau CPH: Mô hình quản lý ở đây bao hàm cả mô
hình tổ chức và phương thức quản lý. Cần phải có sự thay đổi mô hình tổ chức
khi tiến hành CPH để quản trị tốt hơn. Một điều đáng chú ý là khi tiến hành ch-
ương trình CPH phải tính tới vai trò, mô hình của Hội đồng quản trị bởi khi đó,
Hội đồng quản trị bao gồm các cổ đông khác nữa chứ không chỉ đơn thuần là đại
diện cổ đông Nhà nước thôi. Từ đó, cần đặt ra quy chế quản lý theo phương thức
mới dưới hình thức là một doanh nghiệp cổ phần.
2. Mục tiêu CPH NHTMNN:
Từ những quan điểm nêu trên, thực hiện chương trình CPH các
NHTMNN, chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu sau:
Thứ nhất, đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh
của các NHTMNN, để từ đó thực hiện tốt các cam kết của các hiệp định song
phương và đa phương.
Thứ hai, đảm bảo năng lực hoạt động của bản thân ngân hàng (tỷ lệ an
toàn vốn tự có), lành mạnh hoá tài chính các NHTM và cả hệ thống ngân hàng.
Giải pháp CPH NHTMNN trước hết sẽ cho phép huy động một khối lượng vốn
rất lớn trong và ngoài nước để tăng vốn điều lệ của các ngân hàng này, đảm bảo
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% theo thông lệ quốc tế trong khi việc trông chờ
cấp bổ sung vốn từ ngân sách nhà nước đang hết sức khó khăn. Điều đó cũng có
nghĩa là giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, không những thế còn tạo điều
kiện tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
15
Thứ ba, thúc đẩy quá trình đổi mới, sắp xếp các DNNN gắn với xử lý dứt
điểm các khoản nợ tồn đọng.
các định chế tài chính quốc tế có uy tín thực hiện, tư vấn cả trước, trong và sau
CPH. Việc này tuy khó, nhưng vẫn có thể làm tốt được. Vấn đề là phải chuẩn bị
thật kỹ.
Thứ sáu, nghiên cứu đảm bảo tỷ lệ nắm giữ cổ phần hợp lý đối với các tổ
chức và cá nhân ngoài Nhà nước. Ngân hàng vốn được coi là một ngành nhạy
cảm, một ngành then chốt liên quan đến an ninh quốc gia, nên bắt buộc Nhà nư-
ớc phải nắm quyền kiểm soát. Nên chăng để Nhà nước chi phối trong khoảng từ
51 - 75% cổ phần, còn lại để các tổ chức và cá nhân ngoài Nhà nước nắm giữ. Lẽ
đương nhiên, Nhà nớc phải kiểm soát ngành ngân hàng nhng không phải là
khống chế các hoạt động trao đổi hằng ngày của các ngân hàng. Thay vì thế,
Chính phủ nên có hệ thống hỗ trợ giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Một
ví dụ là các ngân hàng ở Hồng Kông, qua số liệu nghiên cứu thì ở đây không có
một ngân hàng Nhà nước nào, nhưng lại là nơi có những ngân hàng hoạt động
hiệu quả nhất trên thế giới. Do đó, vai trò của Nhà nớc là quản lý vốn và nợ,
cũng nh tình hình hoạt động chung của các ngân hàng. Nếu Nhà nước can thiệp
quá nhiều thì sẽ rất khó khăn trong việc đánh giá ngân hàng hoạt động có hiệu
quả hay không, liệu có “nợ xấu” hay “nợ khó đòi” không. Trường hợp có nợ xấu
hay nợ khó đòi chính là lúc cần đến sự can thiệp của Nhà nước, Nhà nước sẽ giải
quyết nợ đó bằng những chính sách tài khoá thích hợp. Trở lại với việc nắm giữ
cổ phần của các cá nhân, tổ chức ngoài Nhà nước, trước hết, cổ phiếu phải sớm
được niêm yết, chỉ nên bán một phần nhất định cho cán bộ công nhân viên của
bản thân NHTM được CPH, như thế mới có thể thay đổi được một cách căn bản
mô hình cũng như phương thức quản lý. Trong thời gian tới, nên nghiên cứu và
tính tới việc niêm yết cổ phiếu của các NHTM Việt Nam trên thị trường chứng
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
17
khoán nước ngoài, chứ không chỉ đơn thuần là thị trường chứng khoán trong n-
ước.
Khi CPH hệ thống NHTMNN được triển khai hiệu quả, không những các
mục tiêu chương trình CPH được thực hiện tót, mà TTCK nói riêng và TTTC ở
VN nói chung cũng có điều kiện để phát triển một cách vững chắc và phát huy
được vai trò của mình.nền kinh tế và vẫn chiếm được lòng tin của đại bộ phận
dân chúng, thể hiện trên số dư tiền gửi vượt trội
CPH NHTMNN cũng mang nội dung cơ bản trên, tuy nhiên NHTMNN
mang trong mình những đặc thù riêng biệt và có vai trò là “bà đỡ” của nền kinh
tế nên việc CPH này cũng có nhiều điểm khác biệt. Việc thực hiện các đề án
chuyển quyền sở hữu duy nhất của nhà nước thành đa chủ sở hữu nhất thiết cần
phải thực hiện theo lộ trình cụ thể, không thể làm ồ ạt mà thực hiện từng bước. CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CPH NHTMNN VIỆT NAM
1. Đề án CPH Vietcombank
Thủ tướng xác định đây là một yêu cầu cấp bách trong việc nâng cao
năng lực cạnh tranh và đổi mới các ngân hàng thương mại nhà nước trước yêu
cầu về mở cửa thị trường và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Theo đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nhà
đồng bằng sông Cửu Long cần khẩn trương thực hiện các công việc mà Thủ
tướng Chính phủ đã quyết định để hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2007.
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
19
Ngày 4/10 vừa qua, Vietcombank cũng đã tiến hành hợp tác với Công ty
Mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC) nhằm đẩy nhanh quá trình xử lý các
khoản nợ và tài sản tồn đọng, một bước đi cần thiết cho quá trình cổ phần hóa kế
tiếp.
phần hoá là:
- BIDV thực hiện thành công đề án cơ cấu lại, BIDV đã nỗ lực tăng cường
năng lực phục vụ nền kinh tế thông qua đẩy mạnh công tác huy động vốn, cho
vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng đối với các thành phần kinh tế. Năm
2005, tổng tài sản của BIDV đạt 121403 tỷ đồng, huy động vốn đạt 87025 tỷ
đồng, dư nợ đạt 82717 tỷ đồng.
- BIDV chú trọng đẩy mạnh đổi mới cơ cấu sản phẩm dịch vụ, tạo lập cơ
cấu hoạt động đa dạng: tỷ lệ vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư trên tổng
tài sản 72% (năm 2005). Các sản phẩm dịch vụ ngày càng được đa dạng hoá và
có bước phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng. BIDV đã xây dựng được
một hệ thống danh mục các sản phẩm dịch vụ thoả mãn nhu cầu đa dạng của
khách hàng, đặc biệt là cấc dịch vụ trên nền công nghệ mới như ATM, dịch vụ
quản lí tiền tự động smart @ acount, các loại hình tiết kiệm linh hoạt, home
banking, phone banking.
- BIDV đã tích cực tự huy động vốn trên thị trường để tài trợ cho phát
triển kinh tế đất nước. Trong giai đoạn 1996-2005 BIDV đã thực hiện cho vay
thương mại đối với nền kinh tế với doanh số lên tới trên 550000 tỷ đồng, góp
phần tích cực cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Tổng dư nợ 82717 tỷ đồng, tập
trung chủ yếu cho đầu tư các dự án lớn trọng điểm của quốc gia như điện, dầu
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
21
khí, sắt thép, xi măng. BIDV đã xây dựng và triển khai các định hướng, chính
sách tín dụng phù hợp các vùng kinh tế trọng điểm, thực hiện các chương trình
kinh tế thuộc các khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng Bằng Sông
Cửu Long, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp chế
biến, vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp, phát triển
kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại.
- Cùng với các nỗ lực kinh doanh, BIDV còn nâng cao tính minh bạch về
cường năng lực theo tiêu chuẩn quốc tế vào năm 2006, BIDV sẽ được phép cổ
phần hoá từ năm 2007
- Nội dung của đề án cổ phần hoá BIDV gồm 4 bứơc:
Bước 1: chuẩn bị ( đến hết năm 2006): hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược
giai đoạn 2006-2010, triển khai các đề án xử lí nợ, tăng vốn theo kế hoạch, trình
NHNNvà chính phủ phê duyệt chủ trương cổ phần hoá. Sau khi được chính phủ
chấp nhận chủ trương cổ phần hoá, BIDV tiến hành thuê tư vấn quốc tế và chuẩn
bị hồ sơ pháp lí của doanh nghiệp tài sản, công nợ, đồng thời tiến hành xây dựng
đề án cổ phần hoá chi tiết để trình lên NHNN
Bước 2: xây dựng phương án cổ phần hoá: BIDV dự kiến sẽ trình NHNN,
chính phủ đề án cổ phần hoá chi tiết vào quý I/2007. Sau khi có quyết định cổ
phần hoá, BIDV sẽ tiến hành những thủ tục theo chỉ đạo của ban chỉ đạo cổ phần
hoá. Hoàn tất hồ sơ tài liệu để cổ phần hoá theo quy định, kiểm kê, xử lí những
vấn đề về tài chính và tổ chức xác định giá trị của BIDV (vào quý III/2007). Sau
khi có quyết định phê duyệt giá trị doanh nghiệp, hoàn tất phương án cổ phần
hoá: kế hoạch kinh doanh sau cổ phần, dự thảo điều lệ, phương án lao động,
phương án cổ phần hoá ( gồm cả việc lựa chọn cổ đông chiến lựơc…)
Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
23
Bước 3: tổ chức bán cổ phần lần đầu: lựa chọn phương thức bán cổ phần
theo quy định, tổ chức bán cổ phần lần đầu ( dự kiện quý IV/2007), tổng hợp kết
quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá và điều chỉnh quy mô,
cơ cấu cổ phần của BIDV ( nếu có).
Bước 4: hoàn tất việc chuyển BIDV thành NHTM cổ phần: BIDV có kế
hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam sau khi phát
hành cổ phần lần đầu và tích cực hoàn thiện các điều kiện để đăng kí niêm yết
trên thị trường chứng khoán Singapore
Ngân hàng công thương Việt Nam (NHCTVN) đang đẩy mạnh nâng
tài trợ thương mại, chuyển tiền thanh toán ra nước ngoài, kinh doanh ngoại tệ,
đầu tư vốn ở nước ngoài, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, séc du lịch
NHCTVN được coi là 1 ngân hàng đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ
tin học vào ngân hàng, hoàn thành giai đoạn 1 dự án hiện đại hoá ngân hàng và
hệ thống thanh toán (INCAS).
3. Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long:
Theo kế hoạch định hướng cổ phần hoá đó là lựa chọn cổ đông lớn từ các
tập đoàn tài chính- ngân hàng có uy tín trên thế giới để mua một tỉ lệ cổ phần
khống chế. Mục tiêu là cơ cấu lại toàn diện ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng
sông Cửu Long theo tiêu chuẩn quốc tế, từ quản trị điều hành, công nghệ, sản
phẩm dịch vụ… cổ phiếu của ngân hàng sẽ được niêm yết trên thị trường chứng
khoán. Dự kiến công việc định giá và kiểm toán của ngân hàng này phải hoàn
thành sớm, đầu năm 2007 . Đề án môn học
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
25
CHƯƠNG III
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
I. KIẾN NGHỊ
Để quá trình cổ phần hoá được thành công,BIDV kiến nghị chính phủ giao
cho BIDV,được chủ động xây dựng phương án cổ phần hoá báo cáo NHNN, để
NHNN phối hợp với các cán bộ nghành và chính phủ xem xét, quyết định
phương án cổ phần hoá, giao cho BIDV được chủ động xây dựng phương án lựa
chọn đối tác nước ngoài có uy tín, kinh nghiệm theo hình thức chỉ định thầu, báo
cáo trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện tư vấn quá trình cổ phần hoá
cho BIDV như tư vấn về quy trình và xây dựng phương án cổ phần hoá, xác định