Các giải pháp tài chính để cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. - Pdf 31

Đề án môn học
MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính là thị trường dẫn vốn từ những người có vốn dư thừa
tới người thiếu vốn qua các kênh trực tiếp (việc trao đổi vốn không qua trung
gian) hoặc gián tiếp (việc trao đổi vốn qua các tổ chức tài chính trung gian). Sự
phát triển không ngừng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng cuả nền kinh tế càng làm
cho kênh chuyển vốn qua các tổ chức tài chính trung gian ngày càng đóng vai trò
quan trọng đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Ở nước ta hệ thống NHTMNN đã và
đang chi phối các hoạt động tài chính tiền tệ và có vị trí ảnh hưởng rất lớn tới thị
trường tài chính cũng như sức khoẻ của nền kinh tế Việt Nam. Hơn hết trước yêu
cầu cấp thiết hội nhập và toàn cầu hoá đòi hỏi các NH VN phải có nhứng cải
cách và thay đổi phù hợp. Quá trình cổ phần hoá (CPH) NHTMNN là một trong
những bước đi quan trọng góp phần phát huy vai trò nền tảng thúc đẩy nền kinh
tế. Các NHTMNN VN đang trong quá trình thực hiện các đề án CPH do đó nhất
thiết phải đưa ra giải pháp để thúc đẩy quá trình CPH NHTMNN đúng hướng,
đúng tiến độ và đạt hiệu quả.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài viết dưới đây em chỉ
đề cập đến giải pháp tài chính để CPH NHTMNN ở VN hiện nay.
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
1
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. CÁC KHÁI NIỆM
Để hiểu rõ về CPH NHTMNN trước hết ta phải hiểu thế nào là CPH.
Về bản chất CPH là quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu, đưa các yếu
tố cạnh tranh làm động lực để phát triển hướng kinh doanh.
CPH về cơ bản là quá trình mà ở đó không xoá bỏ hoặc tạo ra tài sản
nhưng được phân bổ lại theo cách thức mới và tạo tiềm năng phát triển mạnh mẽ
hơn.
Xét về hình thức CPH DNNN thì CPH là việc nhà nước bán một hoặc toàn
bộ giá trị cổ phần của mình trong xí nghiệp cho các đối tượng, tổ chức hoặc cá

quân đạt 17,11%, trong đó 71,4% số DN có cổ tức cao hơn lãi tiền gửi ngân
hàng.
Năm 2004, số DNNN còn lại là 4300, trong đó phải tiến hành đa dạng hoá
hoặc CPH khoảng 2400 doanh nghiệp. Tính đến nay qua 15 năm thực hiện CPH
DNNN, tổng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại các DNNN đã CPH mới đạt
xấp xỉ 15% tổng vốn nhà nước có được đến cuối năm 2005. Số DN tiếp tục duy
trì 100% vốn nhà nước cho đến năm 2005 còn lại khoảng 1.200 DN. Toàn bộ các
DN không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn (khoảng 1.460 DN) sẽ được
sắp xếp theo hình thức CPH; trường hợp không cổ phần hoá thì chuyển sang lựa
chọn các hình thức như giao, bán, giải thể, phá sản DN.
Xuất phát từ thực trạng này, Chính phủ đã chỉ đạo cần đẩy mạnh hơn nữa
quá trình sắp xếp, CPH DNNN. Thể chế hoá các Nghị quyết Trung ương về đẩy
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
3
nhanh, đẩy mạnh CPH DNNN, một loạt biện pháp đã được đề ra nhằm thực hiện
bằng được mục tiêu hoàn thành sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2006 – 2010,
một giải pháp quyết liệt nhằm đẩy mạnh quá trình này là mở rộng (đối tượng)
CPH, đây cũng chính là cơ sở của quá trình tăng tốc CPH DNNN
2.CPH NHTMNN:
CPH NHTMNN về thực chất là quá trình chuyển đổi các NHTMNN có
một chủ sở hữu là Nhà nước, thành các NHTM có nhiều chủ sở hưu với nhiều cổ
đông khác nhau. tính đến nửa đầu năm 2004,tổng giá trị tài sảncủa các
NHTMNN chiếm tới hơn 73.80% tổng giá trị tài sản thể hiện trên cân đối kế
toán của các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm và luôn là
ngành kinh tế then chốt của bất kì một quốc gia nào. với xu thế hội nhập tất yếu
như hiện nay, các ngân hàng phải không ngừng nỗ lực để giành thế chủ động trên
thị trường nội địa, sẵn sàng tiến bước ra thị trường quốc tế. NHTMNN có thị
phần hoạt động chiếm trên 70% trên toàn quốc vì vậy các NHTMNN phải tiến
những bước vững chắc trước tiên để đưa cả hệ thống ngân hàng tiến bước trong

mở rộng phạm vi, tăng cường khả năngthanh toán cùng với việc đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ ngân hàng
Do vậy, yêu cầu đối với các NHTMNN hiện nay là phải nâng cao năng lực
cạnh tranh, nâng cao nội lực. Cổ phần hoá được coi là giảI pháp giúp đẩy nhanh
mục tiêu trên, là một bước đi đầu đảm bảo vừa tăng vốn để đạt chuẩn mực quốc
tế vừa tạo dựng cơ chế quản lí kinh doanh ngân hàng hiện đại phù hợp với xu thế
của thời đại. Sự lớn mạnh của các NHTMNN sau cổ phần hoá góp phần quan
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
5
trọng vào việc xây dựng một hệ thống tài chính vững mạnh, nhà nước cũng sẽ
đảm bảo được quyền kiểm soát hay chi phối đến hoạt động của các ngân hàng
với một tỉ lệ cổ phần nhất định
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CPH NHTMNN VN HIỆN NAY:
1. Điều kiện hiện nay của các NHTMNN VN:
Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới với việc tích cực thực thi các cam kết về Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và đàm phán gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển
kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập thì một trong những yếu
tố có ý nghĩa quyết định là nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh
nghiệp và của hàng hoá, dịch vụ.
Nhận thức được tính cấp thiết và tầm quan trọng trong việc nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp, hàng hoá và dịch vụ, Chính phủ đã
có nhiều chủ trương nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và chủ động hội nhập,
trong đó: sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp
Nhà nước, đẩy mạnh tiến độ cổ phần hóa (CPH) và mở rộng diện các doanh
nghiệp Việt Nam cần CPH, kể cả một số doanh nghiệp lớn, trong đó có các ngân
hàng thương mại nhà nước (NHTMNN).
Ngân hàng là ngành kinh tế huyết mạch của đất nước, ảnh hưởng đến toàn
bộ hoạt động của nền kinh tế, với tính chất hoạt động tương đối đặc thù. Vốn tự

là cần đẩy mạnh, đẩy nhanh hơn nữa những cải cách trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng. Đây là một thách thức, nhưng đồng thời cũng là một động lực thúc
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
7
đẩy chương trình tái cơ cấu lại các NHTM. Quá trình CPH cũng nằm trong nỗ
lực nhằm tăng cường sự lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
2.CPH NHTMNN tạo điều kiện phát huy vai trò của thị trường tài
chính
2.1.CPH NHTMNN kích thích tăng nguồn vốn tiết kiệm tài trợ cho nhu
cầu mở rộng đầu tư, nhu cầu tăng trưởng nền kinh tế .
CPH NHTMNN về thực chất là quá trình chuyển đổi các NHTMNN có
một chủ sở hữu là Nhà nước, thành các NHTM có nhiều chủ sở hữu với nhiều cổ
đông khác nhau. tính đến nửa đầu năm 2004,tổng giá trị tài sảncủa các
NHTMNN chiếm tới hơn 73.80% tổng giá trị tài sản thể hiện trên cân đối kế
toán của các tổ chức tín dụng. Rõ ràng, với tiềm lực tài chính và uy tín của mình,
khi thực hiện CPH NHTMNN rất có lợi thế trong việc thu hút vốn từ các chủ thể
khác nhau của nền kinh tế trong và ngoài nước, đáp ứng nhu cầu về vốn của nền
kinh tế. Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu về vốn của nền kinh tế ngày càng lớn,
trên thực tế , nhiều chương trình , dự án lớn mang tầm cỡ quốc gia thuộc nhiều
lĩnh vực, các công trình trọng tâm đã và đang được tài trợ với vốn đầu tư chủ yếu
là từ các NHTMNN (các chương trình phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế
miền núi Tây nguyên, phát triển đồng bằng sông Cửu Long của Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển VN). Từ thực tế đó, việc CPH các NHTMNN trong thời gian tới
sẽ giúp thị trường tài chính VN có một kênh huy động vốn rất hiệu quả, đáp ứng
đầy đủ và kịp thời hơn nhu cầu về vốn của các chủ thể kinh tế khác nhau, góp
phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả của nền kinh tế.
8
Đề án môn học
2.2. CPH NHTMNN kích thích sự linh hoạt và đem đén thị trường tài
chính VN một môi trường hoàn hảo hơn, nâng cao hiệu quả trong việc thực

chủ thể tham gia vào thị trường (người đI vay, người cho vay) điều chỉnh hành vi
theo hướng có lợi cho mình. Đối với nhà đầu tư, nếu chỉ số chứng khoán biến
động theo hướng không có lợi thì lợi tức dự tính trong tương lai về chứng khoán
của tổ chức phát hành sẽ giảm và nhà đầu tư sẽ chuyển hướng đầu tư sang những
loại chứng khoán hoặc những công cụ đầu tư của các chủ thể khác có lợi hơn cho
mình, còn đối với nhà phát hành – người đi vay sẽ đưa ra các giải pháp cải tiện
tình hình kinh doanh để có thể thay đổi chỉ số chứng khoán theo chiều hướng tốt
hơn nhằm thu hút các nhà đầu tư. Điều này sẽ có những tác động tích cực tới nền
kinh tế. Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ có được khi TTTC hội tụ đủ một số điều
kiện : các chủ thể tham gia vào thị trường, đặc biệt là các tổ chức phát hành
chứng khoán phảI có tiềm lực đủ mạnh; hàng hoá trên TTTC có tính lỏng cao, có
thể dễ dàng chuyển hoá thành tiền
IV. NỘI DUNG CPH NHTMNN
1.Một số quan điểm để tiến hành CPH NHTMNN:
CPH NHTMNN là một nhu cầu cần thiết và thực tế, một xu hướng tất yếu
khi mà định hướng chung của kinh tế nước ta là hội nhập với kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, cần nắm được một số quan điểm sau để tiến hành CPH có hiệu quả:
Một là, CPH các NHTMNN phải nằm trong kế hoạch tổng thể cơ cấu lại
và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam. Một trong những trọng tâm của nó là
việc nâng vốn của các NHTMNN lên càng sớm càng tốt, để khi tiến hành CPH
xong thì tỷ lệ an toàn vốn phải đạt chuẩn mực quốc tế. Phấn đấu trong thời gian
10
Đề án môn học
tới, các NHTMNN Việt Nam có thể đạt mức trung bình tiên tiến của khu vực. Và
việc CPH thực chất là một giải pháp để có thể đạt được mục tiêu này.
Hai là, CPH các NHTMNN cần tiến hành từng bước thận trọng. Do tính
chất tương đối đặc thù, ngân hàng vốn đợc coi là một ngành nhạy cảm, hoạt
động ngân hàng có ảnh hưởng rất to lớn đến hầu hết các ngành khác trong nền
kinh tế. Do đó, CPH các NHTMNN cần hết sức thận trọng để đảm bảo độ an
toàn và bền vững của không những hệ thống ngân hàng mà còn của toàn bộ nền

tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của các
NHTM đều thua kém ngân hàng trong khu vực. Nếu tính cả nợ khoanh và nợ
khó đòi thì hoạt động của nhiều ngân hàng đang ở tình trạng thua lỗ, thu nhập
thuần tuý thấp, khả năng thiết lập các quỹ dự trữ bị hạn chế và khả năng thanh
toán rất nhỏ. CPH các NHTMNN phải giải quyết, khắc phục được các yếu kém
đó.
Năm là, CPH các NHTMNN phải được tiến hành theo hướng công khai,
minh bạch theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.
Tránh hiện tượng CPH khép kín. Hơn nữa, CPH NHTMNN không phải là bán tài
sản hiện tại của Nhà nước cho khu vực tư nhân, mà là giữ nguyên tài sản của
Nhà nước với mức tăng hằng năm do tái đầu tư bình thường, đồng thời huy động
thêm vốn mới từ công chúng, nhằm nâng cao tiềm lực tài chính và quy mô hoạt
động của các NHTMNN. Ngoài việc đảm bảo an toàn hoạt động cho cả hệ thống
ngân hàng, cơ sở vốn bền vững còn là điều kiện cần thiết và là cơ hội để hiện đại
hoá công nghệ và quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện vai trò, vị thế
và uy tín quốc tế của hệ thống tài chính, ngân hàng Việt Nam, đồng thời có thể
hỗ trợ đắc lực cho phát triển thị trường chứng khoán của nước ta.
12
Đề án môn học
Thực tế, CPH NHTMNN là rất cần thiết, đúng đắn, song phải đi vào thực
chất. Cần tránh hiện tượng mang danh là CPH, nhưung thực chất vốn của Nhà
nước lại được điều chuyển từ doanh nghiệp thành viên này sang doanh nghiệp
thành viên khác, hoặc số cổ phiếu bán đến người lao động rất ít. Cuối cùng mục
tiêu của CPH là bổ sung thêm nguồn vốn tự có, người lao động khi bỏ vốn vào
ngân hàng họ phải đợc giám sát mọi hoạt động, được thấy đồng vốn của họ sinh
sôi nảy nở ra sao? Tránh tình trạng “bình mới rượu cũ”.
Sáu là, mô hình quản lý sau CPH: Mô hình quản lý ở đây bao hàm cả mô
hình tổ chức và phương thức quản lý. Cần phải có sự thay đổi mô hình tổ chức
khi tiến hành CPH để quản trị tốt hơn. Một điều đáng chú ý là khi tiến hành
chương trình CPH phải tính tới vai trò, mô hình của Hội đồng quản trị bởi khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status