Các giải pháp tài chính để cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay - Pdf 10

Đề án môn học
MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính là thị trường dẫn vốn từ những người có vốn dư thừa
tới người thiếu vốn qua các kênh trực tiếp (việc trao đổi vốn không qua trung
gian) hoặc gián tiếp (việc trao đổi vốn qua các tổ chức tài chính trung gian). Sự
phát triển không ngừng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng cuả nền kinh tế càng làm
cho kênh chuyển vốn qua các tổ chức tài chính trung gian ngày càng đóng vai trò
quan trọng đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Ở nước ta hệ thống NHTMNN đã và
đang chi phối các hoạt động tài chính tiền tệ và có vị trí ảnh hưởng rất lớn tới thị
trường tài chính cũng như sức khoẻ của nền kinh tế Việt Nam. Hơn hết trước yêu
cầu cấp thiết hội nhập và toàn cầu hoá đòi hỏi các NH VN phải có nhứng cải
cách và thay đổi phù hợp. Quá trình cổ phần hoá (CPH) NHTMNN là một trong
những bước đi quan trọng góp phần phát huy vai trò nền tảng thúc đẩy nền kinh
tế. Các NHTMNN VN đang trong quá trình thực hiện các đề án CPH do đó nhất
thiết phải đưa ra giải pháp để thúc đẩy quá trình CPH NHTMNN đúng hướng,
đúng tiến độ và đạt hiệu quả.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài viết dưới đây em chỉ
đề cập đến giải pháp tài chính để CPH NHTMNN ở VN hiện nay.
1
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
1
Đề án môn học
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. CÁC KHÁI NIỆM
Để hiểu rõ về CPH NHTMNN trước hết ta phải hiểu thế nào là CPH.
Về bản chất CPH là quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu, đưa các yếu
tố cạnh tranh làm động lực để phát triển hướng kinh doanh.
CPH về cơ bản là quá trình mà ở đó không xoá bỏ hoặc tạo ra tài sản
nhưng được phân bổ lại theo cách thức mới và tạo tiềm năng phát triển mạnh mẽ
hơn.

Qua thực tế hoạt động hơn 1 năm của 850 DN hoàn thành cổ phần cho
thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện
tăng 139,76%, nộp ngân sách tăng 24,9%, thu nhập người lao động tăng 12%, số
lao động không những không giảm mà bình quân tăng 6,6%, đặc biệt cổ tức bình
quân đạt 17,11%, trong đó 71,4% số DN có cổ tức cao hơn lãi tiền gửi ngân
hàng.
Năm 2004, số DNNN còn lại là 4300, trong đó phải tiến hành đa dạng hoá
hoặc CPH khoảng 2400 doanh nghiệp. Tính đến nay qua 15 năm thực hiện CPH
DNNN, tổng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại các DNNN đã CPH mới đạt
xấp xỉ 15% tổng vốn nhà nước có được đến cuối năm 2005. Số DN tiếp tục duy
trì 100% vốn nhà nước cho đến năm 2005 còn lại khoảng 1.200 DN. Toàn bộ các
DN không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn (khoảng 1.460 DN) sẽ được
sắp xếp theo hình thức CPH; trường hợp không cổ phần hoá thì chuyển sang lựa
chọn các hình thức như giao, bán, giải thể, phá sản DN.
Xuất phát từ thực trạng này, Chính phủ đã chỉ đạo cần đẩy mạnh hơn nữa
quá trình sắp xếp, CPH DNNN. Thể chế hoá các Nghị quyết Trung ương về đẩy
3
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
3
Đề án môn học
nhanh, đẩy mạnh CPH DNNN, một loạt biện pháp đã được đề ra nhằm thực hiện
bằng được mục tiêu hoàn thành sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2006 – 2010,
một giải pháp quyết liệt nhằm đẩy mạnh quá trình này là mở rộng (đối tượng)
CPH, đây cũng chính là cơ sở của quá trình tăng tốc CPH DNNN
2.CPH NHTMNN:
CPH NHTMNN về thực chất là quá trình chuyển đổi các NHTMNN có
một chủ sở hữu là Nhà nước, thành các NHTM có nhiều chủ sở hưu với nhiều cổ
đông khác nhau. tính đến nửa đầu năm 2004,tổng giá trị tài sảncủa các
NHTMNN chiếm tới hơn 73.80% tổng giá trị tài sản thể hiện trên cân đối kế
toán của các tổ chức tín dụng.

ngoài có ưu thế về vốn, kinh nghiệm quản lí, công nghệ tiên tiến nhất
Đồng thời cũng mở ra những cơ hội phát triển cụ thể là:
- Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngân hàng
nhanh chóng tiếp cận với các kiến thức và kinh nghiệm quản lí từ các nước tiên
tiến trên thế giới, tận dụng được nguồn vốn, công nghệ hiện đại của nước ngoài.
Áp dụng các chuẩn mực quốc tế làm cho hệ thống ngân hàng minh bạch, hoạt
động có hiệu quả và an toàn hơn.
- Cạnh tranh là động lực để các ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động,
mở rộng phạm vi, tăng cường khả năngthanh toán cùng với việc đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ ngân hàng
Do vậy, yêu cầu đối với các NHTMNN hiện nay là phải nâng cao năng lực
cạnh tranh, nâng cao nội lực. Cổ phần hoá được coi là giảI pháp giúp đẩy nhanh
mục tiêu trên, là một bước đi đầu đảm bảo vừa tăng vốn để đạt chuẩn mực quốc
tế vừa tạo dựng cơ chế quản lí kinh doanh ngân hàng hiện đại phù hợp với xu thế
của thời đại. Sự lớn mạnh của các NHTMNN sau cổ phần hoá góp phần quan
5
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
5
Đề án môn học
trọng vào việc xây dựng một hệ thống tài chính vững mạnh, nhà nước cũng sẽ
đảm bảo được quyền kiểm soát hay chi phối đến hoạt động của các ngân hàng
với một tỉ lệ cổ phần nhất định
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CPH NHTMNN VN HIỆN NAY:
1. Điều kiện hiện nay của các NHTMNN VN:
Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới với việc tích cực thực thi các cam kết về Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và đàm phán gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển
kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập thì một trong những yếu
tố có ý nghĩa quyết định là nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh

quốc tế, hằng năm ngân sách nhà nước phải cấp bổ sung vốn tự có cho các
NHTMNN hàng chục nghìn tỷ đồng. Đây là điều rất khó thực hiện được và cũng
không mang lại hiệu quả kinh tế thực... Về phương diện quản trị điều hành, tuy
đã được tăng cường một bước, song vai trò của quản trị điều hành vẫn chưa tạo
ra động lực mạnh thật sự. Phương thức quản lý còn nhiều bất cập, phân phối thu
nhập cha gắn với hiệu quả lao động; chế độ khen thưởng, động viên lao động còn
bị hạn chế bởi các ràng buộc theo quy định của Nhà nước. Vì vậy, lợi ích và
trách nhiệm của các bên liên quan: Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động
chưa được phân định rõ ràng, chưa tạo dựng đựơc mối liên kết để cùng tồn tại và
phát triển.
Chúng ta đã biết, Việt Nam vừa vượt qua vòng đàm phán thứ 8 để gia
nhập WTO vào năm 2005. Một trong những yêu cầu của WTO đối với Việt Nam
là cần đẩy mạnh, đẩy nhanh hơn nữa những cải cách trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng. Đây là một thách thức, nhưng đồng thời cũng là một động lực thúc
đẩy chương trình tái cơ cấu lại các NHTM. Quá trình CPH cũng nằm trong nỗ
7
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
7
Đề án môn học
lực nhằm tăng cường sự lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
2.CPH NHTMNN tạo điều kiện phát huy vai trò của thị trường tài
chính
2.1.CPH NHTMNN kích thích tăng nguồn vốn tiết kiệm tài trợ cho nhu
cầu mở rộng đầu tư, nhu cầu tăng trưởng nền kinh tế .
CPH NHTMNN về thực chất là quá trình chuyển đổi các NHTMNN có
một chủ sở hữu là Nhà nước, thành các NHTM có nhiều chủ sở hữu với nhiều cổ
đông khác nhau. tính đến nửa đầu năm 2004,tổng giá trị tài sảncủa các
NHTMNN chiếm tới hơn 73.80% tổng giá trị tài sản thể hiện trên cân đối kế
toán của các tổ chức tín dụng. Rõ ràng, với tiềm lực tài chính và uy tín của mình,
khi thực hiện CPH NHTMNN rất có lợi thế trong việc thu hút vốn từ các chủ thể

725 tỷ đồng/phiên tính đến giữa năm 2005. Trong số các thành viên của thị
trường mở (27 tổ chức tín dụng được công nhận là thành viên) thì các thành viên
tham gia thường xuyên luôn là các NHTMNN với tỷ trọng giao dịch lớn. Trong
thời gian tới, khi tiến trình CPH NHTMNN được xúc tiến mạnh mẽ, thì hoạt
động của các NHTMNN trên các thị trường sơ cấp và thứ cấp sẽ ngày càng sôI
động. Đây là môI trường thuận lợi để NHNN thực hiện chính sách tiền tệ tích
cực đến nền kinh tế.
2.3. CPH hệ thống NHTMNN tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số
chứng khoán và tình trạng “sức khoẻ” của nền kinh tế.
Ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển, nơI mà TTTC đạt đến sự hoàn
hảo, mỗi một biến động dù là nhỏ về chỉ số chứng khoán (thực chất được xác
định trên cơ sở giá cổ phiếu) đều phản ánh được thực trạng của nền kinh tế,
thông qua chỉ số chứng khoán có thể biết được nền kinh tế đang trên đà tăng
9
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
9
Đề án môn học
trưởng hay trong xu hướng suy thoái. Điều này rất quan trọng vì nó giúp cho các
chủ thể tham gia vào thị trường (người đI vay, người cho vay) điều chỉnh hành vi
theo hướng có lợi cho mình. Đối với nhà đầu tư, nếu chỉ số chứng khoán biến
động theo hướng không có lợi thì lợi tức dự tính trong tương lai về chứng khoán
của tổ chức phát hành sẽ giảm và nhà đầu tư sẽ chuyển hướng đầu tư sang những
loại chứng khoán hoặc những công cụ đầu tư của các chủ thể khác có lợi hơn cho
mình, còn đối với nhà phát hành – người đi vay sẽ đưa ra các giải pháp cải tiện
tình hình kinh doanh để có thể thay đổi chỉ số chứng khoán theo chiều hướng tốt
hơn nhằm thu hút các nhà đầu tư. Điều này sẽ có những tác động tích cực tới nền
kinh tế. Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ có được khi TTTC hội tụ đủ một số điều
kiện : các chủ thể tham gia vào thị trường, đặc biệt là các tổ chức phát hành
chứng khoán phảI có tiềm lực đủ mạnh; hàng hoá trên TTTC có tính lỏng cao, có
thể dễ dàng chuyển hoá thành tiền

trong các NHTMNN cũng góp phần làm minh bạch hơn hoạt động, nhất là việc
cấp tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí trong chính các
NHTM được CPH.
Bốn là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với quá trình xử lý các yếu kém
tồn tại, lành mạnh hoá tài chính, giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn. Vừa qua, Hội
đồng Tài chính - Tiền tệ của Chính phủ đã góp ý thông qua đề án tăng thêm vốn
cho các NHTM. Theo đó, giải pháp để tăng thêm vốn cho các NHTM sẽ bao
gồm cả việc cho phép CPH một phần vốn của các doanh nghiệp nhà nước dưới
hình thức bán trái phiếu chuyển đổi cho ngân hàng để tăng vốn điều lệ. Việt Nam
được đánh giá là một trong những nước thực hiện tốt chính sách tỷ giá và kiểm
soát lạm phát, nhưng việc cải cách ngân hàng còn chậm. Yêu cầu đặt ra là cần
phải khắc phục triệt để trong năm 2004. Ngoài ra, trong quá trình tái cơ cấu
NHTM, vấn đề phát triển bền vững tài chính được Nhà nước, Ngân hàng Nhà
11
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
11
Đề án môn học
nước và NHTM đặc biệt quan tâm qua các biện pháp tăng vốn điều lệ, sáp nhập
các NHTM cổ phần, xử lý nợ tồn đọng và ngăn ngừa nợ xấu phát sinh, cải thiện
hệ thống kế toán phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, so với yêu cầu cạnh
tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian tới thì vẫn cha được như
mong muốn. Năng lực tài chính của nhiều NHTM còn yếu, nợ quá hạn cao và
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của các
NHTM đều thua kém ngân hàng trong khu vực. Nếu tính cả nợ khoanh và nợ
khó đòi thì hoạt động của nhiều ngân hàng đang ở tình trạng thua lỗ, thu nhập
thuần tuý thấp, khả năng thiết lập các quỹ dự trữ bị hạn chế và khả năng thanh
toán rất nhỏ. CPH các NHTMNN phải giải quyết, khắc phục được các yếu kém
đó.
Năm là, CPH các NHTMNN phải được tiến hành theo hướng công khai,
minh bạch theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.

Thứ nhất, đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh
của các NHTMNN, để từ đó thực hiện tốt các cam kết của các hiệp định song
phương và đa phương.
Thứ hai, đảm bảo năng lực hoạt động của bản thân ngân hàng (tỷ lệ an
toàn vốn tự có), lành mạnh hoá tài chính các NHTM và cả hệ thống ngân hàng.
Giải pháp CPH NHTMNN trước hết sẽ cho phép huy động một khối lượng vốn
rất lớn trong và ngoài nước để tăng vốn điều lệ của các ngân hàng này, đảm bảo
tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% theo thông lệ quốc tế trong khi việc trông chờ
cấp bổ sung vốn từ ngân sách nhà nước đang hết sức khó khăn. Điều đó cũng có
nghĩa là giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, không những thế còn tạo điều
kiện tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Thứ ba, thúc đẩy quá trình đổi mới, sắp xếp các DNNN gắn với xử lý dứt
điểm các khoản nợ tồn đọng.
13
Bùi Thị Minh Huệ - Lớp: NH46C
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status